Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN NGỌC PHÚ

CON NGƯỜI TRUNG NGHĨA
TRONG VĂN HỌC NHÀ NHO NAM BỘ
NỬA SAU THẾ KỶ XIX

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN NGỌC PHÚ

CON NGƯỜI TRUNG NGHĨA
TRONG VĂN HỌC NHÀ NHO NAM BỘ
NỬA SAU THẾ KỶ XIX

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 9220121

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. BIỆN MINH ĐIỀN


1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu .......................................................................... 6
1.1.1. Vấn đề nghiên cứu văn học nhà nho và văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế
kỷ XIX.......................................................................................................................................6
1.1.2. Vấn đề nghiên cứu con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ
nửa sau thế kỷ XIX ................................................................................................... 18
1.2. Cơ sở lý thuyết của đề tài ................................................................................ 25
1.2.1. Các lý thuyết nghiên cứu, tìm hiểu về con người trong văn học ......................25
1.2.2. Nho giáo và sự ảnh hưởng, chi phối đến tư tưởng nhà nho và văn học nhà nho...27
1.2.3. Truyền thống tư tưởng của con người Việt Nam nói chung, Nam Bộ nói riêng ...29
1.2.4. Một số lý thuyết về nghiên cứu, phê bình văn học ..............................................31
Tiểu kết Chương 1 .................................................................................................. 33
Chương 2. CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ VAI TRÒ, VỊ THẾ CỦA VĂN HỌC
NHÀ NHO NAM BỘ NỬA SAU THẾ KỶ XIX TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC
DÂN TỘC ................................................................................................................ 34
2.1. Văn học Việt Nam nói chung và văn học nhà nho nói riêng giai đoa ̣n nửa
sau thế kỷ XIX ........................................................................................................ 34
2.1.1. Văn ho ̣c nửa sau thế kỷ XIX trong lịch sử văn học dân tộc ..............................34
2.1.2. Văn học nhà nho giai đoa ̣n nửa sau thế kỷ XIX ..................................................44
2.2. Văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX............................................. 49
2.2.1. Mô ̣t số giới thuyế t về văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX .............49


iii

2.2.2. Các khuynh hướng tư tưởng và nghê ̣ thuâ ̣t trong văn ho ̣c nhà nho Nam Bô ̣
nửa sau thế kỷ XIX ...............................................................................................................57
2.2.3. Vấ n đề con ngườ i trung nghi ã trong văn ho ̣c nhà nho Nam Bô ̣ nử a sau
thế kỷ XIX .............................................................................................................................63
Tiểu kết Chương 2 .................................................................................................. 66
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM CỦA CON NGƯỜI TRUNG NGHĨA TRONG VĂN



iv

4.1.3. Các thể văn chính luận ........................................................................................... 119
4.1.4. Các thể loại văn xuôi tự sự.................................................................................... 123
4.1.5. Mô ̣t số thể loa ̣i văn học dân tô ̣c ........................................................................... 124
4.2. Sự vận dụng bút pháp ................................................................................... 127
4.2.1. Bút pháp trữ tình ..................................................................................................... 127
4.2.2. Bút pháp tự sự ......................................................................................................... 129
4.2.3. Bút pháp trào phúng ............................................................................................... 130
4.3. Nghệ thuật tổ chức giọng điệu và ngôn ngữ................................................ 133
4.3.1. Nghệ thuật tổ chức giọng điệu ............................................................................. 133
4.3.2. Nghệ thuật tổ chức ngôn ngữ ............................................................................... 137
Tiểu kết Chương 4 ................................................................................................ 148
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ........................................................................................ 152
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 153


1

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Văn học nhà nho là bộ phận cơ bản và quan trọng, hàng đầu trong lịch sử
văn học Việt Nam thời trung đại (từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX). Bô ̣ phâ ̣n văn ho ̣c
này hiê ̣n còn nhiề u vấ n đề chưa được tìm hiể u, nghiên cứu hoặc có được tìm hiểu,
nghiên cứu nhưng chưa hẳn đã sát, đúng với bản chất của nó. Chẳng hạn, ngay phạm
trù Nho gia (nhà nho) ở Việt Nam có phải chỉ giới hạn trong “cộng đồng” những



2

trung nghĩa. Con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ
XIX vừa mang tính phức tạp của lịch sử, vừa mang nét đặc thù của vùng miền. Đây là
vấn đề đòi hỏi phải có cái nhìn hệ thống, bao quát, chuyên sâu với những khảo sát,
phân tích xác thực để xác định đúng bản chất và ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ sâu sắc của
nó. Con người trung nghĩa trở thành hình tượng thẩm mỹ có sức khái quát lớn, là mẫu
hình con người có cái đẹp và sức sống riêng của vùng đất Nam Bộ. Cho đến nay, nhìn
chung đây vẫn là vấn đề mới, chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thỏa đáng.
1.4. Trong chương trình Ngữ văn ở trung học phổ thông và các trường đại
học, văn học Việt Nam chiếm dung lượng lớn mà phần văn học yêu nước của các
nhà nho cuối thế kỷ XIX là một bộ phận hết sức quan trọng, đặc biệt là văn học nhà
nho Nam Bộ. Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa giúp cho việc tìm hiểu văn học nhà
nho nói chung, văn học nhà nho Nam Bộ nói riêng được tốt hơn. Nghiên cứu văn học
nhà nho và con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ
XIX còn có ý nghĩa quan trọng thiết thực trong thực tiễn giáo dục hiện nay, nhất là
đối với việc tìm kiếm mẫu hình con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới trên cơ sở
biết tiếp thu những giá trị truyền thống.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa
sau thế kỷ XIX, luận án nhằm chỉ ra, làm rõ những đặc trưng của mẫu hình con người
trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ ở mô ̣t giai đoa ̣n đă ̣c biê ̣t của lich
̣ sử dân
tô ̣c; xác định những đóng góp có ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ của văn học nhà nho Nam
Bộ qua việc thể hiện con người trung nghĩa; từ đây đề xuất một số vấn đề về nghiên
cứu và tiếp nhận văn học nhà nho ở một vùng miền có nhiều đặc điểm riêng.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải [189, 190]; Thơ văn Phan Thanh
Giản do Phan Thị Minh Lễ, Chương Thâu biên soạn [111]; Bộ sưu tập Lương Khê Thi
văn thảo do chính Phan Thanh Giản và các con trai của ông sưu tầm, biên tập và khắc
in; Tác phẩm Nguyễn Thông do Cao Tự Thanh - Đoàn Lê Giang biên soạn nhân kỷ
niệm lần thứ 100 ngày mất của Nguyễn Thông [172]; Phan Văn Trị - cuộc đời và tác
phẩm do Nguyễn Khắc Thuần, Nguyễn Quảng Tuân sưu tầ m, biên soa ̣n [193]; Di cảo
thơ trào phúng Nhiêu Tâm do Nguyễn Xuân Hoanh sưu tầ m, biên soa ̣n [86]. Nhiề u tài
liê ̣u khác có thơ văn của nhà nho Nam Bô ̣ nửa sau thế kỷ XIX như: Văn học miền
Nam Lục tỉnh, tập 3 với chủ đề Văn học Hán Nôm thời kháng Pháp và thuộc Pháp do
Nguyễn Văn Hầu biên soạn [82]; Nhân vật lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX (Quyển 2 - Cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ) do Vũ Thanh Sơn biên soạn [161]; Nguyễn
Trung Trực - Một Kinh Kha của miền Nam do Tạp chí Xưa và Nay tập hợp các bài viết
của nhiều tác giả để xuất bản sách [73];…
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên
cứu sau:
- Phương pháp liên ngành: Phương pháp liên ngành giúp cho việc huy động
các nguồn tri thức khác nhau (về văn hóa, lịch sử, chính trị, xã hội, nhân học, văn


4

học) nhằm tham chiếu, soi tỏ, phục vụ cho vấn đề được tập trung nghiên cứu (con
người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX).
- Phương pháp lịch sử: Phương pháp này giúp trình bày vấn đề (quan niệm
trung nghĩa và con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ) trong tiến
trình vận động và phát triển của nó, đồng thời dùng để tái diễn những nét lớn của
bối cảnh lịch sử - văn hóa - xã hội ảnh hưởng đến văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau
thế kỷ XIX.
- Phương pháp thông diễn học: Phương pháp này được áp dụng, giúp giải thích

kỷ XIX, từ đây góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề phức tạp, không dễ lĩnh hội về
nội dung, tư tưởng của bộ phận văn học này.
6.4. Luận án chỉ ra, xác định và làm rõ những đặc điểm chủ yếu trong
phương thức thể hiện con người trung nghĩa của văn học nhà nho Nam Bộ giai
đoạn nửa sau thế kỷ XIX.
6.5. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc
tìm hiểu, nghiên cứu về con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam Bộ nói
riêng, văn học nhà nho nói chung ở mô ̣t giai đoa ̣n đă ̣c biê ̣t của lich
̣ sử dân tô ̣c: giai
đoa ̣n nửa sau thế kỷ XIX.
7. CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án
được triển khai trong 4 chương:
Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Chương 2. Cơ sở hình thành và vai trò, vị thế của văn học nhà nho Nam Bộ
nửa sau thế kỷ XIX trong lịch sử văn học dân tộc
Chương 3. Đặc điểm của con người trung nghĩa trong văn học nhà nho Nam
Bộ nửa sau thế kỷ XIX
Chương 4. Phương thức thể hiện con người trung nghĩa của văn học nhà
nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX


6

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Vấn đề nghiên cứu văn học nhà nho và văn học nhà nho Nam Bộ nửa
sau thế kỷ XIX


khẳng định sự tồn tại của bộ phận văn học nhà nho ở các mức độ khác nhau. Các tác giả
có đề cập Nguyễn Đình Chiểu như một đối tượng nghiên cứu, tuy nhiên việc đánh giá di
sản văn chương của Nguyễn Đình Chiểu vẫn còn thiên lệch, phiến diện. Các nhà nghiên
cứu ít nhiều có những né tránh trong đánh giá dẫn đến việc phủ nhận sự ảnh hưởng hoặc
chưa khẳng định đúng mức những giá trị, đóng góp của văn học nhà Nho.
Từ sau Cách mạng tháng Tám đến đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, đáng chú ý là
công trình Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam: từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng
Tám của Trần Văn Giàu [35], [36]. Khi phân tích đạo đức Nho giáo nói chung, đạo
đức trung nói riêng, Trần Văn Giàu đặt vấn đề: “Lắm khi chữ hiếu đặt trước cả chữ
trung, đạo hiếu được xem là nền của đạo trung”, “trung hiếu là hai đức tính cơ bản của
con người mà luân lý Nho giáo đòi hỏi một cách nghiêm khắc. Đánh giá con người,
nhận xét hành vi, tất thảy đều lấy trung hiếu làm tiêu chuẩn” [35, tr.241-246]. Tác giả
nghiên cứu Nho giáo trên phương diện tư tưởng chứ chưa nhấn mạnh vai trò Nho giáo
tới đời sống văn học. Trong những năm sau đó, giới nghiên cứu quan tâm nhiều,
nghiên cứu hệ thống hơn về loại hình nhà nho, tiêu biểu như Nguyễn Khắc Viện, Trần
Đình Hượu, Quang Đạm. Nguyễn Khắc Viện với công trình Bàn về Đạo Nho đã phân
tích những giá trị tích cực cũng như những hạn chế lịch sử của Đạo Nho, mối quan hệ
của Đạo Nho với truyền thống văn hóa Việt Nam, trong đó có đề cập yếu tố “nghĩa”.
Tác giả cũng đề cập mẫu hình con người, sự kết hợp Đông - Tây của con người Việt
Nam trên con đường hội nhập với thế giới, làm rõ một “đạo lý” đẹp đẽ và chung thủy
của người sĩ phu trung thực, hết lòng vì nước, vì dân. Đặc biệt Trần Đình Hượu với
các bài viết “Mấy ý kiến bàn về vấn đề nghiên cứu Nho giáo”, “Nho giáo và văn học
nghệ thuật” (đã được tập hợp trong sách Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại),
quan tâm đến mối quan hệ giữa văn học và Nho giáo với nhiều nhận định sâu sắc:
“Nho giáo chi phối văn học nghệ thuật… hình thành trong lịch sử cả vùng một loại
hình văn sĩ, nghệ sĩ, một loại hình văn học nghệ thuật, viết cùng những thể loại, theo
cùng một quan niệm văn học” [100, tr.20]. Bàn về ảnh hưởng của Nho giáo đối với
văn học nghệ thuật, Trần Đình Hượu xác định thêm: “Nho giáo gây ra tác dụng kìm
hãm nặng nề đối với văn học nghệ thuật… Ngự trị lâu dài như thế văn học nghệ thuật

nữa cũng cứ phải làm; Làm việc nghĩa không cần báo đáp” [39, tr.254]. Ông có những
đánh giá khái quát vấn đề trung nghĩa giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX, tuy nhiên đấy chưa
phải là công trình nghiên cứu tư tưởng trung nghĩa, con người trung nghĩa trong văn học.
Công trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX của
Nguyễn Lộc [117], viết về hai giai đoạn hết sức quan trọng trong văn học Việt Nam
trung đại: một giai đoạn đỉnh cao, một giai đoạn là bước chuyển mình của văn học dân
tộc từ trung đại sang cận, hiện đại. Quyển sách trình bày quá trình phát triển văn học
Việt Nam qua hai giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, và giai đoạn
nửa sau thế kỷ XIX. Theo tác giả, văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX
thể hiện bằng thơ văn yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược và bọn tay sai bán
nước; văn học mang tính tố cáo hiện thực sâu sắc; văn học có những đổi mới khác hẳn
so với giai đoạn trước (nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX). Nguyễn Lộc
cũng phân chia các khuynh hướng văn học và dành 6 chương giới thiệu, khái quát 6


9

tác giả là nhà nho: Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn
Quang Bích, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương. Công trình Văn học Việt Nam giai
đoạn giao thời 1900 - 1930 của Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng [98] xem giai đoạn
văn học 1900 - 1930 như một sự chuyển hóa, chuẩn bị cho sự ra đời văn học Việt Nam
hiện đại. Theo các tác giả, tính chất giao thời biểu hiện ở sự tồn tại song song hai nền
văn học cũ và mới với hai lực lượng sáng tác; hai công chúng với hai quan niệm văn
học, hai ngôn ngữ văn học ở hai địa bàn khác nhau.
Trần Đình Hượu với công trình Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
[100] cho rằng để hiểu hơn nhà nho Việt Nam cần phải đánh giá sự tiếp xúc của họ với
Nho giáo và văn học Trung Quốc, đồng thời phải lưu ý đến tình hình phát triển không
đồng đều của các vùng đất nước. Về nhà Nho theo Trần Đình Hượu, không nên hiểu là
những người học chữ Hán, đọc sách thánh hiền, giữ đạo tam cương ngũ thường… mà
cần nhìn họ như một tầng lớp xã hội, một đội ngũ có nhiều loại hình. Với công trình

tài tử và văn học Việt Nam [212]; Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung
[214] cho rằng “từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX… nội hàm khái niệm văn học dân tộc gần
như trùng khớp với nội hàm khái niệm văn học nhà nho ở Việt Nam” [214, tr.117].
Công trình Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX những vấn đề lý luận và lịch sử [215] được
biên soạn bởi Trần Ngọc Vương (chủ biên), Trần Nho Thìn, Nguyễn Văn Thịnh, Trần
Nghĩa, Đoàn Lê Giang, Kiều Thu Hoạch, Cao Tự Thanh,... Các tác giả bàn về văn học
nhà nho, tìm hiểu nghiên cứu về Nho giáo, tiêu biểu là hai loại hình nhà nho ẩn dật và
hành đạo, nêu sơ lược về nguồn gốc, lịch sử hình thành cũng như quan niệm, tư tưởng
và cách nghĩ của hai loại hình nhà nho chính thống.
Một số tác giả khác như Nguyễn Tài Thư với công trình Nho học và Nho học ở Việt
Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn [194] có chỉ ra một số đặc trưng và vai trò của Nho
giáo đối với xã hội Việt Nam phong kiến; Trần Nho Thìn với công trình Văn học trung đại
Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa [183] đã nêu những vấn đề cần quan tâm khi “nghiên cứu
hiện tượng văn học sử trong khuôn khổ hệ thống văn học của nhà nho” [tr.20-21]. Với Trần
Nho Thìn, trước hết ông tập trung xác định Một số vấn đề lý luận của văn học trung đại
nhìn từ góc độ văn hóa, trong đó nhấn mạnh định hướng tiếp cận văn hóa học trong nghiên
cứu văn học, phác thảo tính hệ thống và tiến trình văn học trung đại Việt Nam như là bước
tiến đồng hành với quá trình vận động, phát triển của nền văn hóa dân tộc. Trên cơ sở nhấn
mạnh yêu cầu nghiên cứu những lĩnh vực văn hóa chuyên biệt, xác định văn hóa
là hệ thống mở và việc nghiên cứu giao lưu văn hóa, tác giả đã đưa ra nhiều chứng dẫn
thuyết phục và đi đến kết luận hợp lý: “Xét cho cùng thì bản sắc dân tộc phải được xem xét
trong một không gian mở, có so sánh, khu biệt. Phải xác định được những cái chung, cái
phổ biến trước khi rút tỉa ra cái riêng, cái bản sắc” [tr.51]. Đặt trong tương quan chung, các
vấn đề sự thể hiện con người và vai trò “cái tôi” tác giả, nghệ thuật phản ánh cuộc sống xã
hội trong văn chương nhà nho trên hai chiều công thức và sáng tạo tiếp tục được Trần Nho
Thìn phân tích, lý giải và qui chiếu thành những đặc điểm tư duy văn hóa mang tính thời
đại,… (Dẫn theo La Sơn, Các tác giả Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ
XIX,… đã xem xét Nguyễn Đình Chiểu trong tương quan không gian văn học Nam Bộ mà
cụ thể văn học Gia Định làm nổi bật một số nét trong phong cách cá nhân và phong cách
thời đại ở nhà thơ. Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết được các vấn đề

Suy nghĩ tiếp từ nghiên cứu Nho giáo của Trần Đình Hượu, Đoàn Lê Giang có bài
viết “Nhà Nho tài tử: Nguồn gốc, nội dung và ý nghĩa đối với việc nghiên cứu văn học
trung cận đại Việt Nam” đề cập nội dung khái niệm nhà nho tài tử, có nói đến đặc điểm của
người quân tử. Một trong những phẩm chất đó là “nghĩa”: “Nghĩa vua tôi, cha con, vợ
chồng, anh em, bạn bè, đất nước”. “Nghĩa là nghĩa vụ, nghĩa lý, đạo nghĩa, nghĩa ở đời.
Người quân tử đề cao Nghĩa, đối lập với Lợi, với hưởng thụ”
(). Trong bài viết “Trần Đình Hượu với việc phân loại
ba mẫu nhà nho trong văn học Việt Nam trung đại”, Phạm Văn Hưng đưa ra sự phân biệt
khá rạch ròi giữa ba loại hình nhà nho ẩn dật, nhà nho tài tử, nhà nho hành đạo, và sự giao


12

thoa giữa ba loại hình nhà nho này; Biện Minh Điền với: “Vấn đề tác giả và loại hình tác giả
văn học Việt Nam trung đại”, “Dấu ấn Trần Đình Hượu trong nghiên cứu Nho giáo và ảnh
hưởng của Nho giáo đối với văn hóa, văn học Việt Nam” đã bàn đến những đặc điểm của
tác giả và loại hình tác giả nhà nho Việt Nam… Các bài viết trên đề cập tình hình nghiên
cứu văn học của các nhà nho, quan niệm văn học của nhà nho, cái tôi nhà nho, đạo đức
nhân dân đối với đạo đức Nho giáo, đặc điểm của người quân tử, văn chương yêu nước của
nhà nho trung nghĩa, sự hình thành, phát triển và kết thúc của loại hình tác giả nhà nho,…
Về các công trình, bài viế t của các tác giả nước ngoài, có thể kế đến: The Birth of
Vietnam (1983) và A History of the Vietnamese (2013) của K.M. Taylor [224] [225] có
chú ý tìm hiểu “truyền thống, bản sắc của người Việt, dân tộc Việt, cốt cách bản địa Việt
Nam”; bài viết “Confucianism in Vietnam: an essay on the current state of the industry”
(2006) của C. Kelley [226] đã xem xét lại những nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam thời
tiền hiện đại của những học giả trong lĩnh vực này ở Bắc Mỹ và Úc châu. C. Kelley kết
luận rằng, những học giả này chưa hoàn toàn nhận thấy được vai trò của Nho giáo trong
quá khứ của Việt Nam và tác giả nghiên cứu Nho giáo ở từng triều đại (Việt Nam và mô
hình Trung Hoa), sự khác biệt về quản lý nhà nước qua mỗi triều đại ở từng vùng miền…
Sau đó một số học giả bắt đầu xem xét về vấn đề này như: Keith Taylor, Li Tana, Nola

giới thiệu cuộc đời, hành trạng và đóng góp của các nhân vật Nam Bộ trong quá trình
xây dựng và phát triển vùng đất Nam Việt Nam. Họ là những nhân sĩ trí thức, nhà hoạt
động cách mạng, nhà văn hóa, văn nghệ sĩ,… có công khai phá trên lĩnh vực văn hóa vật
chất và tinh thần. Công trình đã phác họa chân dung con người, cá tính Nam Bộ, chỉ ra
những đặc trưng của cư dân nơi vùng đất mới, vùng đất nơi “đầu sóng ngọn gió”, là
miền đất “đi trước về sau” ()… Các tác giả công trình Đất
và người Nam Bộ từ rất sớm đã chú ý nghiên cứu văn hóa truyền thống Nam Bộ. Công
trình khẳng định “giá trị, bản sắc văn hóa Nam Bộ, bác bỏ những luận điểm sai trái của
học giả trong và ngoài nước về con người, lịch sử, văn chương, giáo dục Nam Bộ” [192,
tr.7]. Ca Văn Thỉnh cho rằng: “Nam Bộ là đất có lịch sử lâu đời, do người Việt khai
khẩn… Về mặt văn học, ông cho thấy Nam Bộ rõ ràng có một nền văn học quy mô tổ
chức hẳn hoi, với những tác giả tác phẩm tiêu biểu cho tinh thần “ngay thảo”, “hào khí
Đồng Nai”..., đề cao đạo nghĩa danh tiết, và con người Nam Bộ là những người “có văn
hóa”, “biết đạo nghĩa” [192, tr.7].
Các công trình nghiên cứu trên đã có cái nhìn khái quát về tình hình văn học
giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, đồng thời giới thiệu một số tác giả tiêu biểu của văn
học giai đoạn này, giúp người đọc hiểu thêm về cuộc đời, sự nghiệp, quá trình đấu
tranh của ông cha ta đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển vùng đất Nam Bộ, cung
cấp nguồn tư liệu, góp thêm những nhận định mới mẻ về nhà nho Nam Bộ.
Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đề cập đến văn học nhà nho nói
chung, trong đó có văn học nhà nho Nam Bộ. Hầu hết các công trình đều khẳng định
vai trò, vị trí của các nhà nho Nam Bộ đối với sự phát triển của lịch sử văn học dân
tộc, tuy nhiên chưa có tính hệ thống, chuyên sâu.
Về loa ̣i công triǹ h đi sâu vào các tác giả và thơ văn của nhà nho Nam Bộ có Thơ
văn yêu nước Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX do Bảo Định Giang biên soạn, Ca Văn Thỉnh
giới thiệu [42]. Tập thơ văn tuyển chọn một số bài tiêu biểu, phản ánh tinh thần yêu nước
chống ngoại xâm của nhân dân Nam Bộ. Tác giả có trực tiếp tham gia kháng chiến chống


14

xét chung về một số thư tịch Hán Nôm trong tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu.
Đối với tác giả Nguyễn Thông, có: Nguyễn Thông - con người và tác phẩm do
Ca Văn Thỉnh và Bảo Định Giang trích dich
̣ và giới thiê ̣u [191] nhân dịp kỷ niệm 100
năm ngày mất của Nguyễn Thông. Ca Văn Thỉnh và Bảo Định Giang dựa trên quá trình
nghiên cứu thêm về Nguyễn Thông đã biên soạn lại, bổ sung thêm nhiều tài liệu mới thu
thập được. Khi đánh giá con người và tác phẩm của Nguyễn Thông, các nhà nghiên cứu


15

đều cho rằng Nguyễn Thông có nhiều đóng góp trên nhiều lĩnh vực và nhất trí xếp thơ
văn ông vào dòng thơ văn yêu nước cuối thế kỷ XIX.
Công trình Chân dung Phan Thanh Giản của Nguyễn Duy Oanh [146]; Kỷ yế u
Hội thảo khoa học về Phan Thanh Giản [54]; Nhận thức thêm một bước về thân thế, sự
nghiệp, cuộc đời của Phan Thanh Giản [171] đã tìm hiểu rõ hơn thân thế, sự nghiệp cũng
như nhận thức, đánh giá sâu thêm về Phan Thanh Giản. Công trình Phan Thanh Giản nỗi
đau trăm năm của Hoàng Lại Giang [49] đã dựng lại bức tranh khá hoàn chỉnh về cuộc
đời, con người Phan Thanh Giản và có những nhận định, đánh giá về ông như: “nhẫn
nhục, cam chịu và gắng gỏi” [49, tr.10], ra làm quan phò vua, giúp nước nhưng cảm thấy
mình tài hèn đức mỏng và luôn mang nỗi buồn mênh mông: “Chút nghĩa vương mang
phải gắng đi/ Tang bồng đành rõ chí nam nhi” [49, tr.147]. Công trình Thế kỷ XXI nhìn về
nhân vật li ̣ch sử Phan Thanh Giản [59] đã tập hợp những tham luận của 2 cuộc Hội thảo
gần đây nhất (1994, 2003) để ghi nhận một chặng đường nhận thức dài cùng với những
biến thiên của lịch sử đất nước. Không khí cởi mở, khoan dung đã đưa lại cách nhìn nhận,
đánh giá bớt khắt khe và công bằng hơn đối với Phan Thanh Giản. Chân dung Phan
Thanh Giản đang dần trở lại với cái nhìn đầy vị tha truyền thống của người Việt Nam.
Trong thời gian này, có nhiều tuyển tập tác phẩm Phan Thanh Giản và một số công trình
chuyên luận liên quan được xuất bản hay tái bản. Phan Thị Minh Lễ, Chương Thâu với
quyển Thơ văn Phan Thanh Giản [111] đã tập hợp tất cả những bài thơ do Phan Thanh

chính biên liệt truyện, tập 4, Huế, 1993, tr.46).
Đã có nhiều cuộc Hội thảo khoa học về Phan Thanh Giản tổ chức ở Vĩnh Long,
Bến Tre, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội. Gần đây nhất là cuộc tọa đàm Thế kỷ XXI
nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản với các nhận định: “Người có tội với dân với
nước là Tự Đức. Tư tưởng trung quân của đạo Nho đã buộc Phan Thanh Giản làm trái
với lương tâm và tấm lòng yêu nước, thương dân của mình” [59, tr.79]; “Phan Thanh
Giản nổi tiếng là một con người cương trực, khẳng khái, hiếu nghĩa, thanh liêm và được
người đời xưng tụng” [59, tr.91]; “Ông lấy cái chết để tự trừng phạt mình và để tỏ tấm
lòng trung nghĩa. Phải nói là lòng trung này của ông là khẳng định, là sự thực chân thành
và đẹp đẽ… Ông là người cha, người chồng làm tròn bổn phận, là người nói đến tình
nghĩa gia đình” [59, tr.105]; “Phan Thanh Giản cũng dần dần rơi vào bế tắc trên một lập
trường chính trị chiết trung. Vừa mong ái dân vừa muốn trung quân, cái tâm thế lưỡng
phân này khiến từ 1859 Phan không kế thừa được một cách tích cực truyền thống yêu
nước chống ngoại xâm của dân tộc…” [59, tr.282]; “Phan Thanh Giản là một vị quan có
trí thức, mẫn cán, thanh liêm, yêu nước và có nhân cách lớn”. Sự qui kết cho ông tội
“bán nước” hay “phản bội Tổ quốc” như trước đây là nặng nề, không có căn cứ, vừa
không đúng với hành động và động cơ của ông, vừa trái với tấm lòng ngưỡng mộ và
kính mến mà xưa nay nhân dân quê hương vẫn dành cho ông. Nguyên Thủ tướng Võ
Văn Kiệt phát biểu: “Nhân cách đạo đức của Phan Thanh Giản rất đáng để chúng ta và
nhiều thế hệ nối tiếp học tập”, “Tôi khẳng định Phan Thanh Giản là người yêu nước,
thương dân mà lo không tròn bổn phận” [59, tr.231, 234]. Trong bài viết “Một vài nét về
tư tưởng “an dân” của Phan Thanh Giản” (trong sách Những vấn đề văn hóa - xã hội
thời Nguyễn), Đặng Đức Thi nhận xét: “Phan Thanh Giản nói trung quân ái quốc chứ
không nói trung quân như Nho giáo chính thống. Với Phan Thanh Giản, trung quân ái


17

quốc gồm hai nghĩa: một là trung với vua, hai là yêu nước… ông lo cho dân cho nước,
chứ không chỉ lo cho vua” [119, tr.55].

Đình Chiểu toàn tập [189], [190]. Bộ sách được sưu tầm, biên soạn công phu góp
phần tạo thuận lợi cho việc tiếp cận di sản thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu.


18

Vũ Khiêu - Nguyễn Đức Sự với Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng của người trí
thức Việt Nam [70], đã nghiên cứu truyền thống của người trí thức Việt Nam, sự ảnh
hưởng của Nho giáo, việc vận dụng Nho giáo trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu và thái
độ của ông đứng trước nạn ngoại xâm. Trần Văn Giàu với Nguyễn Đình Chiểu đạo làm
người [38] đánh giá cao đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu: “Cuộc đời của Nguyễn
Đình Chiểu là một cuộc đời điển hình (sĩ phu yêu nước) trong một hoàn cảnh điển hình
(đất nước bị xâm lăng). Con người Nguyễn Đình Chiểu không phải sống tùy thời… mà
từ đầu chí cuối đứng sừng sững… đương đầu bất khuất với thời cuộc mỗi lúc thêm bi
đát, giữ được đến cùng cái chính khí bản thiên, cái ý chí quang phục, cái nhân cách Việt
Nam” [38, tr.6]. Gần đây, có thêm một số công trình nghiên cứu như chuyên luận
Nguyễn Đình Chiểu từ quan điểm thi pháp học của Nguyễn Phong Nam [136]; Nguyễn
Đình Chiểu ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc do Đoàn Lê Giang biên soạn
[45],… đã góp phần tích cực cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm Nguyễn
Đình Chiểu trong nhà trường. Có thể khẳng định, việc nghiên cứu, đánh giá Nguyễn
Đình Chiểu và sáng tác của ông đã có những bước tiến lớn,… Các nhà nghiên cứu thể
hiện thái độ nghiêm túc, khoa học khi đề cao con người, tư tưởng và thơ văn Nguyễn
Đình Chiểu. Tuy nhiên, vấn đề quan niệm trung nghĩa cũng như con người trung nghĩa
trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu còn nhiều bỏ ngỏ…
Việc nghiên cứu văn học nhà nho Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX có ý nghĩa tích
cực về mặt quan điểm, phương pháp nghiên cứu,… góp phần làm rõ hơn những giá trị
văn học nhà nho Nam Bộ và đóng góp của các tác giả vào quá trình phát triển của lịch
sử văn học dân tộc. Những thành tựu đã có trong tìm hiểu, nghiên cứu, đặc biệt trong
sưu tầm, tập hợp, biên dịch, biên soạn tư liệu về văn học nhà nho Nam Bộ là rất đáng
khẳng định. Đấy là thuận lợi lớn cho người đến sau trong tiếp cận văn học nhà nho Nam

“Đạo nho và các nhân vật trí thức trong sáng tác Nguyễn Đình Chiểu” có đề cập đến
tư tưởng trung quân của Nguyễn Đình Chiểu: “Nguyễn Đình Chiểu đã lên án hết sức
các vua chúa thuở xưa làm hại dân... Đối với các vua như thế thì “trung” sao được... vì
lòng yêu nước thương dân, đã quẳng chữ trung quân đi” [186, tr.243-244]. Trong bài
“Từ Lục Vân Tiên đến Dương Từ - Hà Mậu” [88], Nguyễn Văn Hoàn có nói đến tiêu
chuẩn của “Nghĩa” theo đạo Nho, tư tưởng “trung, nghĩa” tích cực trong Lục Vân Tiên,
quan niệm “nhân nghĩa” của nhà thơ gắn liền với “nợ nước, tình nhà”,... [186, tr.436].
Trần Ngọc Vương trong bài viết “Những đặc điểm mang tính quy luật của sự
phát triển văn học nhìn nhận qua sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu” khẳng định: “chủ đề
cơ bản trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu là “Vệ đạo, bảo dân, trung quân,
ái quốc”; “Hình tượng văn học của cuối thế kỷ XIX về cơ bản là sự kết tinh toàn bộ
những giá trị mà cũng là sự kết thúc của hình tượng người trung nghĩa” [186, tr.307,
310]. Ngoài ra, còn những nghiên cứu khác như: “Sự vận dụng Nho giáo trên lập trường
nhân dân của Nguyễn Đình Chiểu” của Nguyễn Đức Sự, “Tính nhân dân của Nguyễn
Đình Chiểu” của Phan Ngọc, “Truyện Lục Vân Tiên và vấn đề quan hệ đạo đức và thẩm
mỹ” của Lâm Vinh, “Nguyễn Đình Chiểu qua trang đời, trang văn” của Thạch Phương Mai Quốc Liên,... Về tác phẩm Lục Vân Tiên có một số học giả người Pháp như: G.
Aubaret, A. Michels, G. Jeanneau,... tìm hiểu giá trị nội dung, luân lý đạo đức cũng như
nghệ thuật diễn tả tâm lý, tình cảm nhân vật. Năm 1864, Gabriel Aubaret đã dịch Lục



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status