Bài tiểu luận
Môn: Nghi thức Nhà nước
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
A. PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................................1
1. Lý do chọn vấn đề...........................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu........................................................................................1
3. Đối tượng nghiên cứu.....................................................................................1
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề..............................................................................1
5. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................2
6. Bố cục của tiểu luận........................................................................................2
B. PHẦN NỘI DUNG..............................................................................................3
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ................................3
1.1. Khái niệm văn hóa công sở..........................................................................3
1.1.1. Khái niệm văn hóa....................................................................................3
1.1.2. Khái niệm công sở....................................................................................4
1.1.3. Khái niệm văn hóa công sở.......................................................................4
1.2. Các yếu tố của văn hóa công sở...................................................................5
1.3. Sự cần thiết của việc thực hiện quy chế văn hoá công sở tại các cơ quan
hành chính nhà nước...........................................................................................7
CHƯƠNG II. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI VÀ THỰC HIỆN CÁC
QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI MỘT SỐ CƠ
QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.....................................................................9
2.1. Cơ quan hành chính nhà nước......................................................................9
2.1.1. Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước..................................................9
2.1.2. Đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước.............................................9
2.2. Quá trình triển khai và tổ chức thực hiện quy chế văn hoá công sở tại một
số cơ quan hành chính nhà nước.......................................................................10
2.3. Những kết quả đã đạt được của việc thực hiện quy chế văn hóa công sở tại
Bàn Thị Mai
Lớp: Quản trị Văn phòng K1B
Bài tiểu luận
Môn: Nghi thức Nhà nước
DANH MỤC VIẾT TẮT
CB CCVC
CQHCNN
CCVC
VHCS
Bàn Thị Mai
Cán bộ công chức viên chức
Cơ quan hành chính nhà nước
Công chức viên chức
Văn hóa công sở
Lớp: Quản trị Văn phòng K1B
Bài tiểu luận
Môn: Nghi thức Nhà nước
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Bàn Thị Mai
1Lớp: Quản trị Văn phòng K1B
Bài tiểu luận
Môn: Nghi thức Nhà nước
- Võ Nguyên Giáp, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hoá Việt
Nam”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1998.
- Nguyễn Trọng Điều, Đinh Văn Mậu, “Giao tiếp ứng xử hành chính”, NXB
Công an nhân dân, năm 2002.
5. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh
và khảo sát thực tế trong quá trình giải quyết những vấn đề đặt ra của tiểu luận.
6. Bố cục của tiểu luận
Bố cục gồm các phần như sau:
Chương I. Cơ sở lý luận về văn hóa công sở
Chương II. Đánh giá về tình hình triển khai và thực hiện các quy định của
Nhà nước về văn hóa công sở tại một số cơ quan hành chính nhà nước
Chương III. Kiến nghị và giải pháp nâng cao văn hóa công sở trong cơ quan
hành chính nhà nước.
Bàn Thị Mai
2Lớp: Quản trị Văn phòng K1B
Bài tiểu luận
(ví dụ: Sống có văn hoá);
Năm là, nền văn hoá của một thời kỳ lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở
tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau (ví dụ: Văn
Bàn Thị Mai
3Lớp: Quản trị Văn phòng K1B
Bài tiểu luận
Môn: Nghi thức Nhà nước
hoá Đông Sơn).
Xuất phát từ cách tiếp cận và các cơ sở lý luận nêu trên có thể hiểu khái
niệm văn hoá như sau: Văn hoá là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo, tích luỹ, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong hoạt
động sản xuất, nếp suy nghĩ, cách sống và sự tương tác giữa con người với
môi trường tự nhiên và xã hội. Văn hoá có ý nghĩa khác nhau đối với các dân tộc
khác nhau, bởi vì khái niệm văn hoá bao gồm những chuẩn mức, giá trị, tập
quán.v.v...
1.1.2. Khái niệm công sở
Công sở là một tổ chức đặt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước để tiến
hành một công việc chuyên ngành của nhà nước. Công sở là một tổ chức thực hiện
cơ chế điều hành, kiểm soát công việc hành chính, là nơi soạn thảo văn bản để thực
hiện công vụ, đảm bảo thông tin cho hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, nơi
phối hợp hoạt động thực hiện một nhiệm vụ được nhà nước giao. Là nơi tiếp nhận
yêu cầu, đề nghị, khiếu nại của công dân. Do đó, công sở là một bộ phận hợp thành
tất yếu của thiết chế bộ máy quản lý nhà nước.
Là tổ chức của hệ thống bộ máy nhà nước hay tổ chức công ích được nhà
nước công nhận, bao gồm cán bộ, công chức được tuyển, bổ nhiệm theo quy chế
a) Hệ thống các giá trị
Hệ thống các giá trị trong công sở tạo nên niềm tin, xác định động cơ, thái
độ làm việc của các thành viên, tạo nên bầu không khí, môi trường trong tổ chức.
Trong xu hướng chuyển từ nền hành chính “cai trị” sang nền hành chính “phục vụ”
hiện nay ở nhà nước Việt Nam dân chủ, nhà nước “của dân, do dân và vì dân”, cán
bộ công chức là công bộc của dân và công dân chính là ” khách hàng” của nhà
nước. Các giá trị, định hướng hành vi của cán bộ công chức trong công sở được thể
hiện ở việc xây dựng và thực hiện theo đúng các khẩu hiệu, phương châm hành
động, mục tiêu của tổ chức. Ví dụ khẩu hiêu “4 không” trong hoạt động công vụ
(không chậm trễ tồn đọng, không cứng nhắc quan liêu, không sách nhiễu phiền hà,
không tiêu cực tham nhũng), ở Đà Nẵng: “đúng luật, công khai, đảm bảo, nhanh
chóng”,.... Những khẩu hiệu này là định hướng, kim chỉ nam khi giải quyết các thủ
tục hành chính cho công dân, tổ chức. Có thể xem đây là công cụ rất tốt cho việc
thể hiện sự thống nhất ý chí và hành động trong công sở, đặc biệt là thông qua sự
tự ý thức của mỗi thành viên, đồng thời có thể tạo nét văn hoá riêng của công sở ở
mỗi địa phương.
b) Đạo đức của cán bộ công chức
Đây là phạm trù phản ánh các quan hệ giữa con người trong các hoạt động
công vụ. Đạo đức cán bộ công chức được đánh giá qua hành vi, thái độ lối sống,
phong cách làm việc của cán bộ công chức, thể hiện trong mối quan hệ giữa cán bộ
công chức với công dân, giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các đồng nghiệp với nhau.
Bàn Thị Mai
5Lớp: Quản trị Văn phòng K1B
Bài tiểu luận
Môn: Nghi thức Nhà nước
Bàn Thị Mai
6Lớp: Quản trị Văn phòng K1B
Bài tiểu luận
Môn: Nghi thức Nhà nước
với việc tìm kiếm và áp dụng phương pháp, cách thức quản lý trong cơ quan, áp
dụng các phong cách tổ chức điều hành nhằm đem lại hiệu quả cao nhất, loại bỏ
những điều kiện lao động, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động lạc hậu, thiếu
hiệu quả. Đồng thời, đặc trưng VHCS còn thể hiện ở việc thực hiện chúng trở
thành thói quen, được mọi thành viên trong cơ quan thực hiện một cách tự giác,
nhất quán. Xây dựng văn hoá tổ chức là xây dựng một nề nếp, phương thức làm
việc có kỷ cương, dân chủ, thống nhất, đồng bộ, khoa học, chủ động, sáng tạo.
Biểu hiện khác của văn hoá tổ chức có thể thấy trong việc chú trọng đến việc đề ra
các quy chế, quy định, nội quy hoạt động của cơ quan. Đây là một trong những cơ
sở tạo nên trật tự, nề nếp, văn minh, văn hoá hành chính trong hoạt động quản lý
điều hành.
1.3. Sự cần thiết của việc thực hiện quy chế văn hoá công sở tại các cơ
quan hành chính nhà nước
Thực hiện quy chế văn hoá công sở là một hoạt động có mục đích nhằm tạo
ra những thương hiệu và phong cách riêng để hướng tới những giá trị văn hoá tốt
đẹp nhất. Theo đó, vai trò của thực hiện quy chế văn hoá công sở tại các CQHCNN
có ý nghĩa quan trọng đối với việc thiết lập nền hành chính chuyên nghiệp, hiện
đại. Cụ thể, có những vai trò sau:
- Cụ thể hoá mục tiêu, phương hướng hoạt động của cơ quan, tổ chức trên cơ
sở đã xác định để mọi CBCCVC phải thực hiện.
- Tạo ra một trật tự, khoa học hay tính thống nhất cao của cơ quan, tổ chức
công sở, qua đó ta có thể nhận biết được cơ quan công sở đó mang đặc điểm văn
hoá quyền lực hay văn hoá vai trò, từ đó hình thành nên văn hoá công sở.
- Văn hoá công sở phải là nơi biểu hiện tập trung của văn hoá - xã hội, của
nhà nước dân chủ. Theo đó, văn hoá công sở cùng với trí tuệ sẽ là cội nguồn sáng
tạo và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu sự nghiệp đổi mới, làm tốt vai trò người phục vụ
nhân dân trong xã hội văn minh và hiện đại. Dù sự phồn vinh trong xã hội có tăng,
dù thế giới vật chất có đến mức nào thì đạo đức, trí tuệ, nhân cách người CBCCVC
không thể trở thành phương tiện bị thao túng và khuất phục. Vì vậy, văn hoá công
sở nếu thực hiện tốt sẽ là cơ sở vững chắc cho sự phát triển đất nước, phản ánh
đúng bản chất tốt đẹp của nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Bàn Thị Mai
8Lớp: Quản trị Văn phòng K1B
Bài tiểu luận
Môn: Nghi thức Nhà nước
CHƯƠNG II
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI VÀ THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH
CỦA NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI MỘT SỐ CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
2.1. Cơ quan hành chính nhà nước
2.1.1. Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước
Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước,
trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có
phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành – điều hành, có cơ cấu tổ
chức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định
phương ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính và văn bản đó có hiệu
lực bắt buộc đối với các đối tượng có liên quan; cơ quan hành chính nhà nước có
quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với các đối tượng chịu sự tác động,
quản lý của cơ quan hành chính nhà nước.
2.2. Quá trình triển khai và tổ chức thực hiện quy chế văn hoá công sở
tại một số cơ quan hành chính nhà nước
Trong những năm vừa qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật được
nhà nước ta xác định là yêu cầu tất yếu của sự nghiệp đổi mới, do vậy việc xây
dựng, sửa đổi, bổ sung luật đã triển khai và tổ chức thực hiện rất tốt nhằm hướng
tới luật hoá để điều chính các mối quan hệ trong đời sống xã hội. Bởi thế, Quy chế
văn hoá công sở tại CQHCNN do Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo quyết
định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007, có hiệu lực từ ngày 05
tháng 9 năm 2007 là một quyết định phù hợp tiến trình phát triển của xã hội, xây
dựng một nền hành chính công khai, dân chủ, trong sạch, chuyên nghiệp, hiện đại
hoá, hoạt động có hiệu quả, hiệu lực theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ CBCC có phẩm chất
tốt và đủ năng lực thi hành công vụ, tận tụy trong công việc đáp ứng yêu cầu của
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước và phục vụ nhân dân.
Sau khi quy chế ban hành và có hiệu lực thì hầu hết các cơ quan từ trung
ương đến địa phương đã tổ chức học tập quán triệt đúng tinh thần của quy chế,
đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế đã xây dựng quy chế cho phù hợp với cơ
quan, đơn vị với nhiều hình thức tuyên truyền phong phú, đa dạng. Tiêu biểu cho
việc thực hiện tốt quy chế văn hoá công sở tại CQHCNN như:
Công Đoàn viên chức Việt Nam là công đoàn ngành trực thuộc Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam. Do thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của văn hoá
công sở đối với công cuộc cải cách hành chính và sự hoạt động của các cơ quan
trong xu thế hội nhập quốc tế, nên Công đoàn Viên chức Việt Nam đã xây dựng
chương trình, kế hoạch cụ thể và tổ chức triển khai học tập, thực hiện quy chế văn
hoá công sở cho tất cả các công đoàn viên chức của cả nước. Với ý nghĩa xây dựng
Bàn Thị Mai
Bàn Thị Mai
11Lớp: Quản trị Văn phòng K1B
Bài tiểu luận
Môn: Nghi thức Nhà nước
Cán bộ Ủy ban nhân dân thành phố Hải phòng đeo thẻ khi làm việc
Tỉnh Vĩnh Phúc, Ban Thường vụ Công Đoàn Viên chức tỉnh tham mưu cho
Đảng uỷ và chỉ đạo các công đoàn cơ sở trong khối thực hiện quy chế gắn với
phong trào thi đua xây dựng cơ quan văn hoá ngày làm việc 8 giờ có chất lượng,
hiệu quả đã đem lại kết quả tích cực. Đến nay đã có 93,5% công đoàn cơ sở tổ
chức đạt danh hiệu vững mạnh, trong đó có 56,5% công đoàn cơ sở đạt danh hiệu
vững mạnh xuất sắc; 68% cán bộ, đoàn viên công đoàn đạt danh hiệu lao động
giỏi, lao động sáng tạo các cấp.
Tuy nhiên, thực tế vẫn còn những ý kiến không hài lòng của người dân,
doanh nghiệp, tổ chức đối với việc làm thiếu khách quan, chưa minh bạch, công
tâm của một bộ phận cán bộ công chức ở các cơ quan nhà nước, nhất là liên quan
đến các vấn đề nhạy cảm như giải phóng mặt bằng, đất đai, đền bù, giải tỏa.
Nguyên nhân là do một số cán bộ, công chức lợi dụng nhiệm vụ được giao đã tìm
cách gây khó khăn cho người dân để trục lợi. Từ đó làm nảy sinh tình trạng khiếu
kiện kéo dài, ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật. Vì vậy, xây dựng và
triển khai thực hiện mạnh mẽ văn hóa công sở đã trở thành một yêu cầu bức thiết
hơn bao giờ hết.
2.3. Những kết quả đã đạt được của việc thực hiện quy chế văn hóa công
sở tại một số cơ quan hành chính nhà nước
Quy chế văn hoá công sở tại CQHCNN ban hành kèm theo Quyết định số
qua các công sở đã thực hiện tốt quy chế nên trang phục, lễ phục của CBCCVC đã
có sự chuyển biến và thống nhất rõ rệt, nhiều cơ quan đã triển khai thực hiện mặc
đồng phục.
Bàn Thị Mai
13Lớp: Quản trị Văn phòng K1B
Bài tiểu luận
Môn: Nghi thức Nhà nước
Thực hiện văn hóa đồng phục tại Sở Tài chính tỉnh Hòa Bình
- Về đeo thẻ CBCCVC. Quy chế quy định CBCCVC trong khi làm nhiệm vụ
đều phải đeo thẻ, Thẻ CBCCVC phải có tên cơ quan, ảnh, họ và tên, chức danh, số
hiệu của CBCCVC. Đeo thẻ công chức - một cách thể hiện tác phong làm việc của
người công chức, viên chức nhà nước và là nếp sống văn hoá công sở.
Thời gian qua nhiều cơ quan từ trung ương đến địa phương đã ban hành
nhiều văn bản và chi ra khoản kinh phí khá lớn cho việc in ấn và cấp phát thẻ cho
công chức. Do vậy đã có sự chuyển biến tích cực, tạo ra nền nếp, thói quen đeo thẻ
khi thực hiện nhiệm vụ của công chức.
- Về đạo đức cán bộ, công chức nhà nước: Trước hết, cần khẳng định đại bộ
phận đội ngũ cán bộ, công chức của chúng ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thử
thách, cố gắng thực hiện và phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, giữ vững đạo đức,
phẩm chất cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, chấp
hành sự phân công của tổ chức, lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó với nhân dân.
Mặc dù gặp nhiều khó khăn và chịu tác động phức tạp trong điều kiện chuyển đổi
kinh tế - xã hội, nhưng đội ngũ cán bộ, công chức đã góp phần đóng vai trò quyết
định những thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước.
môi trường làm việc của các đồng nghiệp xung quanh; một vấn đề nữa đã chấn
chỉnh là đang thực hiện nhiệm vụ lại điện thoại nói chuyện riêng, để người dân đến
liên hệ công tác phải trở thành những thính giả bất đắc dĩ nghe những câu chuyện
không liên quan đến công việc. Một số cơ quan đã có quy chế làm việc và khoán
sử dụng điện thoại cố định hoặc ngăn chặn các cuộc gọi ngoại tỉnh.
Bài trí khuôn viên công sở đã được quán triệt đến các cơ quan và nghiêm túc
thực hiện tạo ra không gian làm việc khang trang, sạnh đẹp. Các công sở đã bố trí
khu vực để phương tiện giao thông và không thu phí gửi giao thông khi khách đến
liên hệ công tác. Một số công sở đã có sơ đồ cơ quan, biển chỉ dẫn; nhất là đối với
các cơ quan thường xuyên tiếp dân đã cử cán bộ hướng dẫn dân làm thủ tục.
Bên cạnh đó, tác phong làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức các cấp đã
Bàn Thị Mai
15Lớp: Quản trị Văn phòng K1B
Bài tiểu luận
Môn: Nghi thức Nhà nước
có chuyển biến tích cực, theo hướng ngày càng gần dân, tôn trọng, cởi mở hơn,
tình trạng hách dịch, quan liêu giảm. Một nét đáng mừng là một bộ phận cán bộ,
công chức khi tiếp công dân bằng những nụ cười thân thiện.
Có được những kết quả đó là thủ trưởng các cơ quan luôn nêu cao tinh thần
trách nhiệm, gương mẫu thực hiện quy chế, quan tâm hơn đến việc tổ chức phân
công và điều hành công việc hợp lý và khoa học, sử dụng có hiệu quả năng lực,
thời gian của cán bộ công chức; đối với cán bộ, công chức đã nêu cao tinh thần
trách nhiệm, ý thức kỷ luật lao động, chấp hành tốt quy chế nên đã chấm dứt đựơc
tình trạng đi muộn về sớm, uống rượu, bia trong giờ làm việc; thái độ, tác phong,
ứng xử đã có nhiều chuyển biến tích cực.
và lợi dụng chức trách, thẩm quyền được Nhà nước và nhân dân giao phó để nhận
hối lộ, tham nhũng, buôn lậu, làm biến dạng những giá trị và tiêu chuẩn đích thực
của người cán bộ, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng.
Cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát của tổ chức và thủ trưởng trực tiếp cũng
như của nhân dân đối với hoạt động của cán bộ, công chức còn hạn chế, chưa
thường xuyên, nghiêm túc và thiếu đồng bộ. Việc xử lý các vi phạm đạo đức của
cán bộ, công chức chưa nghiêm đã dẫn đến hạn chế kết quả răn đe, giáo dục. Công
tác giáo dục đạo đức chậm được đổi mới: nội dung giáo dục chưa cụ thể, sát hợp
với từng đối tượng, còn giáo điều, chủ quan, phiến diện, duy ý chí, phi thực tế,
thiếu cơ sở khoa học; hình thức giáo dục đơn điệu, qua loa đại khái hoặc phô
trương hình thức, dễ gây nhàm chán. Do đó, hiệu quả giáo dục đạo đức chưa cao,
thậm chí có trường hợp phản tác dụng. Khi đề cập đạo đức thì coi nhẹ hoặc quên
tài năng, nhưng khi cần nhấn mạnh tài năng của người cán bộ thì lại có biểu hiện
coi nhẹ đạo đức, coi thường lòng tốt, phẩm hạnh một cách phiến diện, cực đoan.
- Về thiết kế, bài trí công sở: Một số trụ sở các cơ quan nhà nước vẫn chưa
được thiết kế phù hợp. Cách bố trí nội thất nơi làm việc tuỳ tiện, chưa bảo đảm
hoặc quá sơ sài, rườm rà, thiếu mĩ quan. Tại một số công sở còn đặt hai con sư tử
đá nhe nanh, giơ vuốt ở hai bên cửa ra vào giống như ở nhà hàng. Điều đó không
chỉ tạo sự ngăn cách giữa nhà nước và công dân mà còn thể hiện người thiết kế và
phê duyệt thiếu thiết kế thẩm mĩ, nhìn nhận lệch lạc về cái đẹp uy nghiêm của công
sở.
- Phương pháp, cách thức quản lý, phong cách tổ chức điều hành: Hoạt động
công vụ chưa đổi mới và theo kịp với sự đổi mới về vai trò của Nhà nước trong
quản lý mọi mặt đời sống xã hội và tổ chức cung cấp các dịch vụ công cho người
dân và DN. Nhận thức về hoạt động công vụ và quản lý CBCC vẫn mang dấu ấn
của thời kỳ kế hoạch hóa tập trung. Trong nhiều cơ quan, tổ chức, việc tuyển dụng,
bổ nhiệm, sử dụng và quản lý CBCC có xu hướng nặng về văn bằng, chứng chỉ,
chưa chú trọng nhiều đến năng lực thực sự của CBCC, việc đào tạo, bồi dưỡng
chưa gắn với nhu cầu sử dụng, chưa thúc đẩy nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC,
Bàn Thị Mai
Môn: Nghi thức Nhà nước
CHƯƠNG III
KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
QUY CHẾ VĂN HOA CÔNG SỞ TẠI MỘT SỐ CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
NHÀ NƯỚC
3.1. Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế văn hóa công sở tại
một số cơ quan hành chính nhà nước
Chúng ta đang phấn đấu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có
phong cách ứng xử chuẩn mực trong hoạt động công vụ, có phẩm chất đạo đức tốt,
góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Thiết nghĩ, tại các công sở, đặc
biệt là những nơi tiếp xúc với nhân dân, cán bộ công chức cần nghiêm chỉnh tuân
theo các quy định cụ thể về trang phục, cách giao tiếp, trong đó đặc biệt cần tôn
trọng dân, chú ý ứng xử với dân một cách có văn hoá. Điều đó góp phần tạo ra môi
trường văn hoá lành mạnh nơi công sở.
Văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính thể hiện ở quyền được thông tin
và cách thức cung cấp thông tin cho công chúng. Công dân đến công sở phải có
quyền nhận được những thông tin mà họ cần. Bưng bít thông tin với quần chúng là
tạo cơ sở cho nạn tham nhũng, hối lộ. Thực hành dân chủ cơ sở chính là biểu hiện
của việc nâng cao văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính Nhà nước.
Bên cạnh đó, văn hóa công sở còn thể hiện ở cách thức cung cấp thông tin.
Cán bộ, công chức ở các cơ quan Nhà nước nên chủ động cung cấp thông tin và
thể hiện sự trân trọng đối với công chúng.
Để thực hiện được yêu cầu nói trên, ngoài việc thường xuyên giáo dục nâng
cao văn hóa cho các đối tượng giao tiếp ở công sở còn cần tới những quy tắc, quy
chuẩn ứng xử theo các chế tài bắt buộc của văn hóa công sở do Nhà nước quy định
và các chế tài xử lý vi phạm, khen thưởng, động viên.
Chính phủ và Bộ Tài chính dựa vào nhu cầu thực thi văn hóa công sở để cấp
kinh phí thỏa đáng cho các cơ quan hành chính Nhà nước, hàng năm đưa chương
trình bồi dưỡng về văn hóa công sở vào chương trình đào tạo lại cán bộ, công
việc thực hiện quy chế văn hoá công sở tại cơ quan đơn vị mình dựa trên những số
liệu cụ thể, khách quan qua đó xác định những khó khăn, hạn chế trong quá trình
triển khai và tổ chức thực hiện; nêu gương, khen thưởng những các nhân, tổ chức
thực hiện tốt và có sáng kiến hay cần nhân rộng; có hình thức kỷ luật những cá
nhân, tổ chức không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ các nội dung mà quy
chế đã quy định cũng như trong các quy định về CBCCVC không được làm.
- Hàng năm nên tổ chức tôn vinh CB CCVC, là lực lượng đi đầu trong sự
nghiệp đổi mới, đại diện cho kinh tế tri thức thực hiện tốt văn hoá công sở thông
qua nhiều hình thức khác nhau như: tổng kết công tác năm, thông qua các cuộc thi,
bình chọn trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đặc biệt, cần có chính sách
khuyến khích để động viên, thu hút nhân tài.
Bàn Thị Mai
20Lớp: Quản trị Văn phòng K1B
Bài tiểu luận
Môn: Nghi thức Nhà nước
- Lựa chọn những cá nhân, đơn vị tiêu biểu để triển khai học tập và nhân
điển hình tiên tiến; đồng thời cũng dự kiến tiêu chí để xây dựng cơ quan văn hoá
coi đó là tiêu chí đánh giá thi đua và chất lượng công tác của cán bộ, công chức và
của cơ quan.
3.2.3. Nâng cao hiệu quả của thanh tra công vụ trong thực văn hoá công
sở tại các cơ quan hành chính nhà nước
Để nhanh chóng chấn chỉnh bộ máy, ngăn chặn và đẩy lùi quan liêu, tham
nhũng, yêu cầu đặt ra là trước mắt phải tạo được chuyển biến tích cực trong một số
việc cần chấn chỉnh đối với bộ máy hành chính, trong đó nhấn mạnh cần tăng
cường thanh tra, xử lý vi phạm trong việc thực hiện chế độ công vụ của cán bộ,
cho cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan hành chính nhà nước.
Để các văn bản quy phạm pháp luật nói chung và Quy chế văn hoá công sở
nói riêng phát huy hiệu quả, thực sự đi vào cuộc sống thì công tác tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục ý thức thực hiện pháp luật là một trong những giải pháp quan trọng.
Cụ thể cần làm tốt một số nội dung sau:
- Bằng nhiều hình thức khác nhau như thông qua các phương tiện thông tin
đại chúng, các cuộc thi, tập huấn, nói chuyện chuyên đề, toạ đàm, triển khai học tập
nghị quyết để lồng ghép tuyên truyền về văn hoá công sở, như vậy sẽ tránh nhàm
chán và cách thức tiếp nhận cũng phong phú, dễ nhớ, dễ thực hiện. Hay thông qua
các cuộc họp bằng biện pháp nêu gương những đơn vị, cá nhân thực hiện tốt và nhắc
nhở những tồn tại, hạn chế mà ở tổ chức hay cá nhân khác do thực hiện chưa
nghiêm. Lãnh đạo đơn vị, người đứng đầu các tổ chức phải gương mẫu thực hiện
văn hoá công sở với nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan, đơn vị mình phụ trách.
- Cơ quan hành chính nhà nước phải công khai nội dung, tiêu chí văn hoá
công sở để nhân dân biết, hàng tháng thông qua lịch tiếp dân, qua hòm thư góp ý để
lắng nghe ý kiến phản hồi của nhân dân đánh giá, góp ý về văn hoá công sở của
CBCCVC. Qua đó, phát huy quyền làm chủ, thực hiện vai trò giám sát của nhân dân
góp phần xây dựng và phát triển văn hoá công sở.
Bàn Thị Mai
22Lớp: Quản trị Văn phòng K1B