SKKN Sử dụng phương pháp Bàn tay nặn bột trong quá trình dạy học phân môn Khoa học (môn Tự nhiên và Xã hội) ở bậc tiểu học - Pdf 47

PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay ở nước ta, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học diễn ra một
cách sôi động trên bình diện cả về lý luận cũng như về thực tiễn. Định hướng
đổi mới phương pháp dạy học được nghị quyết TW lần 2 Ban chấp hành Trung
ương khoá VIII khẳng định : "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào
tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của
người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học
hiện đại vào quá trình dạy học đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của
học sinh" [32, Tr 41].
Theo định hướng trên, nhiều phương pháp dạy học tiên tiến, hiện tại trên
thế giới như "phương pháp tự phát hiện tri thức", "phương pháp dạy học tích
cực", "phương pháp cùng tham gia", "phương pháp tương tác" và gần đây là
"phương pháp bàn tay nặn bột" từng bước được vận dụng vào quá trình dạy
học ở tiểu học - bậc học được coi là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân
[1, 3, 4].
Khoa học là phân môn chiếm vị trí quan trọng trong môn Tự nhiên - Xã
hội. Đây là phân môn tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học thực
nghiệm như : Vật lý, hoá học, sinh học. Vì vậy, phân môn này có nhiều thuận
lợi để vận dụng các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại vào quá trình dạy
học để bước đầu hình thành cho học sinh phương pháp học tập mang tính chất
tìm tòi nghiên cứu, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo cho họ.
Thực tiễn dạy phân môn Khoa học ở trường tiểu học cho thấy, giáo viên
còn gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng phương pháp dạy học. Các phương
pháp dạy học truyền thống vẫn chiếm ưu thế, học sinh học tập còn thụ động.
Các thí nghiệm khoa học trong bài còn mang tính chất minh họa. Giáo viên
còn tự mình trình bày, biểu diễn các thí nghiệm thực hành để minh hoạ cho
kiến thức của bài học mà ít tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động này để các

1

trong quá trình dạy học phân môn Khoa học ở nhà trường tiểu học.
5. GIẢ THIẾT KHOA HỌC : Nếu trong quá trình dạy học phân môn Khoa

học giáo viên biết sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" theo một quy trình
hợp lý, phù hợp với điều kiện cụ thể của trường tiểu học Việt Nam thì sẽ phát
huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh. Qua đó, góp phân nâng
cao chất lượng dạy học phân môn này ở bậc tiểu học.
6. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU :

3


6.1. Tìm hiểu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
6.2. Điều tra thực trạng sử dụng phương pháp dạy học phân môn Khoa
học của giáo viên ở một số trường tiểu học.
6.3. Đề xuất và thực nghiệm quy trình sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột".
7. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU :

Trên loại bày trình bày tài liệu mới, với hình thức dạy học trên lớp phân
môn Khoa học lớp 4, 5.
8. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :

Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng đồng bộ các phương pháp sau:
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết : Tổng kết các tài liệu liên quan
đến đề tài nghiên cứu.
8.2. Phương pháp thực tiễn :
* Tổng kết kinh nghiệm dạy và học ở giáo viên và học sinh.
* Phương pháp quan sát việc dạy và học của giáo viên và học sinh ở
trường thực nghiệm.
* Phương pháp điều tra Ankét trên các đối tượng của giáo viên và học

nhất định.
Trên cơ sở các khái niệm về phương pháp nói chung, người ta đã xây
dựng các khái niệm về phương pháp dạy học. Cho đến nay vẫn còn tồn tại
nhiều ý kiến, nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm phương pháp dạy học.
Iu.K. Babanxki cho rằng : "Phương pháp dạy học là cách thức tương tác
giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng và phát
triển trong quá trình dạy học". Nhưng một số tác giả lại quan niệm khác.
Theo Dverep . I.D "Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy
và trò nhằm đạt được mục đích dạy học. Hoạt động này được sử dụng trong
các nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các hoạt động độc lập của học sinh
và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của thầy giáo. [16]
I.I Lecne "Phương pháp dạy học là hệ thống những hành động có mục
đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học
sinh, đảm bảo học sinh lĩnh hội học vấn. [30]

5


Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Quang : "Phương pháp dạy học là cách thức
thực hiện của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất và lĩnh hội của thầy
nhằm làm cho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học. [28]
Ngoài ra còn có nhiều cách định nghĩa khác nhau về phương pháp dạy
học nhưng chúng tôi chưa có điều kiện đề cập đến. Khi định nghĩa, các tác giả
đã xét trên nhiều mặt khác nhau của quá trình dạy học, có tác giả chú trọng tới
nhận thức của học sinh, có tác giả lại xét về mặt điều khiển học. Tuy chưa có
định nghĩa thống nhất về phương pháp dạy học nhưng các tác giả đều thừa
nhận rằng : phương pháp dạy học có những đặc trưng sau :
* Phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh, nhằm đạt
được mục đích đề ra.
* Phản ánh sự vận động của nội dung học vấn đã được nhà trường quy

Các tác giả ở Việt Nam : Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Phó Đức Hoà đã
đưa ra hệ thống các phương pháp dạy học ở tiểu học bao gồm :
* Nhóm các phương pháp dạy học dùng lời : Thuyết trình, đàm thoại,
làm việc với sách giáo khoa.
* Nhóm các phương pháp dạy học thực hành : Luyện tập, ôn tập, làm
thí nghiệm.
* Nhóm các phương pháp kiểm tra đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
của học sinh:
Trên cơ sở các phương pháp dạy ở tiểu học, căn cứ vào đặc điểm nhận
thức, đặc điểm phân môn Khoa học Bùi Phương Nga và một số tác giả đã đưa
ra hệ thống các phương pháp dạy học phân môn Khoa học là : quan sát, hỏi
đáp, thí nghiệm, kể chuyển, điều tra, thảo luận và trò chơi.
Đối với phân môn Khoa học, các phương pháp như : Thí nghiệm, quan
sát, thảo luận là những phương pháp chiếm ưu thế, được sử dụng nhiều nhất.
Tuy đây là những phương pháp dạy học tích cực, nhưng trong quá trình sử
dụng chỉ dừng lại ở mức độ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức của từng bài. Nhìn
chung vẫn chưa phát huy hết tính tích cực chủ động trong học tập của học sinh.
Việc hình thành cho học sinh phương pháp học, lối tư duy, lập luận khoa học
chưa được quan tâm. Điều này cho chúng ta thấy giữa lý luận và thực tiễn áp
dụng phương pháp dạy học mới còn là một khoảng cách khá xa. Làm thế nào

7


để đưa phương pháp dạy học mới vào trường tiểu học một cách sâu rộng, để có
kết quả cao trong giảng dạy phân môn Khoa học là cả một vấn đề, mà giải
quyết vấn đề này liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó có việc nghiên cứu sử
dụng các phương pháp dạy học mới vào các môn học. Vì vậy, chúng tôi khẳng
định rằng : Việc nghiên cứu vấn đề sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột"
vào dạy học phân môn Khoa học, sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học

* Là phương pháp hoàn toàn mới, có mục đích làm tăng cường khả năng
độc lập tự khám phá, tìm tòi, tự nghiên cứu trong quá trình lĩnh hội tri thức và
đồng thời nâng cao khả năng tự học, phương pháp học đúng đắn cho học sinh.
* Phương pháp này phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động học
và hoạt động dạy. Thể hiện tính đúng đắn của lý luận về đặc điểm tâm sinh lý
của lứa tuổi học sinh tiểu học.
* Thể hiện sự hoạt động độc lập và hợp tác trong quá trình lĩnh hội tri
thức của người học.
* Phương pháp này góp phần tích cực vào việc đổi mới phương pháp dạy
học hiện nay ở trường tiểu học.
1.1.4. Ý nghĩa của phương pháp "Bàn tay nặn bột"
Phương pháp "Bàn tay nặn bột" là phương pháp có nhiều ưu điểm, đóng
vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh. Mở ra
nhiều triển vọng tốt đẹp nếu thực hiện lâu dài và có hệ thống đối với phương
pháp này. Cụ thể :
a) Phát triển tri giác cho học sinh.
Đặc điểm tri giác của học sinh tiểu học là khi tri giác sự vật, hiện tượng
thường chỉ chú ý đến các đặc tính bên ngoài như : kích thước, hình dáng, màu
sắc và quan tâm đến các chi tiết riêng lẻ, chưa phát triển khả năng tư duy tổng
hợp. Khi sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" học sinh sẽ quan sát sự vật,
hiện tượng một cách tỉ mỉ chính xác hơn, cùng lúc quan sát nhiều chi tiết và
bắt đầu xuất hiện nhu cầu giải thích hiện tượng. Qua sự độc lập, quan sát học
sinh tự ghi chép những gì mình quan sát được. Trình độ nhận thức của các em
được nâng cao, các em phát huy khả năng tư duy sáng tạo trong học tập. Mỗi
thí nghiệm, mỗi vấn đề khoa học các em suy nghĩ ra nhiều phương án mới,

9


đồng thời có khả năng làm ra các dụng cụ thí nghiệm khác để chứng minh cho



quanh. Sự tích cực sẽ làm cho tư duy của các em phát triển nhanh hơn. Khi học
tập theo phương pháp này, những thao tác vụng về, bỡ ngỡ, thiếu linh hoạt,
chưa có thói quen ghi các hiện tượng, các quá trình làm thí nghiệm vào vở của
mình sẽ được học sinh nhanh chóng khắc phục bằng sự nhiệt tình tham gia
công việc, thích thú sáng tạo và phát hiện ra các bài thí nghiệm mới.
Học sinh tiểu học tiếp cận với các hiện tượng, sự kiện khoa học qua sự
biến đổi các đặc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng và ngay cả các hoạt
động hằng ngày của các em như : khi học, khi ăn, khi vui chơi giải trí, …. Vì
vậy, các em tiếp thu các hiện tượng khoa học theo cách nhìn đơn giản và giải
thích các hiện tượng đó bằng ngôn ngữ đời thường. Chẳng hạn, khi các em
quan sát, nghiên cứu một sự vật hay một hiện tượng, nếu phát hiện ra một điều
mới lạ thì các em sẽ xuất hiện nhu cầu giải thích hiện tượng. Để giải thích
được hiện tượng đó cho người khác nghe, buộc các em phải sử dụng ngôn ngữ
để biểu đạt, các em phải viết, phải có sự lập luận thuyết phục bằng ngôn ngữ
khoa học, Đồng thời phải biết trao đổi và lắng nghe ý kiến của người khác và
biết bảo vệ ý kiến của mình trước tập thể, .…
Ví dụ : Quan sát các hạt vừng trên mặt trống lúc gõ trống, có em nói bằng
ngôn ngữ rất đời thường : "Hạt vừng nhảy lên, nhảy xuống", em khác lại nói
"Hạt vừng rung rinh" … Khi giải thích về sức cản không khí lên các vật rơi
như dù, tờ giấy mỏng, học sinh đã nói : "Không khí đập vào dù không chui ra
được nên cản không cho dù rơi", "vải có nhiều lỗ thủng thì không khí chui ra
làm dù rơi nhanh hơn". Đó là cách mà các em nói về các hiện tượng vật lý
bằng ngôn ngữ mà các em đã có và hiểu rõ. Các em cũng đã sử dụng các thuật
ngữ, các khái niệm khoa học đã được nghe, được nói đến để diễn tả các hiện
tượng khoa học theo cách mà các em cho là đúng, các em dùng khái niệm "nửa
vòng tròn" để mô tả hình bán cầu là hình dáng của chiếc dù khi đang rơi, còn
khi làm thí nghiệm với cái chai bịt cắt đáy, trên miệng chai lồng một quả bóng
bay chưa bơm hơi, khi chai được nhấn từ từ vào bình, nước làm ra lực cản, làm

nhiêu kiến thức khác buộc học sinh phải công nhận, không hiểu rõ được bản
chất hoặc không giải thích được : Rằng cây nến cần đến nước, rằng vật chất có
thể chuyển từ dạng rắn sang dạng lỏng, từ thể lỏng sang thể khí; rằng cá voi là
loài có vú, rằng trái đất tròn và quay quanh Mặt trời,… Như vậy, chỉ chú trọng
đến việc truyền thụ kiến thức mà quên đi một yếu tố hết sức quan trọng đó là :
Bậc học tiểu học là bậc học phương pháp, trong quá trình dạy học phải hình
thành cho học sinh một phương pháp học là điều quan trọng. Phải xác định

13


rằng "Một cái đầu khôn ngoan còn hơn là một cái đầu nhồi nhét cho đầy". Việc
"học giỏi" còn hơn là "giỏi học". Sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" sẽ
khắc phục được tình trạng trên. Phương pháp này sẽ giúp học sinh cách học,
khả năng tự học, tự nghiên cứu để thu thập thông tin trong mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội, có khả năng ứng xử mọi tình huống, độc lập suy nghĩ, giải
thích hiện tượng ở mọi góc cạnh mà không cần sự đỡ đầu của người khác,
nghĩa là các em khám phá thế giới xung quanh ở mọi lúc, mọi nơi. Khi trình
bày một vấn đề nào đó sẽ có sự lập luận rõ ràng, chặt chẽ, … Có như vậy mới
tạo được nền sư phạm lành mạnh.
e) Phương pháp "Bàn tay nặn bột" sẽ hình thành cho học sinh thế giới
quan khoa học đúng đắn.
Khi học tập theo phương pháp, này học sinh có được vốn tri thức khoa
học phong phú và đa dạng, giúp học sinh giải thích được các hiện tượng tự
nhiên, có cái nhìn đúng đắn về hiện tượng tự nhiên. Nghĩa là nhìn thế giới tự
nhiên một cách duy vật biện chứng.
Ngoài ra, việc học tập theo phương pháp "Bàn tay nặn bột" sẽ rèn luyện
cho học sinh đức tính tốt đẹp: cần cù, chịu khó, lòng kiên nhẫn, tính cẩn thận.
Như vậy, qua phân tích trên, chúng ta thấy phương pháp "Bàn tay nặn
bột" có nhiều ưu điểm đối với việc dạy phân môn Khoa học cho trẻ. Khi ở vai

9. Có viện đào tạo giáo viên, giúp giáo viên về kinh nghiệm sư phạm để
dạy học.
10. Giáo viên có thể trao đổi, học hỏi về các đề tài khoa học, vấn đề khoa
học những câu trả lời cho các câu hỏi, với các đồng nghiệp, các giảng viên và
các nhà khoa học.
1.1.6. Vai trò của giáo viên và học sinh trong việc sử dụng phương
pháp "Bàn tay nặn bột".
a. Vai trò của giáo viên
Người giáo viên ở đây không phải là truyền thụ những kiến thức dưới
dạng thuyết trình, trình bày mà là giúp học sinh xây dựng kiến thức bằng cách
cùng hành động với họ.

15


Vì vậy, giáo viên có vai trò là người hướng dẫn, lãnh đạo, tổ chức cho học
sinh hoạt động, làm việc để chiếm lĩnh tri thức khoa học. Giáo viên phải đưa ra
những tình huống, các hoạt động, quyết định hành động đi liền với những chẩn
đoán về sự tiến bộ của học sinh, thu hẹp những cái có thể và chỉ ra các thông
tin nếu thấy cần thiết. Làm cho học sinh học tập một cách tích cực trong giờ
học,… Giáo viên là người trung gian giữa khoa học và học sinh, là người đàm
phán với học sinh những thay đổi nhận thức liên quan đến những câu hỏi được
xử lý, với các thiết bị thực nghiệm thích đáng, với mô hình giải thích hợp lý,
phải đảm bảo sự đón trước và giải quyết các xung đột nhận thức hành động với
mỗi cá nhân học sinh cũng như với mỗi nhóm học sinh và cả lớp. Khi làm việc
với học sinh, giáo viên có thể đặt câu hỏi, gợi ý nhưng không được phép áp đặt
học sinh làm theo, hiểu theo ý chủ quan của mình, câu hỏi phải là câu hỏi mở.
Tuy nhiên, thế giới tự nhiên muôn hình muôn vẻ, sự tò mò ham hiểu biết
của học sinh, những thắc mắc, chúng sẽ đặt ra cho giáo viên những câu hỏi bất
ngờ, khó giải thích nổi, thì ở một mức độ nào đó không phải yêu cầu giáo viên

Dạy học theo phương pháp "Bàn tay nặn bột" không đòi hỏi phải sử dụng
đến những đồ dùng thí nghiệm phức tạp, hiện đại, đắt tiền mà đồ dùng ở đây
không quá tốn kém, đa số là các vật dụng rẻ tiền, dễ kiếm, dễ sử dụng : vài
loại hoa của cây cam, cây bưởi, cây hồng … và một con dao mỏng, các em có
thể xác định được các cơ quan sinh sản và sự thụ phấn của cây như thế nào;
một ngọn nến, một cốc thuỷ tinh và một chậu nước các em xác định được các
thành phần của không khí; một miếng đất trồng, một ống bơ, một tấm thuỷ
tinh, một ngọn lửa các em có thể xác định được các thành phần của đất; một
song nước, một bếp lửa các em có thể hình dung vòng tuần hoàn của nước
trong thiên nhiên; một loài cây nào đó được đặt trong phòng kín có lỗ để ánh
sáng lọt vào, quan sát các em có thể thấy được tính hướng dương của thực vật,
rồi que diêm, hạt vừng, con chuột, tấm ni lông, con ếch … Miễn là giáo viên
biết tận dụng và huy động mọi người cùng làm, cùng kiếm. Đặc biệt là huy
động học sinh tìm kiếm, tự làm đồ dùng thí nghiệm.
Chúng ta có thể thấy : Một cái chuồng của một gia đình nào đó bỏ đi có
thể dùng để nuôi chuột nhắt, chuột hang, chuột bạch hay chim. Một bể kính
trong ấy người ta lót một lớp sỏi nhỏ rồi một lớp đất, đóng lại bằng một tấm

17


ván, một tấm kệ cũ, có thể trở thành nơi để nuôi sâu bọ, giun đất, ốc sên mà
học sinh tìm thấy ở góc sân trường, sân vận động, trên đường đi đến trường
hay một buổi đi chơi.…
Ta cũng có thể cho các em nuôi sâu trong những đáy chai bằng nhựa bịt
bằng một miếng vải hay chất dẻo. Các em sẽ thú vị tạo ra môi trường thiên
nhiên cho những con vật mà mình nuôi và tìm cách cho chúng ăn một cách
đúng đắn.
Những dụng cụ thí nghiệm dễ kiếm, dễ làm đồng nghĩa với việc tiến hành
thao tác thí nghiệm cũng hết sức đơn giản không cần phải có sự hiểu biết kỹ

1.2. Đặc điểm của phân môn Khoa học và việc sử dụng phương pháp
"Bàn tay nặn bột" trong dạy học môn học này.
Từ năm học 1995 - 1996, môn Tự nhiên - Xã hội nói chung và phân môn
Khoa học nói riêng được đưa vào dạy đại trà ở các trường tiểu học trong toàn
quốc. Đây là phân môn có vị trí quan trọng ở bậc tiểu học. Mục tiêu của phân
môn là cung cấp những kiến thức cơ bản, ban đầu về thế giới tự nhiên, gần gũi
với đời sống hằng ngày của các em. Bao gồm các lĩnh vực: Vật lý, hoá học,
sinh học,…Một số ứng dụng thực tế nhằm giúp học sinh tiếp cận với các môn
khoa học tương ứng với các lớp trên và có vốn kiến thức để vào đời. Trên cơ
sở cung cấp hệ thống những kiến thức về khoa học tự nhiên, sẽ hình thành cho
các em phương pháp học tập các môn khoa học thực nghiệm, khám phá những
dấu hiệu của sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên, hình thành cho các em
kỹ năng quan sát, trí tưởng tượng, làm thí nghiệm, thực hành kỹ năng phán
đoán rút ra những kết luận khoa học. Qua đó, giáo dục cho các em tình yêu
thiên nhiên, đất nước và con người. Khơi dậy ở học sinh lòng say mê, ham
hiểu biết khoa học, bước đầu hình thành cho các em thế giới quan khoa học.
Biết vận dụng những kiến thức khoa học vào cuộc sống hàng ngày, giúp học
sinh nhận thức được rằng mình cũng chính là một thực thể, một bộ phận của
thế giới tự nhiên và ý thức được với chính bản thân mình.
Mục tiêu của phân môn Khoa học như vậy là phù hợp với thực tiễn dạy
học ở bậc tiểu học, đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện đại ngày nay. Đồng
thời cũng góp phần đáp ứng mục tiêu đào tạo kép của giáo dục tiểu học (vừa

19


có thể học lên lớp trên, vừa có thể ra đời hoà mình vào đời sống cộng đồng xã
hội).
Để đáp ứng mục tiêu trên, nội dung kiến thức khoa học được đưa vào
giảng dạy trong nhà trường tiểu học thuộc về các lĩnh vực chủ yếu như vật lý,

huy được vốn sống, vốn kinh nghiệm, phát triển cá tính, trí thông minh, óc phê
phán, tạo nên mối quan hệ với thế giới mà còn phù hợp với xu hướng đổi mới
phương pháp dạy học và yêu cầu đào tạo con người trong giai đoạn hiện nay.
Khi sử dụng phương pháp dạy học này sẽ khắc phục được tình trạng giáo viên
truyền thụ kiến thức một chiều, theo lối áp đặt, bắt buộc học sinh phải nhớ,
phải thuộc; sử dụng phương pháp dạy học này giáo viên trở thành người tổ
chức, lãnh đạo, định hướng, tạo điều kiện tốt ta cho các em tiếp cận với đối
tượng học tập, được tham gia, trao đổi, bàn bạc, sửa chữa để rút ra tri thức; học
sinh đóng vai trò là một chủ thể nhận thức, các em tiếp nhận nhiệm vụ học tập
thông qua việc tích cực hoạt động.
Tóm lại : Sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" vào dạy học phân môn
Khoa học thực chất là giáo viên chuyển nội dung kiến thức khoa học thành
nhiệm vụ học tập cho học sinh, tổ chức cho các em vạch kế hoạch, tự tìm tòi
khám phá huy động vốn kiến thức của bản thân, của tập thể để tìm kiếm tri
thức bằng chính việc độc lập tiến hành các thí nghiệm, thực hành khoa học,
qua đó để rút ra những kiến thức của bài học.
1.3. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học.
Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học có nhiều đặc điểm. Nhưng ở
đây chúng tôi chỉ phân tích một số đặc điểm mà đề tài chúng tôi quan tâm.
* Đặc điểm về tri giác : Tri giác của học sinh tiểu học có đặc điểm là tươi
sáng, sắc bén, "tò mò, ham hiểu biết và có tính chất trực quan" [2], [15] và
trong hoạt động của hệ thần kinh cấp cao, hệ thống tín hiệu thứ nhất chiếm ưu
thế. Tri giác của học sinh trong những năm đầu của bậc tiểu học thường gắn
với hành động, với hoạt động thực tiễn . Tri giác sự vật có nghĩa là làm một cái
gì đó với sự vật, cầm nắm, sờ mó vật ấy.
Tri giác của trẻ (đặc biệt là ở đầu bậc tiểu học) thường đượm màu sắc cảm
xúc. Trẻ quan sát trước hết những sự vật, hiện tượng rực rỡ, sinh động. Số
lượng chi tiết quan sát được còn ít, tri giác còn chung chung, mang tính chất

21

cần có tài liệu trực quan.

22


Chính từ đặc điểm tư duy nêu trên, khi thiết kế bài học có sử dụng
phương pháp "Bàn tay nặn bột" cần chú ý đến việc gắn điều trông thấy với
hoạt động thực tiễn và nội dung của bài học.
* Đặc điểm tưởng tượng : Tưởng tượng là một trong những quá trình
nhận thức quan trọng, tưởng tượng của học sinh tiểu học được hình thành và
phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em. Theo các
công trình nghiên cứu về tâm lý học, ở các lớp đầu bậc tiểu học hình ảnh của
tưởng tượng còn đơn giản chưa bền vững. Nhưng càng về các lớp cuối cấp,
hình ảnh tưởng tượng của các em càng bền vững và gần thực tế hơn, đặc biệt
lúc này các em đã bắt đầu có khả năng tưởng tượng dựa trên những tri giác đã
có từ trước và dựa trên ngôn ngữ [2, 15].
Đối với học sinh tiểu học, tình cảm chiếm vị trí đặc biệt, vì nó là khâu
trọng yếu gắn liền nhận thức với hành động của các em. Đối tượng gây xúc
cảm cho học sinh tiểu học thường là những sự vật, hiện tượng cụ thể, những
câu chuyện sinh động. Do đó, những bài giảng khô khan, khó hiểu, nặng nề về
lý luận không gây cho học sinh những cảm xúc tích cực, thậm chí làm cho các
em mệt mỏi, chán chường. Nói chung hoạt động trí tuệ của các em đượm màu
sắc xúc cảm, các em suy nghĩ bằng "hình thức", "xúc cảm", "âm thanh", các
quá trình nhận thức, hoạt động của các em đều chịu sự chi phối mạnh mẽ của
cảm xúc, và đều đượm màu cảm xúc [2, 15, 19]. Từ đặc điểm này ta thấy,
trong quá trình dạy học, có thể khơi dậy ở trẻ xúc cảm qua việc tổ chức các
hoạt động cho học sinh để các em tích cực chủ động tìm hiểu khám phá tri
thức, nâng cao hiệu quả học tập.
* Sự tò mò, hứng thú và lòng khát khao khám phá thế giới, ham hiểu
biết khoa học : Thế giới tự nhiên mang đến cho các em bao điều bí ẩn. Sự tác

viên, đã sử dụng những phương pháp dạy học mới nào, mức độ).
* Hiểu biết của giáo viên về phương pháp "Bàn tay nặn bột"
* Kết quả học tập của học sinh tiểu học
2.1. Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học của giáo viên trong
phân môn Khoa học
Bảng 1 : Các phương pháp dạy học giáo viên sử dụng trong dạy học phân
môn Khoa học
TT
1
2
3
4
5
6
7

Các phương pháp dạy học
Phương pháp quan sát
Phương pháp thí nghiệm
Phương pháp nêu vấn đề
Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp giảng giải
Phương pháp hỏi đáp
Phương pháp "Bàn tay nặn bột"
Tổng hợp

Số ý kiến
30
6
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status