Com ap dung tap quan quoc te trong viec xet xu tranh chap hop dong thuong mai co yeu to nuoc ngoai - Pdf 47

Áp dụng tập quán quốc tế trong việc xét xử
tranh chấp hợp đồng thương mại có yếu tố
nước ngoài

Tiến sĩ Luật học Đỗ Văn Đại
Thừa nhận tập quán quốc tế
Với sự mở cửa của Việt Nam, Tòa án nước ta còn có thể phải giải quyết nhiều quan hệ hợp
đồng có yếu tố nước ngoài và vấn đề áp dụng tập quán có thể xảy ra. Bản án mà chúng ta
bình luận sau đây là một ví dụ.
Theo Bộ luật dân sự, "trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ
luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước
quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa
các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế".

Bản án số 02/2005/KT-ST ngày 22-8-2005
của Tòa án nhân dân tỉnh KH
Nhận xét
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 01-8-2005, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH đã có Công văn số
800/VLS-PS ngày 26-7-2005 thông báo cho Tòa án biết Viện kiểm sát không tham gia phiên
tòa xét xử. Do đó, việc đại diện Viện kiểm sát vắng mặt tại phiên tòa không phải là lý do để
hoãn phiên tòa.
Quá trình thụ lý vụ án bị đơn là Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Thủy sản NT đã nhiều lần
yêu cầu Tòa án tiến hành giám định lô hàng đã nhập. Tòa án nhân dân tỉnh KH đã trực tiếp đi
vào BD ngày 13-11-2003 để điều tra tại chỗ, đồng thời ủy thác cho Tòa án nhân dân tỉnh BD
tiến hành điều tra, xác minh nhưng không có kết quả vì chính bị đơn cũng không chỉ được
địa điểm lô hàng đang cất giữ. Theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, nghĩa vụ chứng minh
là của đương sự. Tòa án nhân dân tỉnh KH đã làm hết khả năng có thể nhưng không có kết
quả nên không thể hoãn phiên tòa theo yêu cầu của bị đơn được.
Theo Công văn số 932/CV-KT ngày 16-4-2005 của Chánh Tòa kinh tế Tòa án nhân dân TP thì
Tòa án có thụ lý vụ án “Tranh chấp Hợp đồng ngoại thương số 04/95 SPNT-NL”, trong vụ án
này Công ty cổ phần V và Ngân hàng T - Chi nhánh NT (VCBNT) không tham gia vụ kiện với

hủy bỏ khi có sự đồng ý của cả bốn bên: ngân hàng phát hành hối phiếu, ngân hàng bảo
lãnh, người trả tiền và người hưởng tiền. Ngày 3-8-1995, ngân hàng phát hành là Ngân hàng
KEB tại Manila đã phát hành hối phiếu trị giá 1.250.000 USD gửi cho CVBNT kèm theo bộ
chứng từ theo quy định. VCBNT đã chuyển hối phiếu và toàn bộ chứng từ cho bên mua hàng
là Công ty NT xem xét, đối chiếu. Ngày 14-8-1995, Giám đốc Công ty NT đã ký nhận vào sau
hối phiếu. Việc ký xác nhận vào hối phiếu trên có nghĩa là Công ty NT chấp nhận thanh toán
số tiền 1.250.000 USD cho KEB. Sau khi Giám đốc Công ty NT ký nhận hối phiếu, VCB NT đã
báo cho KEB là Công ty NT đã nhận nợ. Là một giám đốc Công ty xuất nhập khẩu, ông Phạm
Ngọc M phải nhận thức được ý nghĩa của việc ký vào hậu hối phiếu và phải biết rằng đây là
loại L/C không hủy ngang, nhưng ngày 16-4-1996, Công ty NT lại tự ý trả lại hàng cho SY và
ngày 17-4-1996 Công ty NT lại tự ý thỏa thuận hủy L/C với Công ty SY mà không hề xin ý
kiến hoặc báo cho VCB NT biết. Như vậy, việc trả lại hàng cho bên bán, hủy L/C là do Công
ty NT tự thực hiện, nên Công ty NT phải gánh chịu trách nhiệm về khoản tiền mà đối tác
nước ngoài đã chiếm dụng.
Công ty NT cho rằng, ngày 24-4-1996 công ty có báo cho VCB NT biết việc Công ty NT đã
hủy L/C và ông Phó giám đốc VCB NT đã đồng ý cho hủy nên Công ty NT không có trách
nhiệm thanh toán tiền lại cho VCB NT. Theo UCP 500, mặc dù VCP NT có đồng ý hủy L/C đi
chăng nữa thì L/C không hủy ngang cũng không được hủy khi chưa có sự đồng ý của Ngân
hàng phát hành (KEB). Do đó không thể cho rằng việc VCB NT đồng ý cho hủy L/C đồng
nghĩa với việc chấm dứt nghĩa vụ thanh toán của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Thủy sản
NT.
Trong vụ án này, Công ty V là Công ty mua lại hàng của Seaprodex NT (Công ty cổ phần xuất
nhập khẩu Thủy sản NT). Quan hệ này giữa Seaprodex NT và Công ty V là quan hệ nội
thương không ảnh hưởng đến L/C đã mở. Sau khi mọi việc đổ bể, VCBNT đã nỗ lực tìm mọi
cách để thu hồi vốn nên ngày 04-02-1999 đã có cuộc họp giữa Seaprodex NT, VCBNT và TV
để bàn về trả nợ. Tại cuộc họp, Công ty TV đồng ý nhận nợ kèm theo một số điều kiện mà


VCB NT không thể chấp nhận được. Việc Công ty TV đồng ý nhận nợ là sự tự nguyện chứ
không thể buộc được vì quá trình mở L/C cũng như trả lại hàng hóa cho SY chỉ một mình

sự năm 1995, tập quán quốc tế có thể là tập quán quốc tế về chọn luật áp dụng. Cụ thể,
theo Điều 4 Nghị định số 60/CP ngày 06-6-1997 hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật
dân sự năm 1995 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì "trong trường hợp Bộ luật dân
sự Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia không quy định, hoặc hợp đồng dân sự không
có thỏa thuận về pháp luật áp dụng đối với quan hệ có yếu tố nước ngoài, thì áp dụng tập
quán quốc tế về chọn luật áp dụng". Khi phân tích Điều trên, có ý kiến nhận xét: "như vậy,
thông qua quy định này, Nghị định 60/CP đã quy định thêm một trường hợp mà pháp luật
nước ngoài có thể được áp dụng đối với quan hệ có yếu tố nước ngoài so với quy định của
Điều 827 Bộ luật dân sự"[1].


Phần trình bày trên cho thấy, theo Nghị định số 60, chúng ta có thể áp dụng "tập quán quốc
tế về chọn luật áp dụng". Đây là một điểm mới trong tư pháp quốc tế. Có quan điểm cho
rằng nên "luật hóa" nội dung quy định này[2]. Như vậy, theo Nghị định 60/CP, chúng ta có
thể áp dụng tập quán quốc tế về chọn luật áp dụng. Qua nghiên cứu, chúng tôi chưa thấy
tồn tại một tập quán quốc tế về chọn luật áp dụng[3]. Đồng thời, kiến nghị luật hóa quy
phạm của Nghị định số 60 nhưng cũng không đưa ra được một ví dụ nào về loại tập quán
này. Ngày nay Nghị định 60/CP được thay thế bởi Nghị định 138/2006/NĐ-CP ngày 15-112006 và trong Nghị định mới này không thấy tồn tại quy định tương tự. Thiết nghĩ việc loại
bỏ quy định trên là hợp lý và không nên nhắc lại quy phạm đó trong một đạo Luật như kiến
nghị trên. Bởi như đã nói ở trên, chúng tôi không thấy tồn tại trong thực tế loại tập quán này
và việc quy định như Nghị định 60/CP dường như là kết quả của việc soạn thảo văn bản chỉ
có "lý luận" nhưng thiếu kiểm nghiệm "thực tiễn".
Trong thực tế, không hiếm trường hợp Tòa án Việt Nam có áp dụng tập quán, thông lệ quốc
tế thực chất khi giải quyết vụ việc có yếu tố nước ngoài. Vụ tranh chấp đang nghiên cứu là
một ví dụ.
2. Tập quán quốc tế thực chất.
Theo Tòa án tỉnh K. "thư tín dụng (L/C) số C075 được mở là L/C không hủy ngang. Theo quy
định quốc tế về thực hiện thư tín dụng tại điểm d Điều 9 UCP 500 thì L/C không hủy ngang
chỉ được sửa đổi hoặc hủy bỏ khi có sự đồng ý của cả bốn bên". Như vậy, Tòa án đã áp dụng

2003, 396, số 15, tr. 467, bình luận Jean STOUFFLET.
[6]. Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ: Tư pháp quốc tế Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia thành
phố Hồ Chí Minh, 2006, số 13, tr. 25.
[7]. Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17-9-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao. Bản nguyên tắc UCP nói trên thỏa mãn hai điều kiện này. Thứ nhất, đó là những
nguyên tắc lặp đi lặp lại trong thực tế; Thứ hai, được Phòng Thương mại quốc tế Pari thừa
nhận. Hiện nay một số học giả cho rằng Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại
quốc tế là một loại tập quán quốc tế. Khẳng định như vậy dường như là quá sớm. Bởi đây
không phải là những nguyên tắc được hình thành từ thực tiễn và được lặp đi, lặp lại mà là
những quy phạm do một tổ chức phi chính phủ thiết lập sau khi có thương lượng của các
trường phái luật khác nhau. Thiết nghĩ, Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng cũng tương tự
như vậy. Hiện nay chưa thể coi đó là các tập quán quốc tế.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status