chỉ đạo hiệu quả sử dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong quá trình dạy học phân môn khoa học tự nhiên - Pdf 57

PHN I: T VN
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay ở nớc ta, vấn đề đổi mới phơng pháp dạy học
diễn ra một cách sôi động trên bình diện cả về lý luận cũng
nh về thực tiễn. Định hớng đổi mới phơng pháp dạy học đợc
nghị quyết TW lần 2 Ban chấp hành Trung ơng khoá VIII khẳng
định : "Đổi mới mạnh mẽ phơng pháp giáo dục và đào tạo,
khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp t duy sáng
tạo của ngời học, từng bớc áp dụng phơng pháp tiên tiến, các phơng tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học đảm bảo thời
gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh". Thc hin theo ngh quyt
29/NQ-TW ngy 4 thỏng 1 nm 2013 V i mi cn bn, ton din giỏo dc
v o to ỏp ng yờu cu cụng nghip húa, hin i húa trong iu kin kinh
t th trng nh hng xó hi ch ngha v hi nhp Quc t ó c hi
ngh Trung ng 8 ( Khúa XI) thụng qua .
Theo định hớng trên, vic hỡnh thnh cho hc sinh mt th gii quan
khoa hc v nim say mờ khoa hc, sỏng to l mt mc tiờu quan trng ca
giỏo dc hin i khi m nn kinh t tri thc ang dn dn chim u th ti cỏc
quc gia trờn th gii. Nh chỳng ta ó bit, khụng cú phng phỏp dy hc no
l vn nng. Vic tỡm kim v vn dng cỏc phng phỏp tiờn tin vo quỏ trỡnh
dy hc cỏc mụn hc Tiu hc núi chung v mụn Khoa hc- T nhiờn xó hi
núi riờng l vn quan trng nhm hỡnh thnh cho hc sinh phng phỏp hc
tp c lp, sỏng to, qua ú nõng cao cht lng dy hc. "Bn tay nn bt" l
mt phng phỏp dy hc tớch cc, thớch hp cho vic ging dy cỏc kin thc
khoa hc t nhiờn, c bit l i vi bc Tiu hc nhiều phơng pháp dạy
học tiên tiến, hiện tại trên thế giới nh "phơng pháp tự phát hiện
tri thức", "phơng pháp dạy học tích cực", "phơng pháp cùng
tham gia", "phơng pháp tơng tác". Nhng nm gn õy S Giỏo dc &
o to H Ni ó ch o ỏp dng phng phỏp " Bàn tay nặn bột" mt
s mụn hc, từng bớc đợc vận dụng vào quá trình dạy học ở Tiểu
học - bậc học đợc coi là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc
dân.

nhiên và Xã hội ở trng tiểu học .
2. Mục đích nghiên cứu :
Tôi chọn đề tài nghiên cứu này nhằm góp phần vào việc
đổi mới phơng pháp dạy học, qua đó nhằm nâng cao chất lợng
dạy học phân môn Khoa học-T nhiờn xó hi ở trờng Tiểu học .
3. Đối tợng nghiên cứu :

- Tụi tin hnh nghiờn cu, xut cỏch s dng mt phng phỏp
dy hc mi, phng phỏp Bn tay nn bt cú nhiu u im vo dy
mụn Khoa hc- T nhiờn xó hi Tiu hc.
4. Thnh phn tham gia nghiờn cu:
4.1 Phạm vi nghiên cứu :
Trên loại bày trình tài liệu mới, Ch o sử dụng hiu qu phơng pháp "Bàn tay nặn bột" trong quá trình dạy học
2/41


phân môn Khoa học - Môn Tự nhiên và Xã hội ở trng tiểu
học".
4.2: i tng kho sỏt, thc nghim:
Giỏo viờn v hc sinh ca trng Tiu hc tụi ang cụng tỏc.
5. Phơng pháp nghiên cứu :
Khi nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng đồng bộ các phơng
pháp sau:
5.1. Phơng pháp nghiên cứu lý thuyết : Tổng kết các
tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu.
5.2. Phơng pháp thực tiễn :
* Tổng kết kinh nghiệm dạy và học ở giáo viên và học sinh.
* Phơng pháp quan sát việc dạy và học của giáo viên và học
sinh ở trờng Tiu hc .
* Phơng pháp điều tra trên các đối tợng của giáo viên và


11+12//2013

+ Phú Hiu trng lp k hoch
trin khai ni dung
PHT
* Chun b h thng cỏc mụn

- Ni dung
sinh hot
chuyờn mụn

3/41


học, bài học có thể giảng dạy
theo PPBTNB * chuyển tải ý
nghĩa lịch sử của sự phát triển
PPBTNB
* Tập huấn cho GV

4 lần/tháng

1+2//2014

Tổ chức hội thảo tại trường:
- Điều kiện cần và đủ
-Các nguyên tắc
- Các bước tiến trình


trong
trường.


soạn.
HP
9+10/2014

11+12/2014

1+2/2015

3/2015

4+5/2015

-Các khối lớp thực hiện chuyênGV các khối
đề
lớp
-Dự giờ, nhận xét, đánh giá.
HP + TCM
-Tổ chức rút kinh nghiệm, nhân
diện đại trà.
-GVCN các lớp dạy môn KhoaGVCN lớp
học- Tự nhiên xã hội áp dụng PP
“ Bàn tay nặn bột” vào một số
các tiết học.
-BGH và tổ trưởng chuyên môn
dự giờ, rút kinh nghiệm.
Hiệu phó &

thnh tỏc phong, phng phỏp lm vic khi trng thnh.
Tht vy! Đối với phân môn Khoa học- T nhiờn xó hi Tiu hc,
các phơng pháp nh: Thí nghiệm, quan sát, thảo luận là những
phơng pháp chiếm u thế, đợc sử dụng nhiều nhất. Tuy đây là
những phơng pháp dạy học tích cực, nhng trong quá trình sử
dụng chỉ dừng lại ở mức độ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức
của từng bài. Nhìn chung vẫn cha phát huy hết tính tích cực
chủ động trong học tập của học sinh. Việc hình thành cho học
sinh phơng pháp học, lối t duy, lập luận khoa học cha đợc quan
tâm. Điều này cho chúng ta thấy giữa lý luận và thực tiễn áp
dụng phơng pháp dạy học mới còn là một khoảng cách khá xa.
Làm thế nào để đa phơng pháp dạy học mới vào trờng tiểu
6/41


học một cách sâu rộng, để có kết quả cao trong giảng dạy
phân môn Khoa học là cả một vấn đề, mà giải quyết vấn đề
này liên quan đến nhiều yếu tố, trong đó có việc nghiên cứu
sử dụng các phơng pháp dạy học mới vào các môn học. Vì vậy,
tôi khẳng định rằng: Việc nghiên cứu vấn đề sử dụng phơng
pháp "Bàn tay nặn bột" vào dạy học phân môn Khoa học T
nhiờn xó hi, sẽ góp phần nâng cao chất lợng dạy học phân môn
này và góp phần tích cực vào quá trình đổi mới phơng pháp dạy
học trong nhà trờng tiểu học.
2. Thc trng :
2.1. Thun li
Hin nay, B GD-T ang thc hin i mi cn bn v ton din nn
giỏo dc, trong ú i mi phng phỏp dy hc l mt trong cỏc nhim v cp
bỏch. Cựng vi cỏc phng phỏp dy hc tớch cc khỏc ang tip tc thc hin,
thỏng 12/2011 B GD-T quyt nh thc hin ỏn "Trin khai phng phỏp

18
100
Qua bảng 1 ta thấy : Các phơng pháp có tỷ lệ giáo viên thờng hay sử dụng cao đó là : Phơng pháp hỏi đáp 100%, phơng
pháp giảng gii 77,8%, phơng pháp quan sát 55,6%. Các phơng
pháp đặc trng của dạy phân môn Khoa học - T nhiờn xó hi lại
chiếm tỷ lệ ít nh phơng pháp thí nghiệm 33,3%, phơng pháp
thảo luận nhóm 33,3%, phơng pháp nêu vấn đề 11,1%. Điều
này phản ánh thực trạng việc đổi mới phơng pháp dạy học ở
bậc tiểu học hiện nay cha đợc triển khai mạnh mẽ. Qua phỏng
vấn, trò chuyện với giáo viên có một số ngời tâm sự rằng : "Vì
chúng tôi cha nắm vững về mặt lý luận của các phơng pháp
dạy học mới," Nhng cũng không ít giáo viên nắm chắc về
mặt lý luận các phơng pháp dạy học mới nhng lại cho rằng:
"Chúng tôi ngại sử dụng, bởi vì sử dụng thì phải chuẩn bị
nhiều thứ, mất thời gian. Chúng tôi chỉ sử dụng chúng khi có
ngời dự giờ đánh giá, còn nếu không thì cứ cho học sinh đọc
sách giáo khoa rồi trình tự trả lời lần lợt các câu hỏi của mình
là đợc" và cũng có ngời lại cho rằng : "Sở dĩ chúng tôi ít sử
dụng phơng pháp thí nghiệm là vì kiến thức khoa học, chân
8/41


lý khoa học đã đợc các nhà khoa học tiến hành thí nghiệm,
nghiên cứu và đã rút ra kết luận. Chúng ta cứ cho học sinh đọc
kết luận đó cho thuộc, không cần phải tiến hành thí nghiệm
lại, làm mất thời gian và thêm phức tạp". Nh vậy, tuy hiểu đợc
cơ sở lý luận nhng việc vận dụng trên mỗi bài dạy cụ thể thì
cha đợc bao nhiêu, cha sử dụng đúng phơng pháp đặc trng
của phân môn. Nếu sử dụng thì chỉ mang tính chất hình
thức đối phó. Nh vậy, các phơng pháp dạy học tích cực còn cha

6
16
5
7
3

Tỷ lệ (%)
22,2
33,3
88,9
27,8
38,9
16,7

Nhìn vào bảng 2 thấy : Giáo viên sử dụng tranh ảnh trong
các giờ học chiếm tỷ lệ cao (88,9%). Bởi đây là đồ dùng dễ
tìm kiếm, gọn nhẹ, dễ đa đến lớp, còn những đồ dùng nh vật
thật, có tác dụng đối với giờ dạy cao lại ít chỉ chiếm ít (vật
thật : 22,2%) (thí nghiệm : 27,8%). Nh vậy, tình trạng sử dụng
đồ dùng dạy học có nhiều u điểm đang còn ít, mt s GV cũn
dạy chay, trong khi đó phân môn này rất cần đến đồ dùng dạy
học, và phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh. Chủ yếu
là theo lời thuyết trình, áp đặt, cha áp dụng một cách có hiệu
9/41


quả các phơng pháp dạy học mới để học sinh hứng thú làm việc
với đồ dùng học tập, tự tìm ra tri thức của bài học.
2.3.3. Thực trạng sử dụng các hình thức tổ chức dạy học
của giáo viên trong dạy học phân môn Khoa học- T nhiờn

thoảng
0
10
9
0
7

Không sử
dụng
0
8
4
18
5

Qua bảng 3 cho chúng ta thấy : Hình thức tổ chức dạy học
cả lớp đợc tất cả các giáo viên thờng xuyên sử dụng. Các hình
thức tổ chức dạy học khác nh : Dạy học theo nhóm, dạy học cá
nhân, dạy học hoạt động ngoại khoá ít đợc giáo viên sử dụng
hoặc không sử dụng.
Việc vận dụng các hình thức dạy học tích cực vào việc
giảng dạy phân môn Khoa học là một vấn đề cấp bách và cần
thiết rất phù hợp với phân môn này. Ngoài hình thức tổ chức
dạy học cá nhân, theo nhóm. Hình thức tổ chức dạy học ngoại
khoá, hình thức tổ chức dạy học ngoài hiện trờng cũng rất cần
thiết, bởi đây là một phân môn mà kiến thức chuyển tải đến
cho học sinh chủ yếu là từ môi trờng tự nhiên. Đây là một phân
môn có tên là khoa học, để giải quyết có một vấn đề khoa
học có hiệu quả, chất lợng cao thì không chỉ bó hẹp trong 1
tiết mà có khi kéo dài 2 - 3 tiết, trong khi đó chơng trình

đờng nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh.
* Là phơng pháp hoàn toàn mới, có mục đích làm tăng cờng khả năng độc lập tự khám phá, tìm tòi, tự nghiên cứu trong
quá trình lĩnh hội tri thức và đồng thời nâng cao khả năng tự
học, phơng pháp học đúng đắn cho học sinh.
* Phơng pháp này phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa
hoạt động học và hoạt động dạy. Thể hiện tính đúng đắn
của lý luận về đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh
tiểu học.
* Thể hiện sự hoạt động độc lập và hợp tác trong quá trình
lĩnh hội tri thức của ngời học.
* Phơng pháp này góp phần tích cực vào việc đổi mới phơng pháp dạy học hiện nay ở trờng tiểu học.
11/41


3.1.3. ý nghĩa của phơng pháp "Bàn tay nặn bột"
Phơng pháp "Bàn tay nặn bột" là phơng pháp có nhiều u
điểm, đóng vai trò to lớn trong việc hình thành và phát triển
nhân cách của học sinh. Mở ra nhiều triển vọng tốt đẹp nếu
thực hiện lâu dài và có hệ thống đối với phơng pháp này. Cụ
thể :
a) Phát triển tri giác cho học sinh.
Đặc điểm tri giác của học sinh tiểu học là khi tri giác sự
vật, hiện tợng thờng chỉ chú ý đến các đặc tính bên ngoài
nh : kích thớc, hình dáng, màu sắc và quan tâm đến các chi
tiết riêng lẻ, cha phát triển khả năng t duy tổng hợp. Khi sử dụng
phơng pháp "Bàn tay nặn bột" học sinh sẽ quan sát sự vật, hiện
tợng một cách tỉ mỉ chính xác hơn, cùng lúc quan sát nhiều chi
tiết và bắt đầu xuất hiện nhu cầu giải thích hiện tợng. Qua sự
độc lập, quan sát học sinh tự ghi chép những gì mình quan
sát đợc. Trình độ nhận thức của các em đợc nâng cao, các em

nhiệm vụ quan trọng. Điều này cũng có nghĩa, đi đôi với việc
cung cấp kiến thức, cần phải hình thành cho học sinh phơng
pháp học. Chẳng hạn, việc sử dụng các dụng cụ thí nghiệm
khéo léo chính xác, hiệu quả là điều không thể thiểu đợc
trong việc học tập các môn khoa học thực nghiệm trong dạy
học, để rèn luyện cho học sinh những kỹ năng này, tránh tình
trạng đa các em vào thế bị động, máy móc cần phải để các
em chủ động nhận thức thế giới xung quanh. Sự tích cực sẽ làm
cho t duy của các em phát triển nhanh hơn. Khi học tập theo
phơng pháp này, những thao tác vụng về, bỡ ngỡ, thiếu linh
hoạt, cha có thói quen ghi các hiện tợng, các quá trình làm thí
nghiệm vào vở của mình sẽ đợc học sinh nhanh chóng khắc
phục bằng sự nhiệt tình tham gia công việc, thích thú sáng tạo
và phát hiện ra các bài thí nghiệm mới.
Học sinh tiểu học tiếp cận với các hiện tợng, sự kiện khoa
học qua sự biến đổi các đặc tính bên ngoài của sự vật, hiện
tợng và ngay cả các hoạt động hằng ngày của các em nh : khi
học, khi ăn, khi vui chơi giải trí, . Vì vậy, các em tiếp thu các
hiện tợng khoa học theo cách nhìn đơn giản và giải thích các
hiện tợng đó bằng ngôn ngữ đời thờng. Chẳng hạn, khi các em
quan sát, nghiên cứu một sự vật hay một hiện tợng, nếu phát
hiện ra một điều mới lạ thì các em sẽ xuất hiện nhu cầu giải
thích hiện tợng. Để giải thích đợc hiện tợng đó cho ngời khác
nghe, buộc các em phải sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt, các
em phải viết, phải có sự lập luận thuyết phục bằng ngôn ngữ
khoa học, Đồng thời phải biết trao đổi và lắng nghe ý kiến
của ngời khác và biết bảo vệ ý kiến của mình trớc tập thể, .
13/41



định.
Trong quá trình học tập phơng pháp này, học sinh có một
quyển vở thực hành, lối viết, cách trình bày của học sinh rõ
ràng hơn, chính xác hơn khi ta sử dụng phơng pháp này. Nhìn
vào quyền vở thực hành ta sẽ thấy rõ sự tiến bộ của học sinh
14/41


trong cách viết nh thế nào. Ban đầu có một số em cha biết
cách ghi chép những gì mình thấy, quan sát đợc. Sau đó, khi
đợc học vài ba buổi các em đã biết cách ghi, lập luận rất có
khoa học.
d) Việc giảng dạy mụn khoa học- T nhiờn xó hi bằng phơng
pháp "Bàn tay nặn bột" sẽ hình thành cho học sinh phơng
pháp học tập tích cực.
Nh chúng ta đã biết, tình trạng việc giảng dạy hiện nay ở
nhà trờng tiểu học, ngời ta chỉ chờ đợi, chú ý đến việc nhồi
nhét kiến thức cho học sinh. Những kiến thức bùng nổ trong
thế kỷ XX phải đợc nhồi nhét trong suốt ngần ấy năm học.
Chẳng hạn, tôi chỉ đơn cử trong việc củng cố bài học cho học
sinh, những câu hỏi củng cố thờng là những câu hỏi nhắc lại
kiến thức, kiểm tra kiến thức, ít khi ngời ta chú ý đến việc hỏi
các câu hỏi nh: Làm thế nào để em biết đợc điều đó ? Làm
cách nào để em biết đợc điều đó ?
e) Phơng pháp "Bàn tay nặn bột" sẽ hình thành cho học
sinh thế giới quan khoa học đúng đắn.
Khi học tập theo phơng pháp, này học sinh có đợc vốn tri
thức khoa học phong phú và đa dạng, giúp học sinh giải thích
đợc các hiện tợng tự nhiên, có cái nhìn đúng đắn về hiện tợng
tự nhiên. Nghĩa là nhìn thế giới tự nhiên một cách duy vật biện

chộp theo ngụn t v cỏch thc ca riờng mỡnh.
Th sỏu: Mc ớch chớnh ca phng phỏp ny l hc sinh tip nhn
c cỏc khỏi nim khoa hc v k thut thc hnh. Song song ú l cng c
ngụn ng vit v núi ca cỏc em.
Th by: Ph huynh hc sinh v tt c mi ngi xung quanh cn c
khuyn khớch h tr nhng iu m hc sinh, lp hc cn thc nghim.
Th tỏm: Cỏc i tỏc khoa hc a phng cn giỳp cỏc hot ng ca lp
theo kh nng ca mỡnh.
Th chớn: Ngnh giỏo dc giỳp giỏo viờn cỏc kinh nghim v phng
phỏp ging dy.
Th mi: Giỏo viờn cn ch ng t hc, t tỡm hiu ti liu, kin thc
liờn quan; trao i vi ng nghip, cỏc nh khoa hc nõng cao kin thc.
Giỏo viờn l ngi chu trỏch nhim giỏo dc v xut nhng hot ng ca
lp mỡnh ph trỏch .
3.2 Bin phỏp 2: T chc hi tho v phng phỏp ô bn tay nn bt ằ
trong nh trng.
3.2.1. Vai trò của giáo viên và học sinh trong việc sử
dụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột".
a. Vai trò của giáo viên
Ngời giáo viên ở đây không phải là truyền thụ những kiến
thức dới dạng thuyết trình, trình bày mà là giúp học sinh xây
dựng kiến thức bằng cách cùng hành động với họ.
16/41


Vì vậy, giáo viên có vai trò là ngời hớng dẫn, lãnh đạo, tổ
chức cho học sinh hoạt động, làm việc để chiếm lĩnh tri thức
khoa học. Giáo viên phải đa ra những tình huống, các hoạt
động, quyết định hành động đi liền với những chẩn đoán về
sự tiến bộ của học sinh, thu hẹp những cái có thể và chỉ ra

mỗi nhóm có một quyển vở để tự phác hoạ, thiết kế thí
17/41


nghiệm của mình và tự rút ra kết luận, có thể diễn đạt bằng
những sơ đồ, hình vẽ hay lời văn diễn giải. Quyển vở này sẽ
đợc học sinh lu lại và học sinh sẽ tự điều chỉnh quan điểm, phơng án thực hiện khi tìm đợc câu trả lời có lý hơn. Thiết bị
để làm thí nghiệm cũng có thể do học sinh tự lựa chọn theo ý
đồ của riêng mình, của nhóm. Có thể chọn một vài thứ trong
số đồ dùng thí nghiệm có sẵn trong phòng thí nghiệm, hoặc
va li đồ dùng thí nghiệm nhng học sinh cũng có thể tự su tầm,
tự tạo thiết bị thí nghiệm từ các nguyên vật liệu có sẵn trong
đời sống. Với cách này, không nhất thiết học sinh chỉ có một
phơng án thống nhất mà có thể bằng phơng án để tìm ra kết
luận.
Nh vậy, việc học tập theo phơng pháp này đã phát huy tối
đa sự hoạt động độc lập nhận thức của học sinh tiểu học.
3.2.2. Việc sử dụng đồ dùng dạy học ở phơng pháp "Bàn
tay nặn bột".
Dạy học theo phơng pháp "Bàn tay nặn bột" không đòi hỏi
phải sử dụng đến những đồ dùng thí nghiệm phức tạp, hiện
đại, đắt tiền mà đồ dùng ở đây không quá tốn kém, đa số là
các vật dụng rẻ tiền, dễ kiếm, dễ sử dụng : vài loại hoa của
cây cam, cây bởi, cây hồng và một con dao mỏng, các em
có thể xác định đợc các cơ quan sinh sản và sự thụ phấn của
cây nh thế nào; một ngọn nến, một cốc thuỷ tinh và một chậu
nớc các em xác định đợc các thành phần của không khí; một
miếng đất trồng, một ống bơ, một tấm thuỷ tinh, một ngọn lửa
các em có thể xác định đợc các thành phần của đất; một song
nớc, một bếp lửa các em có thể hình dung vòng tuần hoàn của

sử dụng phơng pháp dạy học này giáo viên trở thành ngời tổ
chức, lãnh đạo, định hớng, tạo điều kiện tốt ta cho các em tiếp
cận với đối tợng học tập, đợc tham gia, trao đổi, bàn bạc, sửa
chữa để rút ra tri thức; học sinh đóng vai trò là một chủ thể
nhận thức, các em tiếp nhận nhiệm vụ học tập thông qua việc
tích cực hoạt động.
Tóm lại : Sử dụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột" vào dạy
học phân môn Khoa học- T nhiờn xó hi thực chất là giáo viên
chuyển nội dung kiến thức khoa học thành nhiệm vụ học tập
cho học sinh, tổ chức cho các em vạch kế hoạch, tự tìm tòi
khám phá huy động vốn kiến thức của bản thân, của tập thể
để tìm kiếm tri thức bằng chính việc độc lập tiến hành các
thí nghiệm, thực hành khoa học, qua đó để rút ra những kiến
thức của bài học.
3.2.4. Các nguyên tắc xây dựng quy trình

19/41


Sử dụng phơng pháp "Bàn tay nặn bột" không chỉ đề cao
tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh mà còn đề
cao đến vai trò tổ chức, lãnh đạo của giáo viên.
Để sử dụng phơng pháp dạy học này một cách dễ dàng và
có hiệu quả, tôi đã đa ra một số nguyên tắc để xây dựng
quy trình nh sau:
* Nguyên tắc đa dạng : Nghiên cứu thực hiện bởi học
sinh có thể dựa trên những phơng pháp khác nhau ngay trong
cùng một giờ học : Thực nghiệm trực tiếp, thực hiện với các vật
liệu (xây dựng trực tiếp nghiên cứu một giải pháp kỹ thuật),
quan sát trực tiếp thông qua một thiết bị, nghiên cứu tài liệu,


Giáo viên
sinh
Chuẩn bị bài dạy

Nêu lên tình
huống
có vấn đề

Các bớc tiến hành

Bớc 1
Chuẩn bị

Bớc 2
Khởi động tình
huống

Tổ chức cho học
sinh đa ra giả
thuyết và kiểm tra
giả thuyết

Bớc 3
Nêu giả thuyết và
kiểm tra giả
thuyết

Tổ chức cho học
sinh làm thí

kết quả
Trao đổi để tìm ra
kết quả đúng
Sửa chữa để diễn
đạt biểu tợng mới và

Giúp học sinh chốt
lại kiến thức bài
học

Bớc 6
Kết luận

Bớc 7
21/41
Đánh giá

Hoàn thành kiến thức
bài học : đầy đủ,
chính xác


Nhận thức rõ kiến
thức, khả năng và sự
tiến bộ của mình

Tổ chức cho học
sinh
tự đánh giá về


khoa học là một việc làm rất quan trọng và đặc biệt trong
giảng dạy khoa học cho học sinh tiểu học lại càng quan trọng
22/41


hơn, là một trong những yếu tố góp phần không nhỏ vào sự
thành công của bài dạy.
* Bớc 3 : Đa ra các giả thuyết và kiểm tra giả thuyết.
- Giáo viên : Khi học sinh hình thành đợc biểu tợng ban
đầu, giáo viên tổ chức cho học sinh tiến hành đa ra các giả
thuyết khoa học và cũng cơ sở để học sinh vạch kế hoạch thực
nghiệm.
Nh vậy, việc đa ra các giả thuyết khoa học cũng là việc đa ra các nhận xét ban đầu, cùng một vấn đề khoa học nhng có
thể có nhiều cách hiểu khác nhau, cùng một quan niệm nhng lại
có nhiều phơng án giải quyết khác nhau. Trên cơ sở đó, giáo
viên tổ chức cho học sinh tiến hành vạch kế hoạch, thực hiện
làm thí nghiệm để chứng minh, để kiểm tra cho giả thuyết
của mình đa ra.
* Bớc 4 : Tiến hành thc nghim.
Đây là một trong những bớc quan trọng của việc dạy học
theo phơng pháp "Bàn tay nặn bột" cho nên giáo viên phải biết
tổ chức cho học sinh tiến hành làm thí nghiệm một cách sinh
động có hiệu quả, có sức hấp dẫn và cuốn hút đa học sinh
phát huy khả năng độc lập hoạt động để chiếm lĩnh tri thức
khoa học. Sau khi tổ chức cho học sinh hoạt động ở bớc 3 đồng
thời với việc các em kiểm tra giả thiết là tiến hành thí nghiệm.
Tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm thờng tổ chức theo
nhóm hoặc từng cá nhân học sinh. Tiến hành thí nghiệm thờng trải qua các bớc sau : Vạch kế hoạch thí nghiệm (đa ra phơng án thí nghiệm, phân công công việc, chuẩn bị đồ dùng
thí nghiệm), tiến hành thí nghiệm và ghi chép, và rút ra kết
luận.

mới, có nhiều u điểm. Tuy nhiên, để tổ chức tốt cho học sinh
học tập theo phơng pháp này trong phân môn Khoa học- T
nhiờn xó hi, phát huy tối đa tính u việt của phơng pháp, cần
phải lu ý một số vấn đề sau :
- Về phía giáo viên :
+ Giáo viên là ngời giữ vai trò quyết định trong việc nâng
cao chất lợng và hiệu quả dạy học. Vì vậy, mỗi giáo viên dạy học
phân môn Khoa học phải luôn luôn nghiên cứu về các lĩnh vực
khoa học có liên quan đến môn học. Đồng thời cần nắm vững
lý luận dạy học phân môn này, lý luận dạy học theo phơng
pháp "Bàn tay nặn bột", rèn luyện cho mình kỹ năng tổ chức
hớng dẫn cho học sinh, nhất là kỹ năng tổ chức cho học sinh
hoạt động để họ tự tìm tòi khám phá tri thức khoa học.
+ Phơng pháp vừa là kỹ thuật, đồng thời là nghệ thuật,
đòi hỏi ở ngời giáo viên phải có năng lực s phạm nhất định. Vì
vậy, giáo viên phải biết vận dụng chúng một cách linh hoạt, sáng
tạo. Nh phải biết vận dụng tuỳ vào nội dung của từng bài, từng
24/41


tình huống cụ thể, Đồng thời khi sử dụng phơng pháp này
trong một giờ dạy khoa học, nhiều tình huống bất ngờ do quá
trình tìm tòi của học sinh sinh ra, vì vậy, giáo viên phải ứng
xử tốt, khéo léo, vững vàng trớc học sinh.
+ Trong bài học, nếu sử dụng phơng pháp "Bàn tay nặn
bột", giáo viên phải chuẩn bị chu đáo kế hoạch dạy học, dự
kiến các bớc tiến hành, những câu hỏi tự phát, các phơng án
mà học sinh có thể đặt ra trong giờ học, chuẩn bị đồ dùng dạy
học đầy đủ và đảm bảo. Vì vậy, nếu thiếu những vấn đề
trên thì dẫn đến giờ học không hiệu quả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status