Thực trạng về chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi thuc tien Ha Noi - Pdf 47

Đề tài: Thực trạng về hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại Trung tâm Bảo
trợ xã hội IV Ba Vì-Hà Nội

MỞ ĐẦU
Hiện nay, tỷ lệ người cao tuổi( NCT) tại Việt Nam đang có xu hướng tăng nhanh. Số NCT
tăng lên do thành quả của công tác DS-KHHGĐ, số trẻ em giảm đi cùng với những cải thiện
đáng kể về y tế, dinh dưỡng và phát triển kinh tế - xã hội. Số NCT tăng là thành tựu của sự
phát triển nhưng cũng đang đặt ra khó khăn, thách thức. Với xã hội già hóa, thành phần cơ cấu
kinh tế, dịch vụ chăm sóc... sẽ phải thay đổi cho thích ứng. Tuy nhiên, Việt Nam là nước vừa
thoát "nghèo", lại chưa kịp chuẩn bị cho một xã hội già hóa là một thách thức rất lớn với chúng
ta trong giai đoạn tới. Do đó, nhu cầu chăm sóc sức khỏe NCT sắp tới là vấn đề rất lớn.
Do quá trình lão hoá, sức đề kháng và khả năng tự điều chỉnh của người cao tuổi (NCT)
giảm dần, cộng với sự hấp thụ dinh dưỡng, dự trữ năng lượng kém là những điều kiện làm cho
bệnh tật dễ phát sinh, phát triển nặng lên. Bệnh lý của NCT thường là đợt cấp của bệnh mạn
tính, tính chất đa bệnh lý và âm thầm làm cho khó chẩn đoán và phát hiện, khả
năng phục hồi kém…Vì vậy, nếu không được phát hiện, chăm sóc và điều trị tích cực, kịp thời
có thể dễ dẫn đến tình trạng sức khoẻ giảm sút và tử vong.
Hạn chế quá trình lão hoá và bệnh tật cho NCT, nhằm kéo dài cuộc sống khoẻ mạnh, hữu ích là
ước vọng ngàn đời của con người. Điều này phụ thuộc vào một phần rất quan trọng là dự
phòng, chăm sóc sức khoẻ (CSSK), nâng cao sức đề kháng cho NCT. Người cao tuổi là tầng
lớp đã có nhiều cống hiến lớn lao trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nước ta vì
vậy cần phải có những chính sách phù hợp nhằm bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi. Người
cao tuổi cần được tôn trọng, chăm sóc để tạo mọi điều kiện cho họ có điều kiện tiếp tục phát
huy những kinh nghiệm sống mà họ tích luỹ được góp phần xây dựng xã hội mới. Một trong
những khó khăn mà người ngưòi cao tuổi gặp phải đó là sự giảm sút nghiêm trọng về sức khoẻ
vì vậy tôi chọn đề tài: " Thực trạng Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ
xã hội IV Ba Vì –Hà Nội”làm đề tài tiểu luận môn CTXH với NCT

Phần I: Khái quát chung về công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
1.Một số khái niệm về chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
1.1Khái niệm người cao tuổi

sóc sức khỏe có một số đặc điểm riêng, đó là:
- Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khỏe ở mức độ khác
nhau. Chính vì vậy không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên thường người ta gặp khó
khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trước được.
- Dịch vụ y tế là loại hàng hóa mà người sử dụng ( người bệnh) thường không thể hoàn
toàn tự mình chủ động lựa chọn loại dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung
ứng ( cơ sở y tế). Cụ thể khi người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh, việc điều trị bằng phương
pháp nào, thời gian bao lâu hoàn toàn do thầy thuốc quyết định. Như vậy, người bệnh chỉ có
thể lựa chọn nơi điều trị, ở một chừng mực nào đó, người chữa cho mình chứ không được chủ


động lựa chọn phương pháp điều trị. Mặt khác, do dịch vụ y tế là loại hàng hóa gắn liền với
tính mạng con người nên mặc dù không có tiền nhưng vẫn phải khám chữa bệnh (mua). Đặc
điểm đặc biệt này không giống các loại hàng hóa khác, đó là đối với các loại hàng hóa không
phải là sức khỏe, người mua có thể có nhiều giải pháp để lựa chọn, thậm chí tạm thời không
mua nếu chưa có khả năng tài chính.
1.3 Nhu cầu chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Nhu cầu là một khái niệm mang tính khách quan, có thể được hiểu là những thiếu hụt về
một vấn đề nào đó. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe là người bệnh thực sự mắc bệnh hoặc cần
CSSK, cần được sử dụng các DVYT thích hợp để giải quyết vấn đề sức khỏe đó. Nhu cầu hàng
đầu đối với CSSK là phòng bệnh, phát hiện sớm bệnh, chữa bệnh kịp thời để tránh hoặc kéo dài
thời gian chuyển sang mạn tính, di chứng. Thực hiện công tác phục hồi chức năng, điều dưỡng,
chăm sóc cả tinh thần và thể chất nhằm giúp người bệnh hòa nhập trở lại với sinh hoạt bình
thường của cộng đồng xã hội .
Chăm sóc sức khỏe cho NCT là ph ng, chống sự già hóa quá sớm, đề ph ng và chữa trị
các bệnh tuổi già sinh ra bằng nhiều biện pháp khác nhau qua đó nhằm cải thiện tình trạng sức
khỏe (về cả thể xác lẫn tinh thần), giảm thiểu các bệnh mạn tính, tàn phế và tử vong khi bước
vào tuổi già. Nhu cầu CSSK ở NCT khác với những nhóm tuổi khác. Các nhu cầu chăm sóc của
NCT gồm: CSSK tâm thần, tâm lý, phục hồi về thính lực và thị lực, chăm sóc vệ sinh răng
miệng, dinh dưỡng đầy đủ, hợp lý và an toàn, phục hồi chức năng, nhà ở, môi trường sống và

2.1 Sơ lược về thực trạng người cao tuổi ở Viêt Nam
Hiện nay, ước tính NCT ở Việt Nam khoảng 10 triệu người. Dự báo vào năm 2050, số NCT sẽ
tăng lên 32 triệu người, đưa Việt Nam trở thành quốc gia “siêu già” trên thế giới. Điều này sẽ tạo
ra những thách thức rất lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển bền vững của quốc gia
và đặc biệt là vấn đề chăm sóc sức khỏe NCT.
Chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011, Việt Nam đang nằm trong tốp
5 quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Dự báo mới nhất của Ngân hàng Thế giới
cho thấy, thời gian quá độ chuyển từ “già hóa dân số” sang “dân số già” của Việt Nam chỉ có 15


năm. Ông Nguyễn Văn Tân, Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục DS-KHHGĐ (Bộ Y tế) cho
biết: Già hóa dân số nhanh sẽ tác động tới nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, như hệ thống an
sinh xã hội, việc làm, tuổi nghỉ hưu, quan hệ gia đình, tâm lý, lối sống… và đặc biệt là hệ thống
dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Theo kết quả Điều tra Quốc gia về NCT Việt Nam năm 2011, hơn
60% NCT cho biết tình trạng sức khỏe là yếu hoặc rất yếu cần người chăm sóc. Các bệnh mạn
tính thường gặp ở NCT là bệnh mạch vành, tăng huyết áp, đột quỵ, đái tháo đường, ung thư, tắc
nghẽn mạch phổi, thoái hóa khớp, loãng xương, sa sút trí tuệ… phải điều trị suốt đời.
Nhiều NCT đang phải đối diện với gánh nặng “bệnh tật kép” và thường mắc các bệnh mãn
tính. Trung bình mỗi NCT mắc 3 bệnh, trong đó chủ yếu là bệnh mạn tính như: Đái tháo đường,
tăng huyết áp, thoái hóa khớp, ung thư, đột quỵ… cần nhiều thời gian điều trị hay thậm chí phải
điều trị suốt đời. Họ cũng phải đối diện với nguy cơ tàn phế do quá trình lão hóa và chi phí điều
trị lớn. Trong khi đó, khoảng 70% NCT Việt Nam sống ở nông thôn là nông dân và làm nông
nghiệp; trên 70% NCT không có tích lũy vật chất và chỉ có chưa đầy 30% NCT sống bằng lương
hưu hay trợ cấp xã hội khiến cơ hội điều trị càng khó khăn.
Với thực trạng bệnh tật như trên, nhưng NCT chưa có các biện pháp phòng ngừa, quản lý
bệnh tật. Phần lớn, họ chưa có thói quen khám sức khỏe định kỳ, đến năm 2014, tỷ lệ NCT được
khám sức khỏe định kỳ chỉ là 27,5%. Hiện nay có khoảng 60% NCT tham gia bảo hiểm y tế,
nghĩa là 40% còn lại sẽ phải chi trả hoàn toàn chi phí khám chữa bệnh, trong khi chi phí khám
chữa bệnh đang ngày một tăng.
Để ứng phó với một xã hội già hóa, Bộ Y tế đã phê duyệt Đề án “Chăm sóc sức khỏe NCT

khỏe

dài

hạn

cho

NCT…

Với tỷ lệ người cao tuổi ngày càng nhiều thì những biện pháp trợ giúp tích cực, hiệu quả sẽ góp
phần để người cao tuổi “sống vui, sống khỏe”, là tấm gương cho con cháu học tập, noi theo.
2.2 Các quy định, chính sách liên quan chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
Hiện nay, xu hướng già hoá dân số đang là một thách thức không nhỏ đối với toàn nhân
loại trong thế kỷ XXI. Đó là vấn đề chăm sóc sức khỏe cho một số lượng lớn người cao tuổi
trong cộng đồng .
Nhận thức rõ được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác CSSK NCT, phát huy truyền
thống tốt đẹp của nhân dân ta, Đảng và Nhà nước coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật
chất, tinh thần của NCT trong đó có chăm sóc sức khỏe là đạo lý của dân tộc, là trách nhiệm của
toàn Đảng, toàn dân và các cấp chính quyền. Điều này đã được thể hiện qua việc ban hành nhiều
văn bản chính sách của Nhà nước trong công tác chăm sóc người cao tuổi.
Từ năm 1946, Điều 14 của Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hò a đã khẳng định
“Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ”. Qua các lần sửa
đổi, bổ sung, các bản Hiến pháp vẫn kế thừa và phát triển những quy định đó. Điều 64, Hiến
pháp năm 1992 quy định “Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ”. Điều
67 cũng ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và
xã hội giúp đỡ”.
Năm 1989, Quốc hội thông qua Luật Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong đó tại
Chương VII đề cập đến vấn đề bảo vệ sức khỏe NCT, tại điều Điều 41 ghi rõ: “NCT được ưu


Trung tâm bảo trợ xã hội IV - thuộc Sở Lao động Thương Binh và Xã hội được thành lập
tháng 10 năm 1984, đáp ứng yêu cầu công tác xã hội của Thành phố nhằm từng bước giải quyết


tình trạng người lang thang xin ăn, kiếm sống, trẻ lang thang đường phố và các đối tượng xã hội
khác để đảm bảo trật tự mỹ quan văn minh đô thị. Trung tâm là một cơ sở bảo trợ xã hội của
Thành phố Hà Nội, đặt trụ sở chính trên địa phận huyện Ba Vì, vùng đồi gò, bán sơn địa, với
diện tích 2,4 ha, cách Trung tâm thị trấn Tây Đằng 2km và cách thủ đô 60km về phía tây, có
đường giao thông thuận lợi cho việc đi lại, gần các cơ quan đảng, chính quyền, công an, quân
đội và bệnh viện Ba Vì, bệnh viện Sơn Tây,.. .Có hệ thống cây xanh, môi trường sinh thái trong
sạch. Ngoài ra, cơ sở 2 của Trung tâm đặt tại xã Xuân Sơn - thị xã Sơn Tây với diện tích 5 ha,
cách thị xã Sơn Tây 12km, có đường giao thông thuận tiện đi lại, có nhiều cây xanh thoáng mát.
Đơn vị có đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức trẻ, khoẻ, trách nhiệm, nhiệt tình, có năng
lực trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, có truyền thống tốt đẹp trong suốt 25 năm qua và được sự
quan tâm chỉ đạo của Sở Lao động Thương Binh và Xã hội Hà Nội, các cơ quan của Thành phố,
các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân, các nhà hảo tâm thường xuyên quan tâm giúp đỡ.
về cơ sở vật chất: Trung tâm có cơ sở hạ tầng tốt, hệ thống nhà nuôi dưỡng các đối tượng
được xây dựng kết cấu tốt, đảm bảo mát mẻ về mùa hè, ấm áp ừong mùa đông, có hệ thống
cưng cấp nước sạch, nhà ăn, nhà bếp sạch sẽ, khu vệ sinh khép kín, có các tủ chuyên dừng bảo
quản thức ăn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Các phòng ở được trang bị giường, tủ, quạt
điện, các dãy nhà có


phòng đọc sách báo, xem tivi. Ngoài ra, Trung tâm còn có vườn cây ăn quả sinh thái, khu
chăn nuôi, ao cá,... Có khu học nghề và các trang thiết bị giảng dạy cho trẻ em.
Với hai cơ sở có diện tích vừa phải thuận lợi cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, tổ chức lao
động, chăn nuôi trồng trọt, hướng nghiệp dạy nghề cho các nhóm đối tượng xã hội.
1.2 Những vấn đề liên quan đến nct tại Trung tâm:
Đối với người già cô đơn, không nơi nương tựa được nuôi dưỡng lâu dài Trung tâm có
những chính sách quản lý và chăm sóc như sau:

so với NCT nam nhưng khả năng tự phục vụ ở NCT nữ kém hơn so với NCT nam, chỉ có
một số lượng nhỏ NCT không tự phục vụ, cần được sự chăm sóc của người thân. Trung
bình NCT mắc 1,79 bệnh, thấp hơn tỷ lệ bệnh tật trung bình hiện nay. Những căn bệnh phổ


biến mà NCT hay gặp phải là bệnh huyết áp/ tim mạch, bệnh đường hô hấp, bênh xương
khớp và bệnh về mắt.
2.1.2. Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại cơ sở y tế
Do các bệnh viện cấp trung ương đều tập trung tại Hà Nội nên khả năng tiếp cận của NCT
dễ dàng, đa phần NCT đều thấy thuận lợi. Bên cạnh đó các cơ sở 2 của các bệnh viện được
đầu tư xây mới tại khu vực ngoại thành, ven đô nên khả năng tiếp cận cơ sở y tế của người
cao tuổi Hà Nội không có sự khác biệt theo khu vực sống.
Số lần khám trung bình của NCT trong tháng qua từ 1-2. Có sự khác biệt về nhóm tuổi và
khu vực sống tác động đến số lần khám của NCT. NCT khu vực thành thị có xu hướng đi
khám nhiều hơn khu vực nông thôn và NCT nhóm 60-69 tuổi khám nhiều hơn 2 nhóm tuổi
còn lại. Xu hướng NCT chỉ đi khám khi ốm đau.
NCT có xu hướng đi khám chữa bệnh tại các cơ sở tuyến trên, cao nhất là tuyến trung ương.
Tuyến y tế cơ sở có ít người cao tuổi lựa chọn. NCT đô thị chọn khám y tế tư nhân nhiều
hơn NCT nông thôn. 50% số người cao tuổi tự đi khám, có sự khác biệt trong nhóm tuổi về
người đưa đi khám, nhóm 60-69 tuổi tự đi khám là chủ yếu, nhóm 70-79 do con trai đưa đi
nhiều hơn và nhóm 8+ do con gái đưa đi.
2.1.3.Tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng.
Số lượng người cao tuổi được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc y tế, tư vấn về chăm
sóc sức khỏe là rất cao. Hơn 1/3 Số người cao tuổi được hưởng dịch vụ tư vấn về dinh
dưỡng.
Không có nhiều khác biệt về khu vực sống với việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm
sóc sức khỏe tại cộng đồng
2.1.4.Sự hài lòng của người cao tuổi đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Đa phần NCT hài lòng về cơ sở vật chất, trang thiết bị vật tư của các cơ sở y tế hiện nay.
Mức độ hài lòng của người cao tuổi về trình độ chuyên môn của bác sĩ theo kết quả thu

2.2.2 Chăm sóc dinh dưỡng:
Tình trạng dinh dưỡng của người già phụ thuộc vào trạng thái thể lực, tâm lý và xã
hội, người cao tuổi thường gặp vấn đề về răng miệng, sức nhai kém nên khó nghiền nát
thức ăn, đồng thời các men tiêu hóa giảm nên người cao tuổi thường hay bị rối loạn tiêu
hóa. Do vậy nếu không có chế độ ăn uống tốt, hợp lý sẽ xảy ra nhiều bệnh. Trung tâm quan
tâm xây dựng chế độ dinh dưỡng phù hợp cho đối tượng cao tuổi. Ăn đầy đủ các chất
nhưng không ăn quá no và ăn nhiều thức ăn có nguồn gốc thực vật như rau, đậu v.v... Thức
ăn nêm vừa phải, không quá mặn cũng không quá lạt. Cần hạn chế đồ xào, tăng cường thức
ăn tươi hoặc luộc. Ăn chậm, nhai kỹ làm cho thức ăn dễ tiêu hóa, giờ ăn trong ngày nên ổn
định. Ngoài ra cần phải uống nước để tránh sỏi đường niệu và táo bón. Tuy nhiên không
nên uống quá nhiều dẫn đến tình trạng tiểu nhiều lần, nhất là ban đêm sẽ ảnh hưởng đến
giấc ngủ. Chỉ cần 1 - 1,5 lít nước/ngày là đủ cung cấp cho các hoạt động của cơ thể.
2.2.3 Giấc ngủ với người cao tuổi:
NCT thường ít ngủ và có rối loạn về giấc ngủ với các rối loạn thường gặp như: Ngủ
gà gật ban ngày, ít ngủ về đêm. Ngủ không ngon giấc, dễ có ác mộng, dễ tỉnh giấc vì một
tiếng động nhỏ. Tuy nhiên, chỉ cần ngủ 5 - 6 tiếng mỗi đêm, giấc ngủ sâu, không có ác
mộng là có thể đảm bảo sức khỏe tốt, nếu ngủ quá nhiều cũng gây hại cho sức khỏe. Để
đảm bảo giấc ngủ tốt cần tập những thói quen như: Ngủ và dậy vào những giờ nhất định,
ngủ sớm và dậy sớm tốt hơn ngủ muộn và dậy muộn. Tránh xem ti vi quá khuya. Chuẩn bị
tốt chỗ ngủ đảm bảo yên tĩnh, thông thoáng về mùa hè và ấm áp vào mùa đông.
2.2.4 Hoạt động vận động:
Người ta thường nghĩ rằng người cao tuổi cần được nghỉ ngơi nhiều, nhưng chính sự
không hoạt động lại không tốt cho sức khỏe. Những vận động nhẹ nhàng hoặc tập luyện thể
lực phù hợp giúp tránh thoái hóa khớp và tăng cường sức khỏe cho bản thân. Các vận động
mà người cao tuổi có thể thực hiện như đi bộ có thể giúp cho người cao tuổi vẫn giữ độ săn


chắc của cơ bắp và làm chậm quá trình loãng xương, tập thể dục đều đặn làm giảm nguy cơ
tim mạch như cao huyết áp, tai biến mạch máu não, loãng xương và giúp ổn định đường
huyết. Cơ thể năng vận động sẽ hoạt động hài hòa, đem đến cảm giác dễ chịu, vui tươi, trí

hoạt động sản xuất và với kinh nghiệm sống của mình góp phần xây dựng kinh tế đất nước.
- Hỗ trợ, mở rộng các chính sách phù hợp khuyến khích các cơ sở dạy nghề của người
cao tuổi để người cao tuổi có cơ hội truyền đạt các kinh nghiệm sống của mình tới thế hệ
trẻ.
3.2. giải pháp chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi trên lĩnh vực đời sống vật chất
chung.
- Đảm bảo mức sống tối thiểu cho người cao tuổi và gia đình họ để người cao tuổi có
thể tiếp tục sống và sống có ích.
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân có những chương trình hoạt động nhằm chăm sóc
người cao tuổi đặc biệt là người cao tuổi cô đơn.


- Xây dựng và tạo sự thích nghi của hệ thống bảo hiểm với mọi thành phần của người
cao tuổi nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa những người cao tuổi. Tạo mối quan hệ tương hỗ
giữa các thế hệ, xoá bỏ mọi sự ngăn cách, hạn chế sự lệ thuộc của người cao tuổi vào thế hệ
trẻ. - Xây dựng các hình thức tổ chức nhằm khuyến khích người cao tuổi dành dụm, tiết
kiệm tiền cho tuổi già.
3.3. giải pháp bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi.
- Phát triển hệ thống dịch vụ về y tế, chăm sóc sức khoẻ và chữa trị một cách hiệu quả
các bệnh lý của người cao tuổi.
- Khuyến khích các biện pháp chữa bệnh sớm và các biện pháp phòng ngừa để tránh
bệnh tật khi về già và tránh già trước tuổi.
- Khuyến khích sự kết hợp giữa các dịch vụ y tế và dịch vụ xã hội.
- Xúc tiến các hoạt động hướng dẫn người cao tuổi tự chăm sóc bản thân ở những nơi
cân thiết.
- Phát triển các tiềm năng và công nghệ cần thiết cho những người câng giáo dục,
chăm sóc về sức khoẻ.
- Nghiên cứu các bệnh lý liên quan đến tuổi già và có các biện pháp phòng chống
thích hợp. - Phát triển mở rộng các dịch vụ y tế thuận lợi để người cao tuổi có điều kiện
được chăm sóc sức khoẻ, chữa trị bệnh tật.

Tăng cường quản lý giám sát bệnh mãn tính, và hoạt động y tế dự phòng cũng như trang
bị kiến thức tự chăm sóc cho NCT để tăng số năm khỏe mạnh.
Phát triển nhân lực lão khoa, đào tạo nhân viên tế nhà cung cấp dịch vụ dựa vào điều
kiện của thành phố
2.Trách nhiệm của gỉa đình và các tổ chức đoàn thể trong vỉệc hỗ trợ về mặt sức khỏe
đối với người cao tuỗỉ.
> Trách nhiệm của gia đình
- Con cháu luôn chý ý tới sức khỏe của người cao tuổi, tạo môi trường thuận lợi nhất
để họ có cơ hội rèn luyện sức khỏe.
- Cần tôn trọng, thương yêu và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi một cách chu
đáo nhất.
- Trách nhiệm của ông bà, cha mẹ là dạy dỗ con trẻ, tạo điều kiện để con trẻ phát triển.
- Nhà nước cần phải có các chính sách khuyến khích các cá nhân, tổ chức nghiên cứu
và phát triển các dịch vụ gia đình và giảm nhẹ lao động gia đình để các thành viên
trong gia đình có điều kiên quan tâm chăm sóc lẫn nhau.
> Trách nhiệm của Nhà nước, Hội, Đoàn thể tại địa phương
- Đưa ra các chính sách chăm sóc sức khỏe, y tế đối YỚi người cao tuổi.
- Tuyên truyền và mở các cuộc Hội thảo về bảo vệ và chăm sóc sực khỏe cho người
cao tuổi tại địa bàn đang sinh sống.
- Cần phải có các chương trình, dự án tiêm chủng, khám sức khỏe, phát thuốc miễn
phí cho người cao tuổi.
- Kêu goi các tổ chức, cá nhân cung cấp các dịch vụ xã hội và y tế cho người cao tuổi.
- Quan tâm về sức khỏe - y tế hơn nữa tới những người cao tuổi găpk khó khăn trong
cuộc sống.
- Hình thành mạng lưới chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi từ Trung ương tới địa
phương.


3.Trách nhiệm của gỉa đình và các tổ chức đoàn thể trong vỉệc hỗ trợ vật chất cho người
cao tuổi

ngoài gia đình, để họ có thể gửi gắn tâm tư, nguyện yọng, tham gia đóng góp ý kiến của
mình vào sự phát triển của đất nước.
KẾT LUẬN
Hiện nay, người cao tuổi trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang có xu
hướng tăng nhanh. Đây là mối quan tâm chung của nhiều quốc gia. Ở Việt Nam nói chung và
Ba Vì-Hà Nội nói riêng trong các vấn đề của người cao tuổi thì vấn đề chăm sóc sức khoẻ của
người cao tuổi là một vấn đề đáng quan tâm. Chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi ở nước ta hiện
nay nó vừa mang ý nghĩa kinh tế chính trị, xã hội mà còn mang ý nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu
sắc.


NCT là một kho tàng kiến thức, kinh nghiệm sống. NCT góp phần quan trọng trong việc
khuyên dạy con cháu, dòng họ, giúp nhiều người áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, kinh
nghiệm vào sản xuất, kinh doanh, giáo dục, nâng cao chất lượng cuộc sống...cho đất nước. Do
vậy, họ cần phải được tôn trọng và ứng xử thích hợp, thể hiện truyền thống nhân ái và thủy
chung mà nền văn hóa Việt Nam luôn luôn đề cao. Tôn trọng và chăm sóc người cao tuổi cũng
có nghĩa là tạo điều kiện cho họ có thể tiếp tục phát huy những kinh nghiệm sống mà họ tích
lũy được góp phần xây dựng xã hội mới trong những hoàn cảnh thích hợp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Báo cáo của phòng Lao động thương binh và xã hội TP Hà NỘi,2016
2.
Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình,2016
3.
Báo cáo công tác chăm sóc ngườicao tuổi của TP Hà Nội
năm 2016
4.
http://giadinh.net.vn/dan-so/gia-hoa-dan-so-va-nhung-thach-thuc-1-buc-tranhchung-ve-gia-hoa-20110518094915878.htm
5.
http://www.hspi.org.vn/vcl/vn/upload/info/attach/12496182558590_CSSK_va_Th


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status