BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN
ĐƯỜNG BỜ BIỂN KHU VỰC TỈNH NAM ĐỊNH
CHUYÊN NGÀNH: THỦY VĂN HỌC
ĐỖ TÁ HÒA
HÀ NỘI, NĂM 2017
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN
ĐƯỜNG BỜ BIỂN KHU VỰC TỈNH NAM ĐỊNH
ĐỖ TÁ HÒA
CHUYÊN NGÀNH: THỦY VĂN HỌC
MÃ SỐ: 62.44.02.24
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. NGUYỄN LÊ TUẤN
2. TS. HOÀNG NGUYỆT MINH
Học viên
Đỗ Tá Hòa
ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Khoa Khí tượng - Thủy văn, Trường
Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS. Nguyễn Lê Tuấn và TS.
Hoàng Nguyệt Minh tận tình hướng dẫn và góp ý chỉ bảo trong suốt quá trình
học tập và hoàn thành luận văn này.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các Thầy, Cô giáo trong
Khoa Khí tượng - Thủy văn, Bộ môn Thủy văn, những người đã tận tình giúp
đỡ truyền đạt kiến thức chuyên môn và kỹ thuật trong suốt quá trình học.
Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn bên cạnh cổ vũ, khích lệ và
tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên luận văn không tránh
khỏi những thiếu sót, vì vậy rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy, Cô
và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
Học viên
Đỗ Tá Hòa
iii
Mục lục
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
3.1.1. Xây dựng bộ số liệu cho mô hình ....................................................... 39
3.1.2. Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình ...................................................... 47
3.2. Xây dựng kịch bản mô phỏng diễn biến đường bờ tỉnh Nam Định ..... 50
3.3. Ứng dụng công nghệ viễn thám đánh giá diễn biến đường bờ tỉnh Nam
Định................................................................................................................. 74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 87
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 95
v
THÔNG TIN LUẬN VĂN
+ Họ và tên học viên: Đỗ Tá Hòa
+ Lớp: CH2AT
Khóa: 2016-2018
+ Cán bộ hướng dẫn: TS. Nguyễn Lê Tuấn và TS. Hoàng Nguyệt Minh
+ Tên đề tài: Nghiên cứu đánh giá diễn biến đường cửa sông ven biển khu
vực tỉnh Nam Định
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đánh giá thực trạng xói lở, bồi tụ cửa sông ven biển khu vực tỉnh Nam
Định;
Ứng dụng mô hình MIKE 21 mô phỏng các quá trình thủy động lực và
vận chuyển bùn cát;
Ứng dụng viễn thám và GIS đánh giá diễn biến cửa sông ven biển tỉnh
Nam Định.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Luận văn đã đánh giá được tổng quan diễn biến khu vực cửa sông ven
Hình 3.17a. Trường sóng pha triều lên ngày 22/7/2009 – Mùa hè....................................... 54
Hình 3.17b. Trường sóng pha triều xuống ngày 22/7/2009 – Mùa hè ................................. 54
Hình 3.18. Trường dòng chảy trong gió mùa Tây Nam ....................................................... 55
Hình 3.19. Cụm công trình cửa Lạch Giang ........................................................................ 56
Hình 2.20. Độ cao và hướng sóng tại các điểm trích từ P1, P2 và P3.................................. 57
Hình 3.21. Độ cao và hướng sóng tại các điểm trích từ P4, P5 và P6.................................. 58
Hình 3.22. Độ cao và hướng sóng tại các điểm trích từ P7, P8 và P9.................................. 59
Hình 3.23. Vận tốc và hướng dòng chảy tại các vị trí P1, P2 và P3 .................................... 60
Hình 3.24. Vận tốc và hướng dòng chảy tại các vị trí P4, P5 và P6 .................................... 61
Hình 3.25. Vận tốc và hướng dòng chảy tại các vị trí P7, P8 và P9 .................................... 62
Hình 3.26. Phân bố độ đục mùa lũ pha triều xuống dải cửa sông ven biển Nam Định........ 63
vii
Hình 3.27. Phân bố độ đục mùa lũ pha triều lên dải cửa sông ven biển Nam Định ............. 64
Hình 3.28. Phân bố độ đục mùa lũ pha triều xuống cửa Ninh Cơ, Cửa Đáy ....................... 64
Hình 3.29. Phân bố độ đục mùa lũ pha triều lên cửa Ninh Cơ, Cửa Đáy ............................ 65
Hình 3.30. Biến đổi địa hình đáy theo kịch bản A1 ............................................................. 65
Hình 3.31. Trường sóng mùa đông pha triều dâng, triều rút dải ven biển Nam Định.......... 66
Hình 3.32. Trường sóng với pha triều dâng, triều rút cửa Ninh Cơ và cửa Đáy .................. 67
Hình 3.33. Trường dòng chảy triều dâng và triều rút khu vực cửa sông ven biển Nam Định
.............................................................................................................................................. 68
Hình 3.34. Trường dòng chảy pha triều dâng và triều rút cửa Ninh Cơ và cửa Đáy ........... 69
Hình 3.35. Vận tốc và hướng dòng chảy tại các vị trí P1, P2 và P3 .................................... 70
Hình 3.36. Vận tốc và hướng dòng chảy tại các vị trí P4, P5 và P6 .................................... 71
Hình 3.37. Vận tốc và hướng dòng chảy tại các vị trí P7, P8 và P9 .................................... 73
Hình 3.38. Phân bố độ đục theo kịch bản B1 ....................................................................... 74
Hình 3.39. Ảnh landsat cửa sông ven biển Nam Định năm 1990 (trái) và năm 2000 (phải) 76
Hình 3.40. Ảnh landsat cửa sông ven biển Nam Định năm 2010 (trái) và năm 2017 (phải) 76
Hình 3.41. Sơ đồ xác định đường bờ từ ảnh vệ tinh ............................................................ 77
nhất trên thế giới được phân bố trên cửa sông ven biển. Ngoài ra, còn có rất
nhiều cơ sở công nghiệp và kinh tế quan trọng khác cũng được bố trí trên cửa
sông ven biển. Cửa sông ven biển là bàn đạp để con người tiến ra biển và đại
dương để mở mang giao lưu với nhau trên quy mô khu vực hay toàn cầu.
Đồng thời, cửa sông ven biển cũng là nơi hứng chịu nhiều thảm họa nhất đến
từ mọi phía: từ trên không, từ trong đất liền và từ ngoài đại dương.
Hiện tượng xói lở cửa sông ven biển, theo dự báo sẽ được tăng cường cả
về cường độ và phạm vi phân bố dưới tác động của mực nước biển dâng do sự
ấm lên toàn cầu. Xói lở cửa sông ven biển, cửa sông là dạng thiên tai nặng nề
xảy ra ở cả ba miền, diễn biến hết sức phức tạp gây thiệt hại rất lớn về người
và của, để lại hậu quả lâu dài về KT - XH và môi trường sinh thái. Trong
khoảng vài chục năm trở lại đây, cửa sông ven biển Việt Nam bị biến đổi rất
mạnh mẽ, đặc biệt là xói lở ngày càng được mở rộng cả về quy mô lẫn cường
độ. Hiện tượng xói lở đã trở nên phổ biến trên toàn bộ các đoạn cửa sông ven
biển của nước ta vốn trước đây vẫn được tích tụ. Tuy chưa có thiệt hại về
người, nhưng xói lở cửa sông ven biển đã gây ra nhiều tổn thất về tài sản và
ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh ven biển
nói riêng và của cả nước nói chung, như làm mất nhiều nhà cửa, cơ sở hạ
tầng, đất canh tác, v.v.., đặc biệt ở 2 đồng bằng lớn: cửa sông ven biển đồng
bằng Bắc Bộ và cửa sông ven biển đồng bằng sông Cửu Long. Hàng năm Nhà
nước phải chi một lượng kinh phí lớn để khắc phục, phòng chống và cứu hộ.
Kèm theo xói lở cửa sông ven biển, mực nước biển dâng cũng sẽ nhấn chìm
nhiều vùng đất thấp ven biển. Thay đổi môi trường gây ra bởi tương tác của 4
2
nhóm tác nhân bao gồm: khí hậu, địa hình, mực nước biển và các hoạt động
của con người. Cả 4 nhóm tác nhân nay đều được biểu hiện rất rõ ràng và trực
tiếp trên cửa sông ven biển.
2.1. Tổng quan phương pháp nghiên cứu về thủy động lực, vận chuyển bùn
cát
2.2. Lựa chọn phương pháp nghiên cứu
2.3. Giới thiệu mô hình nghiên cứu
Chương III. Ứng dụng mô hình đánh giá diễn biến cửa sông ven biển tỉnh
Nam Định
3.1. Ứng dụng mô hình mô phỏng chế độ thủy động lực và chế độ bùn cát
vùng bờ tỉnh Nam Định
3.1.1. Xây dựng bộ số liệu cho mô hình
3.1.2. Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình
3.2. Xây dựng kịch bản mô phỏng diễn biến đường bờ tỉnh Nam Định
3.3. Ứng dụng công nghệ viễn thám đánh giá diễn biến đường bờ tỉnh Nam
Định
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
4
Chương I. Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.1. Tình hình nghiên cứu cửa sông ven biển Tỉnh Nam Định
Vùng cửa sông ven biển tỉnh Nam Định gồm các huyện Giao Thủy, Hải
Hậu và Nghĩa Hưng có chiều dài cửa sông ven biển khoảng 72 km với 4 cửa
sông lớn nhỏ: cửa Ba Lạt, cửa Hà Lạn, cửa Lạch Giang và cửa Đáy. Đây là
vùng có tiềm năng phát triển kinh tế tổng hợp ven biển, ngoài ra Nam Định
còn nằm trong khu dữ trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng được UNESCO
công nhận như vườn quốc gia Xuân Thủy và rừng phòng hộ ven biển Nghĩa
Hưng. Tuy nhiên hiện nay khu vực này bị ảnh hưởng mạnh bởi hiện tượng xói
lở bồi tụ, đã có rất nhiều nghiên cứu từ các đề tài, dự án và các chương trình
thông qua hai quá trình xói lở và bồi tụ.
Nhóm tác giả Hồ Thanh Hải, Hồ Thị Thanh Nhàn và Trần Anh Tuấn với công
trình “Phân tích biến động theo không gian và thời gian của các hệ sinh thái
đất ngập nước ở vườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Nam Định bằng kỹ thuật
viễn thám và GIS”. Kết quả nghiên cứu áp dụng kỹ thuật viễn thám và GIS
đánh giá biến động các hệ sinh thái ĐNN ở VQG Xuân Thủy cho thấy, bằng
kết quả phân tích ảnh vệ tinh và GIS, đã xây dựng được các bản đồ hệ sinh
thái đất ngập nước các thời điểm 1986, 1995, 2007 và 2013. Trên cơ sở đó, đã
xác định được biến động diện tích của mỗi kiểu HST ĐNN, đặc biệt của rừng
ngập mặn ở VQG Xuân Thủy và vùng đệm qua các thời điểm.
Một số nghiên cứu điều tra diễn biến cửa sông ven biển thông qua dữ liệu đo
đạc đã được thực hiện, nhóm tác giả Vũ Thanh Thủy, Nguyễn Thanh Hùng và
Vũ Đình Cương với công trình nghiên cứu “Hiện trạng và nguyên nhân biến
động hình thái khu vực cửa sông Ninh Cơ qua tài liệu đo đạc”. Kết quả
nghiên cứu qua tài liệu đo đạc, bước đầu có thể đưa đến kết luận biến động
hình thái khu vực cửa sông Ninh Cơ có nguyên nhân động lực là chủ yếu và
có cơ chế biến động theo mùa rất rõ nét. Mùa gió Đông Bắc trùng với mùa
dòng chảy kiệt trong sông, dòng chảy từ sông ra nhỏ, dòng triều kết hợp với
sóng tạo thành dòng ven có lưu tốc lớn theo hướng từ Đông Bắc xuống Tây
Nam, xu thế vận chuyển bùn cát dọc bờ xuôi xuống phía Nam nên lạch sâu
cửa sông bị ép sát về phía Nam (sát kè Nghĩa Phúc), mũi Thịnh Long phát
triển kéo dài xuống phía Nam gây bồi lấp cửa sông; mùa gió Đông Nam trùng
6
với mùa dòng chảy lũ trong sông, dòng ven có hướng Tây Nam lên Đông
Bắc, xu thế vận chuyển bùn cát dọc bờ ngược lên phía Bắc, dòng chảy mùa lũ
đủ lớn nên hạn chế sự phát triển của dòng ven, khi dòng chảy lũ từ trong sông
đủ lớn sẽ phá vỡ bãi bồi chắn cửa hình thành thêm lạch sâu phía giữa cửa
những quá trình thành tạo và phát triển của các đồng bằng châu thổ sông
Hồng hay đồng bằng sông Cửu Long, hay quá trình phát triển, suy thoái và
thay thế của các cửa sông trên một hệ thống các cửa sông đổ ra biển. Những
hiểu biết về các diễn biến cửa sông ven biển trong quá khứ với thời đoạn dài
(khoảng vài trăm năm đến hàng nghìn năm) là rất quan trọng vì nó sẽ cho biết
được những thông tin cần thiết để diễn giải được các nhân tố chính đã từng có
tác động đến hình dạng của đường cửa sông ven biển trong quá khứ; thông
qua các suy đoán trên cơ sở các luận cứ đã có. Có thể các nhân tố tác động
này vẫn đang tiếp tục diễn ra trong hiện tại tuy với mức độ nhỏ hơn so với
quá khứ.
Các yếu tố động lực chính tác động đến quá trình bồi xói và biến đổi
đường bờ có thể bao gồm: 1) sóng; 2) dòng chảy; 3) quá trình vận chuyển bùn
cát ven bờ.
1.1.2. Tổng quan các yếu tố ảnh hưởng đến diễn biến cửa sông ven biển
Các dạng hình thái cửa sông ven biển được hình thành do nhiều nhân
tố: sóng, thủy triều, dòng ven bờ. Trong đó, sóng do gió tạo nên có vai trò
quan trọng hơn cả, bởi nó thường xuyên, liên tục với cả ba quá trình: xâm
thực, vận chuyển và tích tụ.
Nhân tố sóng biển: Sóng được hình thành khi gió đang thổi, ngay khi
gió ngừng, sóng vẫn tiếp tục, gọi là sóng ngoài khơi, sóng có thể kéo dài xa
hàng trăm hoặc hàng ngàn kilomet. Sóng tự nó di chuyển về phía trước với
tốc độ có thể đo được. Các phần tử nước dưới sâu đi theo quỹ đạo: các phần
tử trên đỉnh sóng di chuyển về phía trước, chìm xuống khi gặp vùng lõm tiếp
theo rồi di chuyển về phía sau dưới vùng lõm rồi nhô lên khi gặp đỉnh sóng kế
cận. Khi sóng tiếp cận bờ, nước cạn hơn do đó dạng sóng và các phân tử nước
sẽ thay đổi. Khi nước vừa cạn, phần trước của sóng dựng đứng, đỉnh sóng sẽ
đổ về phía trước như đập vào bờ hình thành sóng vỗ bờ. Vào lúc này các phân
tử nước sẽ bị sóng ném mạnh vào đường bờ tạo thành năng lượng phá hủy
đường bờ. Sóng phá hoại cửa sông ven biển bằng tác dụng vỗ bờ, tạo nên các
mảnh vật liệu vụn mà về sau các đợt sóng khác hoặc dòng biển cuốn đi. Khi
khả năng vận chuyển bùn cát của dòng ven bờ lớn hơn nguồn bùn cát mà cửa
sông ven biển được cung cấp thì xói lở sẽ xảy ra.
Nước biển dâng: đây là dạng tác động chậm và dài hạn làm đường bờ
dịch chuyển vào trong, một phần là tác động trực tiếp gây ngập lụt, một phần
9
là qua tác động đến các quá trình động lực học, hình thái vùng bờ do mực
nước cao hơn. Sự thay đổi nguồn cung cấp bùn cát: Sự biến đổi khí hậu có thể
dẫn đến hạn hán, giảm tần suất lũ trên các sông cung cấp phù sa, bùn cát cho
biển.
Thảm thực vật (rừng ngập mặn): có vai trò quan trọng với sự ổn định
mái dốc cửa sông ven biển, cố kết bùn cát trầm tích, tiêu tán năng lượng sóng
tác động vào cửa sông ven biển.
Bên cạnh các yếu tố tự nhiên, các tác động do con người tạo ra cũng cần được
xem xét theo không gian cũng như theo thời gian: Các công trình bảo vệ bờ
dọc ven biển như kè mỏ hàn, đê phá sóng thường gây ra xói lở phía sau theo
hướng di chuyển bùn cát thực (down drift) của công trình bảo vệ trong
khoảng năm đến mười năm. Các công trình kè, tường chắn sóng bảo vệ bờ và
đê biển thời gây xói ở cuối công trình cũng như xói chân công trình trong
ngắn hạn (thường là dưới năm năm). Trong phạm vi lưu vực, việc xây dựng
các công trình đập thủy điện, hồ chứa nước, cũng như các công trình chuyển
nước khỏi lưu vực ở thượng lưu sẽ làm giảm nguồn phù sa, bùn cát cung cấp
cho biển, từ đó góp phần gây xói lở cửa sông ven biển. Ảnh hưởng của các
công trình đập và chuyển nước ở thượng lưu là không mang tính tức thời mà
thường là trong trung hạn hoặc dài hạn (20 đến 100 năm), với phạm vi ảnh
hưởng từ vài kilomet đến hàng trăm kilomet. Tác động của con người liên
quan đến sự suy thoái củarừng (chặt phá, khai thác quá mức, xây dựng công
trình hạn chế không gian phát triển của rừng) cũng như sự phát triển của
11
Phía Nam tỉnh được phù sa sông Hồng, sông Đáy bồi đắp nên miền đất này
tương đối bằng phẳng, phì nhiêu. Địa hình Nam Định thấp dần từ Tây Bắc
xuống Đông Nam. Nhìn chung, có thể chia Nam Định thành 3 vùng: Vùng
đồng bằng thấp trũng: gồm các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, Nam Trực,
Trực Ninh, Xuân Trường. Vùng đồng bằng ven biển: gồm các huyện Giao
Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa Hưng; đất đai phì nhiêu, có nhiều tiềm năng phát
triển kinh tế tổng hợp ven biển. Vùng trung tâm công nghiệp - dịch vụ: thành
phố Nam Định. Nơi đây từng là một trong những trung tâm công nghiệp dệt
của cả nước và là trung tâm thương mại - dịch vụ, cửa ngõ phía Nam của
đồng bằng sông Hồng.
1.3. Điều kiện khí tượng thủy văn, hải văn
1.3.1. Đặc điểm khí tượng, thủy văn
Nguồn nước của tỉnh Nam Định rất phong phú, nhưng biến đổi theo mùa
và chịu ảnh hưởng của thủy triều. Trong tỉnh có khoảng 530,1 km sông ngòi,
trong đó có 16 sông ngòi dài trên 10 km với tổng chiều dài là 430,4 km, riêng
4 sông lớn (Hồng, Đáy, Nam Định, Ninh Cơ) đã được 251 km. Mật độ lưới
sông trong tỉnh không đủ để tiêu hết nước dư thừa trong mùa mưa lũ, khiến
cho rải rác khắp nơi đều có vùng úng ngập tạm thời, riêng ô trũng Vụ Bản - Ý
Yên có thêm những vùng ngập úng thường xuyên chưa tiêu thoát được.
Ảnh hưởng của biển thể hiện ở sự xâm nhập mặn và sự lan truyền của
thủy triều. Ranh giới độ mặn 1‰ cực đại vào sâu tới 16-17 km theo đường
chim bay từ cửa sông ven biển vào đất liền, cho nên đất mặn có nơi vào sâu
quá sông Ninh Cơ. Ngược lại ranh giới độ mặn 1‰ cực tiểu lại ở ngay sát
biển như tại cửa sông Hồng, cửa sông Đáy, vì thế đất phù sa sông Hồng
không mặn ra đến gần cửa sông ven biển xã Giao Hương, xã Giao An, huyện
Giao Thủy và nói chung là đất mặn ít và trung bình chỉ là đất mặn thời vụ,
mặn vào mùa khô mà thôi. Tuy nhiên nếu xét ranh giới độ mặn 4‰ cực đại
cũng vào sâu tới 14-15 km theo đường chim bay, thì nói chung vùng phía
vào thường gây mưa lớn cho khu vực ven biển. Với ảnh hưởng của biển, nền
nhiệt độ trong khu ven biển thường thấp hơn so với khu vực ở sâu trong đất
liền.
13
Mùa đông ở khu vực Nghĩa Hưng trời lạnh, nhiệt độ trung bình tháng
khoảng 17.60C. Số ngày lạnh trong khoảng 50 – 60 ngày. Tháng lạnh nhất là
tháng I, song cũng có năm là tháng II hoặc tháng XII. Thời tiết lạnh chủ yếu
do các khối không khí cực đới từ phía Bắc xâm nhập. Nhiệt độ trung bình
thấp nhất đạt 14.60C (vào tháng I), Nhiệt độ tối thấp có thể xuống tới 6 - 70C
và kéo dài từ 7 – 12 ngày. Theo số liệu thống kê tại trạm Văn Lý, nhiệt độ tối
thấp tuyệt đối đã quan trắc được tại xuống tới 6.40C.
1.3.2. Đặc điểm hải văn
Đặc điểm thủy triều
Thuỷ triều vùng biển tỉnh Nam Định mang đặc tính chung vùng biển
Vịnh Bắc Bộ là chế độ nhật triều, trong 1 ngày có 1 lần nước lên và 1 lần
nước xuống, diễn ra hầu hết các ngày trong tháng (một tháng trung bình có 2
chu kỳ con nước, mỗi chu kỳ 14 ngày).
Khi tính toán thiết kế đê biển và các cống dưới đê biển Nam Định đều được
sử dụng tài liệu từ trạm Hòn Dấu (Hải Phòng) chuyển về tới các vị trí cần tính
toán. Từ tài liệu quan trắc cho thấy, mực nước triều tại Văn Lý có tương quan
khá chặt chẽ với Hòn Dáu, hệ số tương quan đạt 95%. Theo số liệu quan trắc
tại Hòn Dáu, chế độ triều ở đây là nhật triều thuần tuý. Hàng tháng có một
con triều lên và xuống với chu kỳ khoảng 25 ngày và trong một ngày cũng có
một đỉnh và một chân triều. Mực nước thuỷ triều dao động từ 1÷2m có khi từ
3÷3.5m.
Đặc điểm sóng, dòng chảy
Cửa sông ven biển Nam Định tương đối thẳng theo hướng Đông Bắc
xem xét thường có hướng dọc theo bờ, đó là hướng chủ đạo. Từ tháng XII
đến tháng I, tại khu vực, xuất hiện chế độ dòng chảy ngược chiều nhau. Ở
vùng biển thoáng, dòng chảy có hướng nam do ảnh hưởng của gió mùa Đông
Bắc, trong khi đó tại ven bờ, tồn tại dòng ven có hướng từ nam lên bắc. Tốc
độ dòng chảy tổng cộng thường không lớn, vào khoảng 0,2-0,4 m/s.
Vào mùa hè, dòng chảy khác với mùa đông. Ở gần bờ vùng này không
quan sát thấy dòng ven có hướng từ nam lên bắc nữa. Tốc độ dòng chảy vùng
ngoài khơi và ven bờ chỉ khoảng 0,2-0,3 m/s. Tốc độ dòng chảy trong cửa
sông cao hơn, đạt tới gần 1 m/s, thậm chí cao hơn trong thời kỳ mùa lũ do ảnh
hưởng mạnh bởi dòng chảy trong sông.