i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH v
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
LỜI CẢM ƠN vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.1 Một số khái niệm : 5
1.1.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh : 5
1.1.2 Năng lực cạnh tranh quốc gia : 6
1.1.3. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh : 7
1.1.4. Năng lực cạnh tranh ngành : 10
1.1.6 Năng lực cạnh tranh sản phẩm : 12
1.1.7 Mối quan hệ năng lực cạnh tranh giữa các cấp độ 12
1.2 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 13
1.2.1 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): 13
1.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của PCI: 13
1.2.1.2 Các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh : 15
1.2.1.3 Phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh : 21
1.2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 24
1.3 Chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước trong
đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh : 26
1.3.1 Khái niêm : 26
1.3.2 Vai trò của chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của
Nhà Nước trong đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh : 27
1.3.3 Các chỉ tiêu và cách đo lường chỉ tiêu của chỉ số chi phí thời gian : 27
ii
1.3.4 Kinh nghiệm của một số địa phương rất thành công về cải thiện chỉ
số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh : 31
3.2.2.1 Định hướng và mục tiêu phát triển ngành công nghiệp: 84
3.2.2.2 Định hướng và mục tiêu phát triển dịch vụ-du lịch : 85
3.2.2.3 Định hướng và mục tiêu phát triển thủy sản : 85
3.3 Giải pháp nâng cao chỉ số chi phí thời gian để thực hiện quy định
của Nhà Nước tại tỉnh Khánh Hòa : 86
3.3.1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và trình độ cán bộ công chức
trong cải cách thủ tục hành chính : 86
3.3.2. Tiếp tục rà soát và cắt giảm thủ tục hành chính không cần thiết,
tích cực thực hiện cơ chế một cửa hiện đại và đồng bộ : 88
3.3.3. Thiết lập và đẩy mạnh hơn nữa những ứng dụng công nghệ thông
tin trong quản lý hành chính: 90
3.3.4. Tiếp tục rút ngắn thời gian thanh kiểm tra thuế tại các doanh
nghiệp của các sở ban ngành : 91
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Cơ cấu lao động 42
Bảng 2.2: Tổng hợp kết quả chỉ số PCI tỉnh Khánh Hòa : 50
Bảng 2.3: Các chỉ tiêu của chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của
Nhà nước của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2005- 2011 54
Bảng 2.4: Xếp hạng điểm số chỉ số chi phí thời gian để thực hiện quy định của Nhà
nước trong cả nước năm 2006-2011: 57
Bảng 2.5: Xếp hạng chỉ số chi phí thời gian giữa các tỉnh/ thành phố trong khu
vực Duyên hải miền Trung giai đoạn 2009-2011 59
Biểu đồ 2.11: % đồng ý thủ tục giấy tờ giảm sau khi thực hiện CCHCC của các tỉnh
Quảng Ninh, Bình Định, Khánh Hòa và trung vị giai đoạn 2009- 2011 75
Biểu đồ 2.12: % đồng ý phí và lệ phí của nhiều thủ tục giảm sau khi CCHCC của 3 tỉnh
Quảng Ninh, Bình Định, Khánh Hòa và trung vị giai đoạn 2009-2011 77 vi
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Tiếng Việt Tiếng Anh
1 KTTT Kinh tế thị trường
2 APEC
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu
Á-Thái Bình Dương
Asian – Pacific Economic
Cooperation
3 WTO Tổ chức thương mại thế giơi World Trade Organization
4 DN Doanh nghiệp
5 NLCT Năng lực cạnh tranh
6 VCCI
Phòng thương mại và công
nghiệp Việt Nam
Vietnam Champer of
Commerce and Industry
7 WEF Diễn đàn kinh tế thế giới World economic Forum
8 VNCI
Dự án sáng kiến cạnh tranh
Việt Nam
Vietnam Competitiveness
Initiative
9 PCI
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế đã tạo điều kiện
cho tôi hoàn thành tốt đợt thực tập cuối khoá này.
Lời cảm ơn cũng xin được gửi tới các thầy giáo các anh chị tại sở Kế hoạch
và Đầu tư đã cùng nhau hợp tác trong nhóm nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi cũng muốn cảm ơn tất cả những anh (chị ), bạn bè đã giúp đỡ
tôi hoàn thành đợt thực tập và khoá luận tốt nghiệp thời gian qua.
Sinh Viên Thực Hiện
Trương Thị Tường Vy 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, do đó khi Việt
Nam chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang KTTT cũng không
tránh khỏi quy luật đó. Sự gia nhập của Việt Nam vào các tổ chức kinh tế như diễn
đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương (APEC), tổ chức thương mại thế giới
(WTO)…đã tạo ra cho nền kinh tế Việt Nam những cơ hội lớn nhưng cũng không
thể tránh khỏi những thách thức mới. Một trong những thách thức hiện nay của Việt
Nam là làm sao tạo ra môi trường kinh doanh và đầu tư hiệu quả nhất, tức là mang
lại năng suất cao nhất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Năng lực cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào năng lực xác
định mục tiêu, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách của chính phủ. Bên cạnh
đó, việc triển khai thực hiện các kế hoạch chính sách còn phụ thuộc vào các cấp
chính quyền địa phương. Sự phân cấp trong quản lý kinh tế giữa các cấp chính
quyền đã nâng cao vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong quản lý điều hành phát
quan nhà nước- thời gian mà lẽ ra đã có thể dành cho hoạt động quản lý kinh doanh.
Xuất phát từ thực tế trên kết hợp với hiện nay chưa có một nghiên cứu nào tại
Khánh Hòa thực hiện khảo sát và đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Vì
thế việc chọn đề tài nghiên cứu “ Các giải pháp cải thiện chỉ số chi phí thời gian để
thực hiện các quy định của Nhà Nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh
Khánh Hòa” đáp ứng yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn. Do đó em quyết định
chọn đề tài này để làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà Nước
3
- Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chỉ số chi phí thời gian để thực
hiện các quy định của Nhà Nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Khánh
Hòa trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Chỉ số chi phí thời gian thực hiện các quy định của Nhà Nước của tỉnh
Khánh Hòa và một số địa phương
- Một số cơ quan chính quyền trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Trên phạm vi toàn tỉnh Khánh Hòa.
- Trong thời gian từ 2/2012 đến 6/2012.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận, nghiên cứu này dự kiến sẽ áp dụng một số
phương pháp cụ thể như:
(1) phương pháp nghiên cứu lý thuyết (hệ thống lại các lý thuyết liên quan
đến năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh;
các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (đi vào 01 chỉ số cụ thể), các nhân
tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
(2) phương pháp thu thập thông tin (nghiên cứu sẽ tiến hành thu thập các
thông tin thứ cấp cũng như sơ cấp), thông tin thứ cấp được thu thập từ các cơ quan 5
Chương I:NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CHỈ SỐ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.1 Một số khái niệm :
1.1.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh :
Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của nền KTTT. Đó là một
quy luật tất yếu khách quan, diễn ra ở mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa của
cuộc sống từ vi mô đến vĩ mô, từ cá nhân đến toàn thể xã hội.
Nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan và khách quan của nền KTTT, cũng
không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người bởi tự do là nguồn gốc dẫn đến
cạnh tranh. Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu và quản lý kinh doanh sử dụng một số
thuật ngữ như “năng lực cạnh tranh” “sức cạnh tranh” và “khả năng cạnh tranh”, trong
tiếng anh nó thường được sử dụng là “Competitiveness Capability”.
Liên quan đến quá trình cạnh tranh, năng lực cạnh tranh được hình thành thu
hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, chính phủ quốc gia, các doanh
nhân và cả các nhà nghiên cứu. Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các cấp độ
khác nhau như : năng lực cạnh tranh quốc gia; năng lực cạnh tranh ngành; năng
lực cạnh tranh doanh nghiệp; năng lực cạnh tranh sản phẩm và dịch vụ.
Theo định nghĩa của đại từ điển tiếng Việt thì “năng lực” là những điều kiện
đủ hoặc vốn có để làm một việc gì hoặc là khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc
Tổ chức hợp tác và phát triển (OECD) định nghĩa năng lực canh tranh là
“khả năng của các công ty, các ngành, các vùng các quốc gia hoặc khu vực siêu
quốc trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh
quốc tế trên cơ sở bền vững”
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (porter, Salai-Martin, Schwab 2007), năng lực
cạnh tranh là tập hợp các thể chế, chính sách và nhân tố quy định mức năng suất của
toàn dụng nhân lực của quốc gia mình. (European Commission, 1999)
7
Năng lực cạnh tranh quốc gia được xác định trước hết bằng mức độ tăng trưởng của
nền kinh tế quốc dân và sự có mặt (hay thiếu vắng) các yếu tố quy định khả năng
tăng trưởng kinh tế dài hạn trong các chính sách kinh tế đã được thực hiện. Năng
lực cạnh tranh không phải là việc một quốc gia cạnh tranh trong lĩnh vực gì để thịnh
vượng mà là quốc gia đó cạnh tranh hiệu quả như thế nào trong các lĩnh vực.
Chính phủ có chức năng cải thiện môi trường thúc đẩy nâng cao năng suất,
nâng cao chất lượng và hiệu quả các công trình hạ tầng, ban hành chính sách nhằm
kích thích sáng tạo và tăng năng suất của các DN. Vai trò phù hợp của chính phủ là
người thúc đẩy và là kẻ thách thức.Ở cấp độ rộng nhất, một trong những vai trò thiết
yếu của chính phủ là báo hiệu (dự báo, định hướng). Vì thế đo lường NLCT quốc
gia suy cho cùng là đo lường năng lực chỉ đạo và điều hành kinh tế của chính phủ.
1.1.3. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh :
Ngày nay ở hầu hết các nước trên thế giới, sự vững mạnh của khu vực kinh
tế tư nhân được xem là có vai trò then chốt đối với sự thịnh vượng của nền kinh
tế quốc gia. Nhưng xét trong cùng một quốc gia không phải địa phương (vùng)
nào cũng phát triển được đồng đều các khu vực kinh tế tư nhân. Đặc biệt là đối
với Việt Nam, một nước với một Đảng cầm quyền và một chính quyền Trung
ương vững mạnh nhưng các chính quyền địa phương vẫn có vai trò đáng kể
trong việc tạo ra tốc độ và mô hình phát triển riêng của mình. Sự phân chia
quyền hạn và trách nhiệm, thẩm quyền về quản lý kinh tế của TW cho chính
quyền địa phương đã làm xuất hiện sự ganh đua giữa các vùng hay các cấp địa
phương. Đây được gọi là cạnh tranh vùng hay địa phương mà ở Việt Nam đang
tồn tại, gọi là cạnh tranh cấp tỉnh.
NLCT cấp tỉnh là khả năng thu hút được các DN, các tổ chức và cá nhân đầu
tư phát triển kinh tế- xã hội theo những mục tiêu đã định của tỉnh (địa phương) đó.
Một tỉnh có NLCT cao thể hiện ở sự hấp dẫn về đầu tư và kinh doanh đối với các
DN, nhà đầu tư hay đã tạo lập được môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy phát
triển kinh tế xã hội tại tỉnh đó.
Sơ đồ1.1:Vận dụng mô hình kim cương của Michael E. Porter vào cạnh
tranh cấp tỉnh
Đối với các yếu tố sản xuất thể hiện chủ yếu ở lĩnh vực đào tạo lao động (số
lượng và chất lượng hệ thống giáo dục, đào tạo, dạy nghề, thông tin thị trường lao
động…) và chất lượng cơ sở hạ tầng (đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh…)
Trong phạm vi địa phương, chính quyền cấp tỉnh có thể trực tiếp thực hiện các
dịch vụ hỗ trợ DN (trợ giúp pháp lý, xúc tiến thương mại đầu tư…) hoặc khuyến
khích khu vực kinh tế tư nhân phát triển các dịch vụ hỗ trợ này.
Đối với điều kiện cầu chính quyền địa phương có thể tác động lên thị trường
tiêu thụ sản phẩm của DN thông qua những dự báo, định hướng sản xuất nhưng sự
ảnh hưởng này không rõ nét như ở cấp quốc gia. Chính quyền tỉnh cũng có thể đóng
vai trò là khách hàng trong một số trường hợp cần thiết.
Sự ảnh hưởng của chính quyền cấp tỉnh lên yếu tố cơ cấu hệ thống DN, nhà
đầu tư tại tỉnh khá rõ nét. Xuất phát từ định hướng chiến lược phát triển các
ngành kinh tế của địa phương, chính quyền cấp tỉnh sẽ có những cơ chế chính
Cơ cấu, hệ thống
DN, nhà đầu tư tại tỉnh
cách sát thực với thực tiễn bối cảnh hội nhập kinh tế đó là khả năng của ngành đó
trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn các ngành khác trong điều kiện cạnh
tranh và hội nhập quốc tế. Trong cạnh tranh ngành chủ thể cạnh tranh là ngành
Năng lực cạnh tranh ngành bị ảnh hưởng bởi các nhóm nhân tố : điều kiện tự
nhiên và tài nguyên thiên nhiên; trình độ phát triển khoa học- công nghệ; nguồn
nhân lực; kết cấu hạ tầng; trình độ tổ chức quản lý ngành; thể chế kinh tế- xã hội. 11
1.1.5. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp :
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp trong
việc tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị phần, tạo thu nhập cao và phát
triển bền vững. Đây là một quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực
cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu
lợi” của các doanh nghiệp.
Một quan điểm khác cho rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả
năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác. Ủy ban Quốc gia về
Hợp tác Kinh tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng lực của
một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”.
Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể
định lượng.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu
tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều
kiện cạnh tranh quốc tế. Theo M.Porter(1990), năng suất lao động là thước đo duy
nhất về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên các quan điểm này chưa gắn với việc thực
hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Từ các cách tiếp cận trên ta thấy rằng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
tạo ra từ “thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc
thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao hơn”
nghiệp/ ngành, năng lực cạnh tranh của sản phẩm/ dịch vụ. Giữa các cấp độ này
đều có mối quan hệ hai chiều tác động lẫn nhau rất mật thiết, tạo điều kiện cho
nhau hay chế định nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Năng lực cạnh tranh quốc gia có thể
tạo cơ hội thuận lợi cho doanh nghiệp khai thác điểm mạnh, nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngược lại, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo đảm tính bền vững của năng
lực cạnh tranh quốc gia. Năng lực cạnh tranh quốc gia cao đòi hỏi phải có nhiều
doanh nghiệp mạnh. Đối với quan hệ giữa năng lực cạnh tranh của sản phẩm/ dịch
13
vụ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì NLCT của sản phẩm phụ thuộc
vào năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. NLCT của sản phẩm được đo bằng
NLCT của doanh nghiệp tạo ra, và ngược lại khi sản phẩm dịch vụ có khả năng
cạnh tranh cao sẽ nâng cao NLCT của doanh nghiệp trên cấp độ sản phẩm-dịch vụ
1.2 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
1.2.1 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI):
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, viết tắt là PCI (Provincial Competitiness
Index) là chỉ số định lượng để đo lường và đánh giá công tác quản lý của các tỉnh
thành Việt Nam trên chín lĩnh vực có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của khu vực
kinh tế dân doanh.
1.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của PCI:
Ý tưởng xây dựng chỉ số PCI bắt nguồn từ một nghiên cứu trước đây của
Qũy châu Á và VCCI. Đó là nghiên cứu “Những thực tiễn tốt trong điều hành
kinh tế cấp tỉnh ở Việt Nam”, được thực hiện vào năm 2003 - 2004 tại 14 tỉnh
của Việt Nam. Nghiên cứu đã tập trung làm rõ mối quan hệ tương tác giữa các
yếu tố điều hành kinh tế và sự phát triển của tỉnh, thành đó. Kết quả của dự án
nghiên cứu này sau đó đã trở thành cơ sở khởi động một dự án nghiên cứu khác
có quy mô lớn hơn, nghiên cứu về sự khác biệt giữa các tỉnh, thành. Dự án
nghiên cứu thứ hai do VNCI đảm nhận, VNCI là dự án phát triển kinh tế do Cơ
quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ.
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh tại Việt Nam
Thiết chế pháp lý: việc phát triển pháp luật và giải quyết các tranh chấp một
cách chính quy luôn là một mắc xích trong quá trình cải cách, chuyển đổi ở Việt
Nam. Tăng cường thể chế cho các cơ quan tư pháp và tòa án địa phương trở nên
cấp thiết khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO. Ngoài ra, có rất ít DN thực sự
hiểu biết một cách thấu đáo về các trình tự, thủ tục pháp lý để có thể phân biệt
rạch ròi, chi tiết các thiết chế pháp lý khác nhau.
15
Đến năm 2009, khi quá trình cổ phần hóa các DNNN diễn ra một cách mạnh
mẽ, ảnh hưởng của các DNNN không còn tác động mạnh đến khu vực kinh tế tư
nhân, nhóm nghiên cứu của VCCI đã thay thế chỉ số Ưu đãi đối với DNNN và
Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân bằng chỉ số mới: Dịch vụ hỗ trợ DN.
Thông qua việc đối thoại với các lãnh đạo tỉnh, doanh nghiệp, đại diện các hiệp
hội và các chuyên gia nghiên cứu cho thấy nên bổ sung chỉ số này vào các chỉ số
thành phần. Tất cả các chuyên gia đều đồng tình với quan điểm các dịch vụ hỗ trợ
DN có vai trò then chốt để các DN thành công trong hoạt động kinh doanh. Tại
thời điểm này, những đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ tư nhân như: các công ty tư
vấn, công ty kế toán, tư vấn chiến lược, và các luật sư vốn vẫn còn “xa lạ” đối với
số đông các DN Việt Nam và cũng chỉ tập trung tại hai thành phố lớn là Hà Nội và
Tp. Hồ Chí Minh. Trong khi đó, các DN lại có nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ
này nhưng lại thiếu đi những dịch vụ mang tính chuyên nghiệp và đáng tin cậy.
PCI được xem là điều tra doanh nghiệp lớn nhất và toàn diện nhất đối với
hoạt động điều hành của chính quyền cấp tỉnh trong việc hỗ trợ thúc đẩy sự phát
triển của doanh nghiệp tư nhân
Cho đến nay, VCCI đã công bố thường niên Báo cáo chi tiết chỉ số PCI (từ
năm 2005 - 2011), nhằm tạo điều kiện để các tỉnh, thành phố theo dõi tiến bộ
trong môi trường kinh doanh của tỉnh mình qua các năm, không chỉ ở thứ hạng
PCI mà còn ở điểm số PCI. Báo cáo đã đóng góp một phần rất lớn trong việc cải
thiện môi trường kinh doanh tại các tỉnh, thành trên cả nước; giúp cho các chính
quyền địa phương nhận biết được đâu là điểm mạnh và điểm yếu của địa phương
mình, từ đó đề ra hướng giải quyết nhằm phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm
- Doanh nghiệp đánh giá rủi ro bị thu hồi đất (1: Rất cao đến 5: Rất thấp)
- Nếu bị thu hồi đất, doanh nghiệp sẽ được bồi thường thỏa đáng (% luôn
luôn hoặc thường xuyên)
17
- Sự thay đổi khung giá đất của tỉnh phù hợp với sự thay đổi của giá thị
trường (% đồng ý)
- DN không gặp cản trở về mặt bằng kinh doanh
(3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: là chỉ số đo lường khả năng tiếp
cận các kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách công bằng các
văn bản này, các chính sách và quy định mới có được tham khảo ý kiến của doanh
nghiệp và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các chính sách quy định
đó và mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với doanh nghiệp. Nó được đo lường
bởi các chỉ tiêu sau:
- Tính minh bạch của các tài liệu kế hoạch
- Tính minh bạch của các tài liệu pháp lý
- Cần có "mối quan hệ" để có được các tài liệu kế hoạch của tỉnh (% quan trọng)
- Thương lượng với cán bộ thuế là phần thiết yếu trong hoạt động kinh
doanh (% đồng ý)
- Khả năng tiên liệu việc thực thi pháp luật của tỉnh (% Luôn luôn hoặc
Thường xuyên)
- Độ mở của trang web tỉnh
- Các hiệp hội doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và phản
biện các chính sách, quy định của tỉnh (% Quan trọng hoặc Rất quan trọng)
(4) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước: là chỉ số
dùng để đo lường thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành
chính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng
kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm
tra. Nó được đo lường bởi các chỉ tiêu:
- % doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để thực hiện các quy định
pháp luật để giải quyết khó khăn, vướng mắc cho DN (% Đồng ý)