PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ BẢO LỘC
TRƯỜNG TIỂU HỌC LỘC CHÂU 2
Mã số: ................................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN MIÊU TẢ
CHO HỌC SINH LỚP BỐN
Người thực hiện: VÕ
THỊ PHƯƠNG YẾN
Năm học: 2016 - 2017
Lộc châu, Ngày 12 tháng 11 năm 2017
1
MỤC LỤC
I . PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.....................................................................Trang 3
2. Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài .................................................Trang 3
3. Đối tượng nghiên cứu .............................................................Trang 3
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu .................................................Trang 3
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận…………………………………………………..Trang 4
2. Thực trạng ……………………………………………………Trang 4
3. Biện pháp thực hiện…………………………………………...Trang 6
3.1 Rèn luyện kỹ năng quan sát cho học sinh ………………...Trang 6
cây cối, tả con vật. Tất cả đều là các chủ đề khá gần gũi nhưng khó so với các em
vì khả năng trình bày, diễn đạt vấn đề thông qua nói và viết đối với nhiều em là rất
khó khăn, lúng túng; các em rất e ngại, sợ phải trình bày, diễn giải một vấn đề nào
đó mà thầy cô, bạn bè yêu cầu. Nhiều em rất sợ, rất ngán ngẩm khi nhắc đến Tập
làm văn. Bản thân các em cũng gặp nhiều khó khăn trong việc cảm nhận cái hay,
cái đẹp trong các bài văn, bài thơ được học.
Với mong muốn giúp các em biết diễn đạt trôi chảy, trình bày những câu
văn, ý văn giàu hình ảnh, có cảm xúc, tôi đã mạnh dạn đặt vấn đề và thực hiện:
“Một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp Bốn
2. MỤC TIÊU NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Mục tiêu của việc dạy văn miêu tả ở tiểu học là giúp HS có thói quen quan
sát, biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế giới xung quanh; biết truyền
những rung cảm của mình vào đối tượng miêu tả; biết sử dụng những từ ngữ có giá
trị biểu cảm, những câu văn sáng rõ về nội dung, chân thực về tình cảm. Một bài
văn hay là một bài văn mà khi đọc, người đọc thấy hiện ra trước mắt mình: con
người, cảnh vật, đồ vật,…cụ thể, sống động như nó vẫn tồn tại trong thực tế cuộc
sống. Như vậy, có thể xem văn miêu tả là một bức tranh về sự vật bằng ngôn từ.
Và để làm tốt một bài văn miêu tả, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng
hợp của các môn học. Kiến thức của các môn học này cộng với vốn sống thực tế se
giúp học sinh trình bày suy nghĩ của mình một cách mạch lạc và sống động.
Qua đó, bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương đất nước, vốn sống, vốn
ngôn ngữ và khả năng giao tiếp.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Thể loại văn miêu tả lớp 4
- Học sinh lớp 4 trường tôi công tác
4. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Các dạng văn miêu tả ở lớp 4: Miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con
vật
3
Còn học sinh, đa phần các em chỉ dừng lại ở mức độ trả lời, liệt kê các chi tiết,
các bộ phận của sự vật theo gợi ý của thầy cô một cách máy móc, khuôn mẫu. Mặt
khác, với đa số học sinh lớp Bốn, vốn từ ngữ của các em còn rất nghèo nàn, việc
diễn đạt câu văn, ý văn còn nhiều hạn chế. Nhất là khi làm các bài Tập làm văn
miêu tả, các em chỉ dừng lại ở việc liệt kê các chi tiết, các bộ phận của sự vật một
cách đơn giản dẫn đến câu văn hết sức khô khan. Thậm chí, có những em khi miêu
tả một sự vật thì không biết phải bắt đầu từ đâu, không biết phải tả những gì, tả thế
nào, …
4
a. Thuận lợi
+ Nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện công tác chuyên môn nhằm
nâng cao tay nghề cho GV.
+ Tổ chuyên môn đã tổ chức chuyên đề dạy học, hội giảng TLV lớp 4 - 5.
+ GV đều được trang bị đầy đủ SGK, SGV, sách tham khảo…
+ Đối tượng miêu tả khá gần gũi với HS nông thôn (cái cặp, cây bàng, cây
phượng ở sân trường, con gà…)
+ Đặc điểm tâm lý của HS có tâm hồn trong sáng, thơ ngây, giàu cảm xúc và
sức sáng tạo. Thế giới của các em là thế giới cổ tích. Những đồ vật, con vật, cây
cối, rất gần gũi mà các em có thể bộc lộ tâm tư, chia sẻ tình cảm của mình qua bài
văn miêu tả. Đặc điểm tâm lý này rất thuận lợi trong việc khơi gợi cho các em
những cảm xúc miêu tả thú vị, bất ngờ…
b. Khó khăn:
- Mỗi bài văn miêu tả hay lại đòi hỏi khả năng tưởng tượng và sử dụng
ngôn ngữ diễn đạt thật sinh động. Thực tế cho thấy, đa số HS lớp 4 viết văn miêu
tả chưa hay, sắp xếp ý còn lộn xộn, lủng củng, hình ảnh trong bài văn còn chưa gợi
tả, ít liên tưởng hoặc chỉ là sao chép một cách sống sượng bài văn mẫu.
- TLV là phân môn khó dạy, khó học và khó đạt hiệu quả cao đã là nhận thức
chung của nhiều thầy cô giáo dạy lớp 4.
sánh… Để làm nổi bật lên những đặc điểm tiêu biểu của sự vật. Nghĩa là trên cơ sở
có sự thu thập trực tiếp các nhận xét, ấn tượng, cảm xúc…của mình, HS mới bắt
tay vào làm bài.
Luyện tập quan sát giúp HS tích lũy vốn sống, vốn từ, rèn luyện tư duy logic, tư
duy hình tượng trong bài văn. Thông qua quan sát, HS có thêm vốn hiểu biết về các
đối tượng xung quanh mình. Với HS, đây không phải là lần đầu tiên các em tiếp
xúc hay quan sát đối tượng đó, các em được quan sát một cách có ý thức, có mục
đích rõ ràng và được quan sát theo một phương pháp khoa học. Thông qua quan sát
có mục đích và phương pháp khoa học như thế, HS còn nhận ra đâu là dấu hiệu bản
chất và không bản chất để phân biệt đồ vật này với đồ vật khác. Đồng thời, khi
quan sát và tìm ra từ ngữ để diễn đạt những gì mình đang thấy hoặc đang tưởng
tượng ra, HS cũng sử dụng và tích lũy cho mình một số vốn từ khá phong phú.
3.2 Hướng dẫn học sinh biết tìm ý và lập dàn ý cho bài văn cụ thể:
Dù đây là một yêu cầu rất thường xuyên nhưng trên thực tế lại có rất nhiều
em không thể thực hiện được, có những em không biết lập dàn ý là làm cái gì, để
làm gì. Bởi le, ở những lớp dưới, các em không phải làm việc này, mà các em chỉ
viết câu văn, đoạn văn bằng cách trả lời những câu hỏi cho sẵn hoặc dựa vào
những gợi ý của thầy cô một cách đơn giản, ngắn gọn. Trong khi lên lớp Bốn thì
việc lập dàn ý cho một đề bài cụ thể (loại bài miêu tả) là yêu cầu bắt buộc các em
phải biết thực hiện, tự thực hiện để dựa vào đó mà hoàn chỉnh đoạn văn, bài văn.
Để giúp các em dễ dàng hơn trong việc tự lập dàn ý cho bài văn, khi dạy học
các bài Cấu tạo của bài văn miêu tả (tả đồ vật, tả cây cối và tả loài vật), tôi chủ động
giúp các em dựa vào nội dung phần Ghi nhớ trong sách giáo khoa, cùng xây dựng
một dàn bài chung cho loại bài văn miêu tả đang học. Dàn bài chung này tôi se ghi cố
định ở một bảng phụ để làm cơ sở cho học sinh xây dựng dàn ý riêng cho mỗi bài văn
miêu tả sau này. Dàn bài này cũng được sử dụng chung cho cả lớp trong các tiết tập
làm văn có yêu cầu viết một đoạn văn hay hoàn chỉnh một bài văn.
Ví dụ: Khi dạy bài Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật (sách giáo khoa lớp
Bốn, tập hai, trang 112), sau khi giúp học sinh rút được nội dung ghi nhớ như trong
sách giáo khoa, tôi se chủ động bám vào nội dung phần ghi nhớ, dùng câu hỏi gợi
nói, viết. Nhưng học sinh còn lúng túng không biết lắng nghe gì? Nói gì? Viết gì?
Vì vậy, dạy học cho học sinh biết quan sát tìm ý để hình thành thói quen chuẩn bị
bài tốt là một yêu cầu quan trọng khi làm văn. Muốn quan sát tốt, học sinh cần nắm
được cách quan sát và những yêu cầu quan sát để làm văn. Cùng một đối tượng (Ví
dụ cùng một con gà trống) nhưng mỗi cá nhân lại có sự cảm nhận riêng (có em
thích màu sắc bên ngoài, có em thích dáng vẻ oai vệ, có em lại thích tiếng gáy, …).
Giáo viên phải tôn trọng ý kiến của các em, không phê phán vội vàng, chủ quan,
phải giúp học sinh tự tin trong học tập. Tuy nhiên, để miêu tả một đối tượng nào đó,
giáo viên cần giúp các em biết quan sát đối tượng theo từng góc nhìn, từng thời
điểm, biết cảm nhận và chọn “điểm nhấn” của đối tượng tạo ra nét riêng biệt trong
bài văn của mình. Do vậy, để đảm bảo tính chân thực của bài miêu tả cần phải được
bắt nguồn từ quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả, kết hợp với kinh nghiệm sống, trí
tưởng tượng của học sinh, phải thể hiện được tình cảm, cảm xúc thực của các em
7
trước đối tượng miêu tả. Tính chân thực đòi hỏi phải có chi tiết thực, tả đúng bản
chất của đối tượng miêu tả, thể hiện được những nét đẹp đe, đúng đắn trong tư
tưởng, tình cảm của người học sinh khi bộc lộ thái độ của các em với đối tượng
miêu tả.
Để thực hiện những yêu cầu trên, tôi thường hướng cho học sinh thực
hiện thật tốt từng bước:
+ Xác định cụ thể và chọn một đối tượng cần quan sát (đó là vật gì? hoặc con
gì? hay cây gì?)
+ Quan sát sự vật bằng các giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác và
cả xúc giác. Trước tiên là quan sát bao quát đối tượng và cảm nhận (nó đẹp, dễ
thương, hoặc oai phong, hay dữ tợn,..), rồi quan sát từng bộ phận của đối tượng
theo một trình tự nhất định (từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, hoặc đầu, mình rối
đến chi, …) Quan sát thật kĩ những bộ phận của sự vật mà em thích thú, ấn tượng.
Khi quan sát sự vật, các em cũng có thể trao đổi theo nhóm với nhau để tìm ra
đoạn văn miêu tả con vật): Trước tiên, tôi giới thiệu cho các em hình ảnh hoặc
videoclip về một số con gà trống cho các em chọn lựa và quan sát một con mà em
thích. Tiếp đó là cùng với việc sử dụng Dàn bài chung của bài văn miêu tả con vật
đã xây dựng (nội dung Tả hình dáng ở phần thân bài), tôi se lần lượt hướng cho
các em nêu các bộ phận tiêu biểu của con gà trống và những ý văn, câu văn, hình
ảnh so sánh, nhân hóa mà mình cảm thấy hay, phù hợp, có thể sử dụng để miêu tả
các bộ phận đó. Lúc này các em có thể kết hợp vừa quan sát trực tiếp hình ảnh giáo
viên cung cấp, vừa dựa vào những điều mình đã ghi chép khi chuẩn bị ở nhà để
thực hiện yêu cầu của thầy cô. Với những từ ngữ, ý văn các em nêu được, tôi gợi ý
cho lớp cùng nhận xét, bình và chọn những từ ngữ, ý văn hay, hình ảnh đẹp, phù hợp
rồi ghi nhanh lên bảng làm cơ sở cho các em chọn lựa, vận dụng chính những từ ngữ,
câu văn, ý văn được lớp đánh giá cao theo ý thích của riêng mình để thực hiện yêu
cầu của bài tập.
3.5 Biết diễn đạt câu văn (nói, viết) trọn ý, sắp xếp các ý, các câu văn
lôgic; biết kiểm tra, rà soát lại bài viết về nội dung, cách diễn đạt:
* Tập diễn đạt câu văn (nói, viết) trọn ý, sắp xếp các ý, các câu văn lôgic:
Các em se biết tự diễn đạt câu văn trọn ý khi các em biết sắp xếp các từ ngữ
thành câu văn đúng ngữ nghĩa, biết sắp xếp các câu văn thành đoạn văn lôgic,
đúng chủ đề. Tuy nhiên, đây là việc làm rất khó, cần được tập luyện thường xuyên
và khá mất thời gian, mà thời gian ở các tiết học Tập làm văn lại có hạn, vì vậy,
bản thân tôi thường thực hiện không chỉ ở các tiết Tập làm văn mà ở cả các tiết
học khác như Luyện từ và câu hay Chính tả. Với những bài tập có yêu cầu liên
quan đến việc phải trình bày, sắp xếp các ý, câu văn lôgic, hoặc ở một số tiết Tập
làm văn, tôi thường chủ động chuẩn bị các từ ngữ, câu văn theo chủ đề nhất định
cho học sinh hoạt động theo dự kiến. Cho các từ ngữ, yêu cầu học sinh dùng
những từ ngữ đó sắp xếp lại thành những câu văn hoàn chỉnh (hoặc dùng những
câu văn sắp xếp thành đoạn văn) theo chủ đề mà giáo viên yêu cầu. Tiếp đó có thể
tổ chức nhận xét, đánh giá, sửa chữa. Cần đánh giá, nhận xét trên sự sáng tạo của
học sinh, tôn trọng ý tưởng của học sinh, không nhất thiết phải đúng theo mẫu ấn
định sẵn. Tuy nhiên cũng cần phải điều chỉnh, sửa chữa nếu chưa phù hợp. Ngoài
tay. Sau đó se chọn lựa một số câu và ghi ra giấy dán vào mục “Lời hay ý đẹp” ở
lớp để giới thiệu cho các bạn khác cùng tham khảo. Chính bản thân tôi là người
thường xuyên đọc những “lời hay ý đẹp” mà các em sưu tầm được để khi gặp
trường hợp có thể vận dụng, “trộm” những từ ngữ, ý văn đó mà các em không nhớ,
không biết vận dụng tôi se chủ động gợi ý giúp các em nhớ lại, tập vận dụng vào
bài của mình. Hoặc khi phát hiện các em biết học tập, bắt chước cách diễn đạt,
cách dùng từ ngữ, ý văn của người khác (không sao chép), tôi se động viên, khích
lệ các em tiếp tục phát huy. Ngoài ra, tôi còn thường xuyên tổ chức cho các em
nhận xét, đánh giá bài của bạn (cách dùng từ, đặt câu, ...) rồi rút kinh nghiệm, vận
dụng vào bài của mình theo các bước:
+ Chọn đọc bài, câu văn của bạn và trao đổi, bàn bạc, suy nghĩ tìm ý hay,
cách chỉnh sửa những ý chưa hay, chưa phù hợp.
+ Rút kinh nghiệm, học tập ở bài làm của bạn để bổ sung, chỉnh sửa bài làm
của mình.
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI:
Với những biện pháp như đã trình bày ở trên đã giúp cho cả giáo viên và học
sinh tự tin, chủ động hơn trong các tiết học tập làm văn (văn miêu tả). Các giờ Tập
làm văn cũng trở nên nhẹ nhàng, sinh động hơn.
Học sinh không còn lúng túng trong việc lập dàn ý cho mỗi bài văn; việc viết
một đoạn văn, hay bài văn của các em trở nên dễ dàng hơn. Các em đã biết miêu tả
một số đặc điểm của một sự vật cụ thể theo yêu cầu, biết viết câu văn đúng ngữ
pháp, rõ ý; biết sử dụng những từ ngữ sát nghĩa, có tác dụng gợi tả, gợi cảm; bước
10
đầu biết sử dụng biện pháp tu từ đơn giản khi viết văn. Lời văn, ý văn của các em
không còn nặng tính liệt kê hay kể lể nữa.
Nhờ vậy mà chất lượng phân môn Tập làm văn cũng như môn Tiếng Việt đã
nâng lên rõ rệt. Xin trích dẫn vài số liệu thống kê kết quả khảo sát khả năng làm
(Thang điểm 5)
đầu năm học
cuối học kì I
cuối học kì II
4,5-5
0
4
6
3,5-4
2
5
9
2,5-3
9
10
12
2
11
6
2
(1996)
4. Dạy văn cho học sinh tiểu học - NXB GD. Hoàng Hòa Bình (1997),
5. Phương pháp dạy học tiếng Việt - NXB GD Lê Phương Nga - Nguyễn Trí
(2002),
6. Dạy tập làm văn ở trường tiểu học - NXB GD Nguyễn Trí (2002),
7.SGK Tiếng Việt lớp 4 - NXB GD. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2010),
Lộc châu, Ngày 12 tháng 11 năm 2014
Người thực hiện
Võ Thị Phương Yến
12
13