i
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Nha Trang, ngày …. tháng … năm 2012
Giáo viên hướng dẫn
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập của một người sinh viên, được làm khóa luận cuối
khóa học đó là niềm mơ ước của nhiều sinh viên. Làm khóa luận tức là thành quả
của sự phấn đấu trong quá trình học tập của sinh viên tại nhà trường. Không những
vậy, qua khóa luận còn xác định cho sinh viên biết được mình có sở thích và kiến
thức sâu sắc về mảng nào trong quá trình học tập suốt 4 năm học.
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CHỈ
SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 5
1.1. Một số khái niệm 5
1.1.1. Năng lực cạnh tranh 5
1.1.2. Năng lực cạnh tranh quốc gia 6
1.1.3. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 7
1.1.4. Năng lực cạnh tranh ngành 9
1.1.5. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 10
1.1.6. Năng lực cạnh tranh sản phẩm 11
1.2. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 13
1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của PCI 13
1.2.2. Các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 17
1.2.3. Phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 19
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 25
1.3. Chỉ số dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp trong đánh giá năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh 28
1.3.1. Khái niệm 28
1.3.2. Vai trò của chỉ số hỗ trợ doanh nghiệp trong đánh giá năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh 28
1.3.3. Các chỉ tiêu của chỉ số và cách đo lường chỉ số 30
1.3.4. Kinh nghiệm của một số địa phương rất thành công về cải thiện chỉ
số hỗ trợ doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 38
TỔNG KẾT CHƯƠNG 1 42
iv
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHỈ SỐ DỊCH VỤ HỖ TRỢ DOANH
NGHIỆP CỦA TỈNH KHÁNH HÒA GIAI ĐOẠN 2009 – 2011 43
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa 43
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên 43
3.1.1.2. Bối cảnh trong nước 131
3.1.1.3. Các yếu tố phát triển nội sinh 132
3.1.2. Quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa giai
đoạn 2011 – 2020 132
3.1.2.1. Quan điểm phát triển 132
3.1.2.2. Mục tiêu phát triển kinh tế 134
3.1.3. Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự báo về sản lượng của
Khánh Hòa năm 2010 – 2015 - 2020. 134
3.1.3.1. Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tê 134
3.1.3.2. Dự báo về sản lượng 135
3.1.4. Định hướng phát triển ngành công nghiệp tỉnh Khánh Hòa đến năm
2015 và có tính đến năm 2020 135
3.2. Giải pháp nâng cao chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp của tỉnh Khánh
Hòa giai đoạn 2011 – 2020 137
3.2.1. Giải pháp 1: Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực xúc
tiến thương mại và đầu tư 137
3.2.2. Giải pháp 2: Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong công tác
điều hành của tỉnh 142
3.2.3. Giải pháp 3: Tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh của tỉnh 144
3.2.4. Kiến nghị chung 147
TỔNG KẾT CHƯƠNG 3 148
KẾT LUẬN 149
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng trọng số của các chỉ số thành phần của chỉ số PCI 24
Bảng 2.1: Tăng trưởng kinh tế toàn Tỉnh 2006-2010 48
Biểu đồ 2.6: Tổng quan PCI của Khánh Hòa qua các năm 61
Biểu đồ 2.7: thành phần PCI của Khánh Hòa năm 2011 62
Biểu đồ 2.8: Sự biến động của chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 65
Biểu đồ 2.9: Biến động của chỉ số thành phần DVHTDN so với cả nước 74
Biểu đồ 2.10: Biến động của chỉ số thành phần DVHTDN của Khánh Hòa so
với các tỉnh khu vực Duyên hải miền Trung 75
Biểu đồ 2.11: So sánh chỉ số DVHTDN của tỉnh KH so với các tỉnh miền Trung 76
Biểu đồ 2.12: Cơ cấu kinh tế của Quảng Ninh và Khánh Hòa năm 2020 78
Biểu đồ 2.13: Thể hiện Số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức của Khánh Hòa
và Bình Định qua các năm 79
Biểu đồ 2.14: Thể hiện Số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức của Khánh Hòa
và Quảng Ninh qua các năm 80
Biểu đồ 2.15: Thể hiện Số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức của 3 tỉnh so
với Trung vị cả nước qua các năm 81
viii
Biểu đồ 2.16: Thể hiện Số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức của 3 tỉnh so
với Trung vị cả nước qua các năm 82
Biểu đồ 2.17: Thể hiện “Số nhà cung cấp dịch vụ công là tư nhân trong tỉnh”
của Khánh Hòa và Bình Định qua các năm 83
Biểu đồ 2.18: Thể hiện “Số nhà cung cấp dịch vụ công là tư nhân trong tỉnh”
của Khánh Hòa và Quảng Ninh qua các năm 84
Biểu đồ 2.19: Thể hiện “Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin
kinh doanh” của Khánh Hòa so với Bình Định 85
Biểu đồ 2.20: Thể hiện “Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin
kinh doanh” của Khánh Hòa so với Quảng Ninh 86
Biểu đồ 2.21: Thể hiện “Doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ tìm kiếm thông tin
kinh doanh” của các tỉnh so với trung vị cả nước 87
Biểu đồ 2.22: Thể hiện số “DN đã sử dụng dịch vụ tư vấn về thông tin pháp
luật”của Khánh Hòa so với Bình Định 88
Biểu đồ 2.37: Thể hiện “số DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho
DVTVTT pháp luật” của Khánh Hòa so với Bình Định qua thời gian 101
Biểu đồ 2.38: Thể hiện “số DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho
DVTVTT pháp luật” của Khánh Hòa so với Quảng Ninh qua thời gian 102
Biểu đồ 2.39: Thể hiện “ số DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ
tư vấn thông tin về pháp luật” của các tỉnh so với điểm trung vị qua thời gian 102
Biểu đồ 2.40: Thể hiện % số “DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch
vụ tìm kiếm đối tác kinh doanh” của Khánh Hòa so với Bình Định qua các năm 103
Biểu đồ 2.41: Thể hiện % số “DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch
vụ tìm kiếm đối tác kinh doanh” của Khánh Hòa so với Quảng Ninh qua các năm 104
Biểu đồ 2.42: Thể hiện % số “DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch
vụ tìm kiếm đối tác kinh doanh” của các tỉnh so với trung vị cả nước qua các năm 105
Biểu đồ 2.43: Thể hiện % số “DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch
vụ xúc tiến thương mại” của Khánh Hòa so với Bình Định qua các năm 105
x
Biểu đồ 2.44: Thể hiện % số “DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch
vụ xúc tiến thương mại” của Khánh Hòa so với Quảng Ninh qua các năm 106
Biểu đồ 2.45: Thể hiện % số “DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch
vụ xúc tiến thương mại” của các tỉnh so với trung vị qua các năm 107
Biểu đồ 2.46: Thể hiện % số “DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch
vụ liên quan đến công nghệ” của Khánh Hòa so với Bình Định qua các năm 108
Biểu đồ 2.47: Thể hiện % số “DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch
vụ liên quan đến công nghệ” của Khánh Hòa so với Quảng Ninh qua các năm 109
Biểu đồ 2.48: Thể hiện % số “DN đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch
vụ liên quan đến công nghệ” của các tỉnh so với trung vị cả nước qua các năm 109
Biểu đồ 2.49: Thể hiện số “DN tiếp tục sử dụng nhà cung cấp tư nhân trên cho
dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh” của Khánh Hòa so với Bình Định 110
Biểu đồ 2.50: Thể hiện số “DN tiếp tục sử dụng nhà cung cấp tư nhân trên cho
dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh” của Khánh Hòa so với Quảng Ninh 111
của 3 tỉnh qua các năm 124 xii
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Viết tắt Tiếng Việt Tiếng Anh
1 CCN Cụm công nghiệp
2 DN Doanh nghiệp
3 DNNN Doanh nghiệp nhà nước
4 DNTN Doanh nghiệp tư nhân
5 DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
6 DVHTDN Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
7 DVTKTTKD
Dịch vụ tìm kiếm thông tin kinh doanh
8 DVTVTTPL
Dịch vụ tư vấn thông tin pháp luật
9 DVXTTM Dịch vụ xúc tiến thương mại
10 GDP Tổng sản phẩm trong nước Gross Domestic
Product
11 HĐND Hội đồng nhân dân
12 KCN Khu công nghiệp
13 KKT Khu kinh tế
14 KTTN Kinh tế tư nhân
15 KTTT Kinh tế thị trường
16 NLCT Năng lực cạnh tranh
của nước ta. Đây là vấn đề đặt ra cho cho từng doanh nghiệp, từng địa phương, từng
ngành kinh tế và cho toàn xã hội. Để góp phần thực hiện mục tiêu này các
tỉnh/thành trên cả nước cần phải tự mình nhìn nhận, đánh giá đầy đủ để cố gắng
vươn lên về năng lực quản lý, công tác đào tạo nhân lực cũng như các dịch vụ hỗ
trợ doanh nghiệp… Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá năng lực cạnh tranh của
các tỉnh/thành là việc đang cần thiết và đáng lưu tâm. Báo cáo về chỉ số năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) sẽ cung cấp cho lãnh đạo chính quyền các cấp góc nhìn
sâu hơn về hiệu quả điều hành kinh tế ở cấp trung ương và địa phương theo quan
điểm của doanh nghiệp và gợi ý cách thức cải thiện môi trường kinh doanh theo
hướng thúc đẩy đầu tư, tạo việc làm và phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, PCI là kênh
thông tin hiệu quả giúp chính quyền các tỉnh, thành phố nắm bắt và hiểu rõ nhu cầu
của cộng đồng doanh nghiệp. PCI mang đến cho nhà đầu tư hay doanh nghiệp đang
cân nhắc đầu tư hoặc mở rộng quy mô kinh doanh tại Việt Nam, một bức tranh
tương đối đầy đủ về môi trường kinh doanh địa phương từ góc nhìn của chính các
doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh tại đây.
Trong các chỉ số PCI của tỉnh Khánh Hòa, chỉ số năng lực cạnh tranh dịch vụ
hỗ trợ doanh nghiệp được nhiều chuyên gia đánh giá đây là chỉ số then chốt góp
phần trong sự thành công của doanh nghiệp. Chỉ số này đưa ra nhằm đo lường các
dịch vụ của tỉnh để phát triển khu vực tư nhân như xúc tiến thương mại, cung cấp
2
thông tin tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh danh, tìm
kiếm thông tin kinh doanh và cung cấp các dịch vụ công nghệ cho doanh nghiệp.
Theo đánh giá của VCCI, chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp của cả nước nói
chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng trong những năm qua mặc dù đã có sự có sự cải
thiện đáng kể nhưng vẫn còn ở mức khá thấp. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ
đến năng lực cạnh tranh chung của địa phương. Xuất phát từ thực tế trên kết hợp với
hiện nay chưa có một nghiên cứu nào tại Khánh Hòa thực hiện khảo sát và đánh giá
chỉ số năng lực cạnh tranh dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp cấp tỉnh. Vì thế, việc chọn
đề tài nghiên cứu “Các giải pháp cải thiện chỉ số dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp nhằm
là kênh thông tin hiệu quả giúp chính quyền tỉnh Khánh Hòa nắm bắt và hiểu rõ nhu
cầu của cộng đồng doanh nghiệp, là một bức tranh tương đối đầy đủ về môi trường
kinh doanh địa phương từ góc nhìn của chính các doanh nghiệp đang hoạt động
kinh doanh tại đây. Từ đó, có thể gợi ý giúp lãnh đạo tỉnh về những giải pháp để có
thể trong ngắn hạn cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh trong địa bàn tỉnh để
thu hút đầu tư thông qua dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp này.
PCI được xây dựng trên cơ sở đánh giá của các doanh nghiệp do vậy chỉ số
này sẽ phản ánh một cách khách quan và trung thực về môi trường đầu tư và kinh
doanh của địa phương.
PCI phản ánh được thực trạng điều hành kinh tế của các chính quyền các
tỉnh, các điểm mạnh điểm yếu, cùng như xác định được chính quyền nào có chất
lượng điều hành kinh tế tốt và các doanh nghiệp hài lòng. Từ đó chính quyền tỉnh sẽ
nhận biết được môi trường kinh doanh của mình hiện đang còn những yếu kém gì
cần phải khắc phục để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và tỉnh trở nên cạnh tranh
hơn so với các tỉnh thành khác của Việt Nam.
Một mặt, cho đến nay ở Khánh Hòa chưa có đề tài khoa học nào nghiên cứu
về vấn đề này. Chính vì vậy, đây sẽ là cơ sở đặt nền móng đầu tiên dẫn đường để
cho sự phát triển, mở ra các hướng nghiên cứu mới cho các nghiên cứu sau này, góp
phần vào cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh.
6. Nội dung của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu được chia làm 3 chương:
4
Chương 1: Lý luận chung về năng lực cạnh tranh và chỉ số năng lực cạnh tranh
Chương 2: Thực trạng chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp của Khánh Hòa
giai đoạn 2009 – 2011
Chương 3: Một số giải pháp nhằm cải thiện chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Khánh Hòa trong thời gian tới
một sự nhất trí cao trong các học giả và giới chuyên môn về các khái niệm này.
Năng lực cạnh tranh là khả năng dành chiến thắng trong sự ganh đua giữa
các chủ thể trong cùng một môi trường và khi cùng quan tâm tới một đối tượng.
Trên góc độ kinh tế, năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như
năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh doanh
nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ:
quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Và hiện chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn
có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn” về năng lực
6
cạnh tranh. Tuy nhiên, hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá được
các quốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất: Phương pháp thứ
nhất do Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong Báo cáo cạnh tranh toàn
cầu, phương pháp thứ hai do Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đề xuất
trong cuốn niên giám cạnh tranh thế giới. Cả hai phương pháp này đều do một số
Giáo sư đại học Havard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia
của WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng.
1.1.2. Năng lực cạnh tranh quốc gia
Năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau.
GCI định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng của nước đó đạt được
những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được mức tăng
trưởng cao xác định sự thay đổi tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người theo thời
gian”. Trong khi đó, Theo Lương Gia Cường (2003): Năng lực cạnh tranh quốc gia
được định nghĩa là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững,
thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định được kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của
người dân.
Trong một bài báo về tính cạnh tranh tổng thể của Diễn đàn kinh tế thế giới
(WEF) năm 1997 nêu ra: “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên
tế của các nước, ở Việt Nam chúng ta cũng phân định cả nước thành 3 miền bắc,
trung, nam với sự hiện diện rải khắp của 63 tỉnh, thành trên cả nước. Tuy nhiên,
những đặc trưng của mỗi nơi và sự phát triển cũng như tầm ảnh hưởng của nó đối
với sự phát triển của đất nước là khác nhau. Thực tế đã chứng minh điều này khi mà
phần lớn sự phồn hoa và phát triển đổ dồn về 3 địa điểm lớn của cả nước đó là
TP.HCM, Đà Nẵng và Hà Nội. Chính vì thế, để các tỉnh có sự ảnh hưởng lớn hơn
và phát triển mạnh hơn, điều này đồng nghĩa với việc các tỉnh phải làm thế nào đó
để cải thiện tình hình, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Mô hình kim cương của Michael Porter
Machael Eugene Porter – “cha đẻ” chiến lược cạnh tranh. Trong tác phẩm
Lợi thế cạnh tranh quốc gia, Porter vận dụng những cơ sở lý luận cạnh tranh trong
8
nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô
hình “Viên kim cương”.
Hình Thoi của Lợi thế cạnh tranh
hấp dẫn của địa phương so với các địa phương khác chẳng hạn quyết định ưu đãi về
thuế cho doanh nghiệp khi đầu tư tại địa phương.
Chính quyền địa phương có tác động đến các nguồn lực thông qua việc ban
hành và thực hiện các chính sách về nguồn lực sẽ tạo cho địa phương một môi
trường hấp dẫn đối với việc thu hút nguồn lao động có chất lượng cao đến với địa
phương. Khi đó, địa phương hấp dẫn đối với nhà đầu tư bởi có nguồn lao động có
chất lượng tốt. Các chính sách về tài chính, sử dụng các nguồn vốn đầu tư ngân sách
của địa phương sẽ ảnh hưởng khả năng của địa phương trong việc thỏa mãn các nhu
cầu về vốn và đánh giá về cơ hội và nguy cơ về tài chính của nhà đầu tư khi kinh
doanh tại địa phương. Các chính sách về quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên
thiên nhiên của địa phương sẽ ảnh hưởng sự hấp dẫn của địa phương về khả năng
cung ứng nguyên, nhiên, vật liệu đối với nhà đầu tư.
Chính quyền có thể tác động đến môi trường cạnh tranh thông qua các quy
định về thương mại. Nhìn chung, các nhà đầu tư đều mong muốn ở địa phương một
môi trường cạnh tranh lành mạnh. Chính vì vậy, các chính sách ảnh hưởng đến khả
năng cạnh tranh của địa phương có ảnh hưởng lớn đến sự đánh giá của nhà đầu tư
về sự hấp dẫn của địa phương. Các chính sách ảnh hưởng đến môi trường cạnh
tranh như là các quy định về quản lý cạnh tranh, thái độ của chính quyền đối với
khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, thái độ của chính quyền đối với các ngành
kinh doanh, thái độ của chính quyền trong việc bảo hộ các doanh nghiệp của địa
phương, các quy định về quản lý thị trường địa phương.
1.1.4. Năng lực cạnh tranh ngành
Năng lực cạnh tranh của ngành là năng lực bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận
và được thể hiện qua thị phần của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường. Năng lực
cạnh tranh của ngành được xác định trên cơ sở bốn nhóm yếu tố cơ bản bao gồm:
10
Chất lượng và khả năng cung ứng, mức độ chuyên môn hóa đầu vào; Công nghiệp
và dịch vụ hỗ trợ; Nhu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ và yêu cầu của khách hàng về
chất lượng sản phẩm, dịch vụ; Mức độ cạnh tranh trên lĩnh vực mà ngành kinh
khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự sản phẩm của doanh nghiệp
khác nhưng với chi phí thấp hơn thì coi là có năng lực cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là: “Năng lực nắm giữ thị
phần nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận được, vì vậy khi thị phần tăng lên
cho thấy năng lực cạnh tranh nâng cao”.
Có hai yếu tố cơ bản hình thành tỷ lệ lợi nhuận của một công ty, và do đó
biểu thị nó có lợi thế cạnh tranh hay không, đó là: lượng giá trị mà các khách hàng
cảm nhận về hàng hóa hay dịch vụ của công ty, và chi phí sản xuất của nó.
Tóm lại, ta thấy năng lực cạnh tranh của DN thể hiện thực lực và lợi thế của
doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của
khách hàng để thu lợi ngày càng cao. Theo đó, năng lực cạnh tranh phải xuất phát từ
nội lực bên trong của doanh nghiệp. Nó là cái mà doanh nghiệp sẵn có, cái bên
trong doanh nghiệp và đó thường được gọi là năng lực cốt lõi của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có năng lực cốt lõi có thể tạo ra sự khác biệt cho các sản phẩm của nó
hoặc đạt được chi phí thấp hơn so với đối thủ. Và chính thành tích đó đã tạo ra
nhiều giá trị hơn đối thủ và sẽ nhận được tỷ lệ lợi nhuận cao hơn trung bình ngành.
1.1.6. Năng lực cạnh tranh sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ được
nhanh trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên thị trường. Hay nói
một cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản
phẩm đó; Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc
độ cung cấp, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều
kiện mua bán,…
Một sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng được nhu
cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự
khác biệt, thương hiệu, bao bì… hơn hẳn so với những sản phẩm hàng hóa cùng
12
loại. Nhưng năng lực cạnh tranh của sản phẩm lại được định đoạt bởi năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp. Sẽ không có năng lực cạnh tranh của sản phẩm cao khi
nâng cao cơ sở hạ tầng, điều kiện tự nhiên thuận lợi, đầu tư cơ sở vật chất…Tuy
nhiên, những điều này không thuộc tầm kiểm soát của tỉnh mà nằm ở cấp trung
ương và mang tính chất dài hạn. Chính vì thế, chúng ta sẽ đi nghiên cứu về các chỉ
số thành phần của năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) để xem thử các nhân tố nào có
thể ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của tỉnh, và liệu ở vị thế của một tỉnh, chính
quyền tỉnh đó có thể làm gì để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế và góp phần nâng
cao năng lực cạnh tranh của tỉnh mình.
1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của PCI
Từ khi luật doanh nghiệp năm 2000 ra đời, một đạo luật đã dỡ bỏ đáng kể
những rào cản gia nhập thị trường và nhiều rào cản pháp lý khác cho doanh nghiệp,
Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của khu vực tư nhân. Mặt khác,
trong thời đại ngày nay, sự bao cấp cũng như ảnh hưởng của kinh tế Nhà nước đối
với sự phát triển của đất nước đã không còn đối với các nước trên thế giới, thay vào
đó, sự vững mạnh của khu vực kinh tế tư nhân được xem là có vai trò then chốt đối
với sự thịnh vượng của nền kinh tế. Thêm vào đó, ở Việt Nam chúng ta, dù là một
nước với một Đảng cầm quyền và một chính quyền trung ương vững mạnh nhưng
chính quyền địa phương vẫn có vai trò đáng kể trong việc tạo ra tốc độ và mô hình
phát triển riêng của mình.
Chính vì vậy, vào năm 2005 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hay còn
được gọi tắt là PCI (Provincial Competitiveness Index) ra đời để đo lường và xếp
hạng công tác điều hành kinh tế của các tỉnh dựa trên môi trường kinh doanh để
thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân thông qua cảm nhận của các
doanh nghiệp dân doanh. Mặt khác, ý tưởng xây dựng chỉ số PCI bắt nguồn từ một
nghiên cứu trước đây của Quỹ Châu Á và VCCI. Đó là nghiên cứu “Những thực
tiễn tốt trong điều hành kinh tế cấp tỉnh ở Việt Nam”, được thực hiện vào năm 2003
– 2004 tại 14 tỉnh của Việt Nam. Nghiên cứu này tập trung vào quan hệ tương tác