Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản và đánh giá hiệu quả dùng vaccine trong phòng bệnh cho gà Cáy Củm sinh sản. (Khóa luận tốt nghiệp) - Pdf 47

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VY THỊ LUYẾN

Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN VÀ ĐÁNH GIÁ
HIỆU QUẢ DÙNG VACCINE TRONG PHÕNG BỆNH CHO GÀ
CÁY CỦM SINH SẢN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2016
LỜI CẢM ƠN

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VY THỊ LUYẾN

Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN VÀ ĐÁNH GIÁ
HIỆU QUẢ DÙNG VACCINE TRONG PHÕNG BỆNH CHO GÀ
CÁY CỦM SINH SẢN


Vy Thị Luyến


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Bố trí thí nghiệm .......................................................................................22
Bảng 4.1. Chế độ chiếu sáng cho đàn gà ..................................................................31
Bảng 4.2. Lịch phòng vaccine cho gà .......................................................................32
Bảng 4.3. Kết quả công tác tiêm phòng ....................................................................33
Bảng 4.4a. Kết quả công tác điều trị bệnh lô 1 .........................................................38
Bảng 4.4b. Kết quả công tác điều trị bệnh lô 2 .........................................................38
Bảng 4.5. Tổng hợp kết quả công tác phục vụ sản xuất............................................39
Bảng 4.6. Kích thước các chiều đo của gà Cáy Củm sinh sản (cm) .........................39
Bảng 4.7. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm ............................................................40
Bảng 4.8. Khối lượng của gà thí nghiệm qua các giai đoạn tuổi (g) ........................42
Bảng 4.9. Kết quả các chỉ tiêu sinh sản của gà TN ...................................................43
Bảng 4.10. Kết quả chi phí thức ăn của gà thí nghiệm .............................................44
Bảng 4.11. Đặc điểm sinh học về khả năng sinh sản của gà Cáy Củm ...................44
Bảng 4.12. Kết quả tình hình mắc bệnh của gà Cáy Củm ........................................45
Bảng 4.13. Kết quả sử dụng thuốc điều trị bệnh cho gà Cáy Củm ..........................46


iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

cs


ĐVT

: Đơn vị tính

KL

: Khối lượng


iv

MỤC LỤC
Trang

LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... i
Phần 1 MỞ ĐẦU ............................................................................................. 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU .......................................................... 3
2.1. Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài ......................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm về giống gà.............................................................................. 3
2.1.2. Giới thiệu về giống gà Cáy Củm............................................................. 4
2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà ..................................... 10
2.1.4. Một số bệnh thường gặp........................................................................ 11
2.2. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước ............................................ 17
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 17
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ......................................................... 19

1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước ta là một nước nông nghiệp. Bên cạnh trồng trọt, ngành chăn nuôi nói
chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân. Chăn nuôi cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng cho con người, là
cung protein cho chúng ta, ngoài ra còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho
ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến.
Chính vì thế, Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới phát triển chăn nuôi
nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng nhằm không ngừng nâng cao năng suất,
hiệu quả chăn nuôi, cải thiện đời sống nhân dân.
Trong những năm gần đây, sự du nhập các giống mới, đặc biệt là các giống
nhập nội có năng suất cao đã làm suy giảm nguồn gen của các giống bản địa và gây
nên những tổn thất nguồn gen rất đáng tiếc trong bảo tồn đa dạng sinh học.
Thực tiễn tại nước ta, việc mở rộng giao lưu, giao thông, giao thương và phát
triển khá mạnh mẽ các chương trình khuyến nông đã mang đến các giống/ dòng vật
nuôi mới có năng suất cao đã gây áp lực rất lớn với những giống nội địa với năng
suất bị giảm dần, hoặc đang dần tuyệt chủng hoặc bị lai tạp.
Gà Cáy Củm là một giống gà địa phương mới được phát hiện tại vùng sâu
vùng xa của miền núi, theo người dân địa phương thì đây là giống gà không có phao
câu, thịt thơm ngon nhưng lại ít người biết đến. Hiện nay, giống gà này có mặt tai
xã Đức Xuân, huyện Hòa An và một vài hộ ở xã Lưu Ngọc, huyện Trà Lĩnh, tỉnh
Cao Bằng và đang được nuôi nghiên cứu ở Thái Nguyên.
Gà Cáy Củm đang ngày càng giảm dần về số lượng, còn lại rất ít được nuôi
rải rác tại một số hộ dân của người dân tộc H’mông ở vùng sâu, vùng xa địa hình
hẻo lánh. Để chăm sóc tốt giống gà Cáy Củm, tăng số lượng giống gà này thì chúng
ta cần biết về đăc tính sinh sản của giống gà này và quy trình phòng trị bệnh cho để
đạt được hiệu quả chăn nuôi tốt nhất.

mắt, dái tai, kiểu mào, màu mỏ, qua đó chia ra những màu sắc và hình dạng đặc
trưng cho từng giống gà, kèm theo đó là sự khác biệt giữa gà trống và gà mái với
từng chỉ tiêu đó. Kết quả nghiên cứu của Đặng Hữu Lanh và cộng sự, (1999) [9]
cho biết màu sắc da, lông là tín hiệu để nhận dạng một số gia cầm. Đây là đặc điểm
quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng khi thu mua gia cầm, nó đã đi vào khía cạnh
thẩm mỹ của con người và gà ta có màu của lá chuối khô, da vàng, chân vàng sẽ
được ưu tiên.
Tính trạng ngoại hình còn là chỉ tiêu đánh giá phẩm giống, nếu màu lông của
đàn gà có sự đồng nhất cao cho thấy giống gà đó thuần, theo đánh giá của
Johansson (1972) [8]. Sắc tố da, lông ở gia cầm được xác định bởi hai yếu tố
Melanin và Xantophyl. Xantophil là sắc tố ở dạng tinh thể màu vàng, nằm ở da, mỏ
và chân. Melanin tồn tại dạng hạt, có ở da và gốc lông, sự xuất hiện của Melanin
không phụ thuộc vào lứa tuổi.
Đầu: Cấu tạo xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh
giá đầu gia cầm. Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra kết luận và sự
phát triển của mô đỡ và mô liên kết. Gà trống có ngoại hình đầu giống gà mái sẽ có
tính dục kém, gà mái có ngoại hình của gà trống sẽ không cho năng suất cao, trứng
thường không phôi. Mào là đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp có thể phân biệt trống
mái. Mào gà có hình thái rất đa dạng cả về hình thái, kích thước, màu sắc, có thể
đặc trưng cho từng giống. Hình dáng của mào, mào dưới và mào tai có thể biết
được sức khỏe và điều kiện sống của chúng.
Bộ lông: Lông là 1 dẫn suất của da, thể hiện đặc điểm di truyền của giống và có
ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại. Khi mới nở, gia cầm non được lông tơ che
phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ dần dần được thay thế bằng lông cố định.


4

2.1.2. Giới thiệu về giống gà Cáy Củm
Gà Cáy Củm hay còn gọi là gà cúp (gà không có phao câu). Gà Cáy Củm là

5

* Đặc điểm về tập tính
Sống theo đàn, tính tình hiền lành, linh hoạt, nhanh nhẹn.
- Khả năng sản xuất
Khối lượng gà trưởng thành:
Con trống: 2,0 – 2,5 kg.
Con mái: 1,3 – 2,0 kg.
Tuổi thành dục:
Trống : 150 ngày
Mái: 130 ngày
Tuổi đẻ lứa đầu: 150 ngày
Sản lượng trứng: 13 – 16 quả/lứa, 130 – 150 quả/năm.
Trọng lượng trứng: 35 – 45 gam/ quả.
Vỏ trứng thường có màu trắng, một số ít có màu nâu.
Khoảng cách lứa đẻ: Trung bình 20 ngày.
Thời gian ấp nở: 21 ngày Tỷ lệ ấp nở là: 80%.
* Khả năng sản xuất
Khái niệm sinh trưởng: Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất do đồng
hóa và dị hóa, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, chiều ngang, khối lượng của
các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở đặc tính di truyền từ thế hệ trước.
“Thực chất của sinh trưởng chính là tăng trưởng và phân chia của các tế bào trong
cơ thể.
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [11] đã khái quát: “Sinh trưởng
là quá trình tích lũy các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng chiều cao,
chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di
truyền có từ đời trước”.
+ Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn cơ thể
hay từng bộ phận cơ thể tăng lên trong một đơn vị thời gian.
+Sinh trưởng tương đối: Là phần khối lượng kích thước, thể tích của toàn cơ

Ruột chiều dài của ruột phụ thuộc vào loài, tuổi và đặc điểm thức ăn. Chiều
dài là 170 cm gấp 6 lần chiều dài của thân. Ruột được chia làm 2 phần: Ruột non và
ruột già.
Trong phần ruột non gồm: Tá tràng, ruột non và hồi tràng. Ở khoảng giữa
phần ruột non có mấu vàng thô sơ phân chia ruột non với hồi tràng. Phần ruột già có


7

manh tràng và trực tràng. Ruột già không phát triển, nó do trực tràng thô ngắn và
hai manh tràng đổ vào đoạn đầu trực tràng tạo thành. Trực tràng thông ra lỗ huyệt.
Tuyến tụy nằm ở đoạn vòng tá tràng có dạng dải và màu vàng.
Gan là một trong những tuyến to nhất, gan gà nặng 30 - 40 g. Gan tiết ra dịch
mật đổ vào tá tràng, gan thực hiện chức năng bảo vệ: Tiêu các chất độc xuất hiện
trong máu từ ruột vào dạ dày. Ở giai đoạn bào thai, gan thực hiện chức năng tạo
máu. Gan nằm sau tim, có màu xám hoặc màu vàng.
* Đặc điểm về khả năng điều tiết thân nhiệt
Gà con lúc mới nở còn rất yếu nên chúng cần phải có những điều kiện môi
trường đặc biệt.
Do nhiệt độ của cơ thể cao, gà con có lớp lông tơ mỏng manh và khả năng
sinh nhiệt kém nên dễ mất nhiệt, giảm thân nhiệt và chết vì lạnh, vì vậy cần phải
sưởi ấm cho gà con. Tuần đầu tiên gà con yếu nhất, cần ấm và thoáng khí.
Gà con lúc mới nở khả năng điều tiết thân nhiệt cũng chưa hoàn chỉnh, thân
nhiệt còn chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài. Gà con có thân nhiệt thay đổi
khi nhiệt độ bên ngoài xuống thấp quá dưới 150C hoặc quá cao trên 380C. Do đó gà
con rất ngạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ của môi trường bên ngoài (Phạm Văn
Hùng, 2004) [7].
* Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Gà con mới nở có thân nhiệt chưa ổn định, thân nhiệt thấp hơn gà trưởng
thành (380C), khả năng điều tiết thân nhiệt kém, khả năng miễn dịch cũng kém nên

này đi thẳng vào dạ dày, không qua túi diều. Ở gà, diều chứa được 100 – 120 g thức
ăn. Thức ăn ở diều được làm mềm ra, quấy trộn và được tiêu hoá từng phần bởi các
men của thức ăn và các vi khuẩn nằm trong thức ăn thực vật.
- Tiêu hóa ở dạ dày
Thức ăn từ diều được chuyển vào dạ dày tuyến, nó có dạng ống ngắn, vách
dày, được nối với dạ dày cơ bằng một eo nhỏ. Vách dạ dày tuyến cấu tạo gồm màng
nhày, cơ và mô liên kết. Bề mặt của màng nhầy có những nếp gấp dễ thấy, đậm và
liên tục.
Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit clohidric,
enzim và musin. Dịch dạ dày tinh khiết là một chất lỏng không màu hoặc hơi trắng đục,
có pH axit. Độ pH của dịch dạ dày ở gia cầm trung bình là 3,0; thường là 2,6. Độ pH sẽ
giảm xuống sau khi tiếp nhận thức ăn giàu chất kiềm, cacbonat canxi, bột xương.


9

Dạ dày cơ (mề) có dạng hình đĩa, hơi bị bóp ở hai bên, nằm ở phía sau thuỳ
trái của gan và lệch về khoang bụng trái. Lối vào và lối ra ở dạ dày cơ rất gần nhau,
nhờ vậy, thức ăn được giữ lại tại đây lâu hơn, chúng sẽ bị nghiền nát bằng cơ học,
trộn lẫn với men và được tiêu hoá dưới tác dụng của các dịch dạ dày cũng như
enzim và chất tiết của vi khuẩn. Dịch tiêu hoá không được tiết ra ở dạ dày cơ.
Sự co bóp nhịp nhàng của mề xảy ra trong 2 pha: Trong pha đầu, 2 cơ chính
co bóp; và sau đó là các cơ trung gian (pha thứ 2). Thời gian của mỗi nhịp co của 2
đôi cơ ở gà trong khoảng 2 - 3 giây, còn cả chu kỳ co bóp là 20 giây. Tần số co bóp
phụ thuộc vào độ rắn của thức ăn. Khi ăn thức ăn ướt có 2 lần co bóp, còn thức ăn
cứng 2 - 3 lần trong 1 phút.
Nếu không có sỏi trong dạ dày cơ thì sự hấp thu các chất dinh dưỡng và hệ
số tiêu hoá thức ăn bị giảm xuống. Ở gia cầm non, việc thiếu sỏi trong dạ dày làm
giảm khối lượng tuyệt đối của dạ dày 30 - 35%. Các cơ của dạ dày sẽ trở nên nhũn
và xuất hiện những vết loét trên màng nhầy.

tính trạng riêng lẻ. Trong thực tế sản xuất cũng như nghiên cứu, để xác định mức độ
ảnh hưởng của di truyền đến sinh trưởng của vật nuôi người ta sử dụng hệ số di
truyền (h2). Tài liệu của Đặng Hữu Lanh và cộng sự (1999) [9] cho biết gà 23 tuần
tuổi có hệ số di truyền và khối lượng cơ thể là 0,55; khối lượng trứnglà 0,50; sản
lượng trứng là 0,10. Theo Đặng Vũ Bình (2002) [2] người ta phân chia hệ số di
truyền thành 3 nhóm, hay nói cách khác là các tính trạng thường gặp có 3 mức khác
nhau về hệ số di truyền:
- Các tính trạng có hệ số di truyền thấp (từ 0 - 0,2) thường bao gồm các tính trạng
về tốc độ sinh sản như tỷ lệ đẻ, tỷ lệ nuôi sống, số con đẻ ra/ lứa, sản lượng trứng...
- Các tính trạng có hệ số di truyền trung bình (từ 0,2 - 0,4) thường bao gồm các
tính trạng về tốc độ sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cơ thể...
- Các tính trạng có hệ số di truyền cao (từ 0,4 trở lên) thường bao gồm các
tính trạng thuộc về phẩm chất sản phẩm như khối lượng trứng, tỷ lệ mỡ sữa, tỷ lệ
nạc trong thân thịt.
+ Giống: Khả năng sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào mỗi dòng, giống
và mỗi cơ thể. Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau có khả năng
sản xuất khác nhau. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1995) [6] thì sự khác nhau về


11

khối lượng gia cầm là rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn giống gà hướng trứng
13- 30%. Giống gà thịt có tốc độ sinh trưởng cao hơn giống gà kiêm dụng và gà
hướng trứng. Chế độ chăm sóc và điều kiện ngoại cảnh phù hợp với tính trạng sinh
trưởng ở mỗi giống sẽ khác nhau.
+ Tính biệt: Tốc độ sinh trưởng ở động vật nói chung và gia cầm nói riêng
còn do tính biệt quy định, trong đó con trống tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái.
Theo nghiên cứu của các nhà di truyền học về gia cầm, thì thật sự khác nhau về
khối lượng giữa con trống và con mái là do gen liên kết với giới tính quy định ở gà
trống hoạt động mạnh hơn gà mái.

dày tuyến xuất huyết và loét. Thành ruột xuất huyết và loét hình cúc áo. Van hồi
manh tràng xuất huyết.
* Biện pháp phòng trị:
+ Phòng bệnh: Không nên nuôi chung gà các lứa tuổi. Đảm bảo chuông nuôi,
thức ăn, nước uống sạch sẽ gà được ăn uống đủ chất đủ lượng. Không nhốt chung
gà mới mua về với gà khoẻ đang nuôi. Cần nuôi cách ly riêng ít nhất 10 ngày. Biện
pháp hữu hiệu nhất là sử dụng vaccine phòng bệnh cho gà theo lịch ở các độ tuổi
khác nhau.
+ Điều trị bệnh: Khi có bệnh Newcastle xảy ra nên làm: Báo ngay cán bộ thú
y cơ sở. Dùng vaccine cho những đàn chưa mắc bệnh, bổ xung thuốc bổ tăng sức đề
kháng cho đàn gà. Cách ly đàn gà ốm, đốt xác gà ốm, chết hoặc chôn rồi rắc vôi bột.
Không bán chạy gà ốm. Không được đến thăm các nơi nuôi gà khác. Sát trùng
chuồng nuôi, sân thả gà, dụng cụ chăn nuôi và khu vực xung quanh hàng ngày. Thu
dọn chất thải phân đem đốt hàng ngày. Rắc vôi bột để cách ly chuồng nuôi với khu
vực xung quanh và rắc ở lối ra vào chuồng nuôi. Khi đã nổ bệnh có thể đưa vaccine
trở lại nhưng tỷ lệ khỏi bệnh không cao.
b. Bệnh đậu gà
* Đặc điểm chung:
Do virus gây ra, virus có sức đề kháng cao, tồn tại lâu trong môi trường. Tạo
thành những mụn đậu ở những phần không có lông (mào, tích, xung quanh mắt).
Gây tỷ lệ chết cao cho gà con. Bệnh xảy ra quanh năm. Có thể phòng bằng vaccine.


13

* Đường lây lan:
Chủ yếu qua các vết xây sát ở vùng da không có lông. Lây trực tiếp từ gà
ốm sang gà khoẻ. Do muỗi đốt truyền mầm bệnh từ con ốm sang con khoẻ.
* Triệu chứng (những biểu hiện bên ngoài):
Dạng ngoài da: Mụn đậu mọc ở những vùng da không lông (mào, tích, xung

* Triệu chứng:
Biểu hiện các khối u ở trong cơ thể gà giai đoạn gà từ 15 - 30 tuần tuổi, gà
giảm ăn tiêu chảy, giảm tỷ lệ đẻ, niêm mạc nhợt nhạt, đi lại khó khăn bại liệt, xã
cánh một bên, hô hấp khó khăn tỷ lệ chết từ 5 - 30%.
* Bệnh tích:
Sưng tổ chức thần kinh vận động nằm ở dọc cột sống. Thần kinh hông cánh
sung to phù, khối u ở cơ quan nội tạng như gan, lách, buồng trứng.
* Biện pháp phòng trị:
+ Phòng bệnh: Phòng bằng vaccine theo lịch phòng bệnh chung và theo
hướng dẫn của nhà sản xuất.
+ Điều trị bệnh: Không có thuốc điều trị bệnh này.
2.1.4.2. Một số bệnh vi khuẩn thường gặp
a. Bệnh tụ huyết trùng
* Đặc điểm của bệnh:
Do vi khuẩn gây nên. Các loại gà đều mắc. Bệnh gây chết nhanh và nhiều
trong cùng một thời gian. Bệng hay tái phát trong cùng một khu vực. Có thể phòng
bằng vaccine và điều trị bằng kháng sinh.
* Đường lây lan:
Qua đường tiêu hoá, hô hấp. Do tiếp xúc giữa gà ốm với gà khoẻ, do thức ăn
nước uống nhiễm mầm bệnh.
* Triệu chứng (những biểu hiện bên ngoài):
Tuỳ thuộc vào mức độ gây bệnh của mầm mà bệnh có thể phát ra nhanh hay
chậm. Trường hợp bệnh cấp tính: Gà chết đột ngột, đang đi lăn đùng ra chết. Chết
khi đang nằm trong ổ đẻ. Trường hợp bệnh mãn tính: Gà ủ rũ bỏ ăn đi lại chậm
chạp, nước nhầy chảy ra từ miệng, đôi khi lẫn máu. Mào tích tím bầm. Phân
lỏng hoặc xanh đôi khi có dính máu. Gà khó thở, chết do ngạt thở, xác tím bầm,
máu đông kém. Nếu bệnh kéo dài, viêm kết mạc mắt, tích sưng, khớp sưng đi
lại khó khăn.





16

Xoang mũi thanh khí quản xuất huyết lấm tấm, đầy dịch nhày. Túi khí (vùng
ngực bụng) viêm dày hơn và đục, có thể viêm dính bã đậu.
- Biện pháp phòng trị:
+ Phòng bệnh: Đảm bảo các biện pháp vệ sinh phòng bệnh đặc biệt chú ý
chỉ mua gà từ các cơ sở giống tốt để gà không bị bệnh, đảm bảo chuồng thông
thoáng, sạch sẽ khô ráo, đủ ấm về mùa đông, mát về mùa hè. Mật độ gà nuôi trong
chuồng phải phù hợp tránh nuôi quá đông.
+ Điều trị bệnh: Khi gà mắc bệnh có thể dùng một số chế phẩm như:
Tylosin, Tylan, Tyamulin, Nofloxacin, Enrofloxacin, Octacin- en.....để điều trị, liều
lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất, bổ sung thêm vitamin tổng hợp, B
complex, đường glucoza. Khắc phục nguyên nhân làm bệnh tái phát như nhiệt độ,
độ ẩm, thông thoáng....
* Bệnh cầu trùng
- Đặc điểm chung:
Bệnh do một loại ký sinh trùng đặc biệt gọi là cầu trùng có kích thước rất
nhỏ gây nên. Gà mọi lứa tuôỉ đều mắc, nặng nhất là gà 1 - 2 tháng tuổi, bệnh xảy ra
quanh năm nặng nhất vào vụ xuân hè khi thời tiết nóng ẩm gà nuôi nhốt chật chội,
đệm lót chuồng ẩm ướt là điều kiện thụân lợi để bệnh bùng phát .
- Đường lây lan:
Do gà nuốt phải noãn nang trứng cầu trùng có trong thức ăn, nước uống chất
độn chuồng nên mắc bệnh noãn nang cầu trùng có sức đề kháng cao trong môi
trường, có thể tồn tại hàng tháng trong điều kiện bình thường, khó bị tiêu diệt bằng
các loại thuốc sát trùng bị tiêu diệt chậm dưới ánh nắng mặt trời, dễ bị tiêu diệt ở
nhiệt độ cao 600C.
- Triệu chứng (biểu hiện bên ngoài):
Gà ủ rũ bỏ ăn uống nhiều nước phân lỏng, máu tươi hoặc có màu sôcôla xẫm

Vào những năm gần đây, nghành chăn nuôi ở nước ta đã phát triển rất nhanh
và đạt được những tiến bộ rõ rệt. Chăn nuôi gia cầm có giá trị sản xuất 1.701 tỷ
đồng năm 1986 tăng lên 3.712,8 tỷ đồng năm 2002, năm 2006 đạt 9.244,3 tỷ đồng
chiếm 19% trong chăn nuôi. Tổng đàn gia cầm năm 1986 có 99,9 triệu con đến năm
2003 đạt 254 triệu con (gà 185 triệu con; vịt, ngan, ngỗng 69 triệu con), tốc độ tăng
bình quân 7,85%/ năm. Trong đó tổng đàn gà thời gian 1990 – 2003 tăng từ 80,18
triệu con lên 185 triệu con, tốc độ tăng bình quân 7,7%/ năm. Từ năm 2003 do ảnh
hưởng của dịch cúm nên đầu con có giảm.


18

Trong những năm từ 2004 - 2006 Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy
Phương - Viện Chăn nuôi đã triển khai đề tài nghiên cứu sản xuất thịt gà an toàn
chất lượng cao ở khu vực đồng bằng sông Hồng và miền Đông Nam bộ, bước đầu
cũng đã xây dựng được quy trình an toàn sinh học và thú y phòng trị bệnh cho một
số giống gà lông màu, kết quả là đàn gà đạt tỷ lệ nuôi sống cao, không xảy ra dịch
bệnh khi đã sử dụng vaccine, đặc biệt là trong tình hình dịch cúm đang diễn ra rất
nặng nề, song đàn gà vẫn đảm bảo an toàn tuyệt đối với bệnh này, Phùng Đức Tiến
và cs (2008) [15].
Năm 2006 tổng đàn gia cầm đạt 214,6 triệu con, trong đó gà 152 triệu con,
thủy cầm 62,6 triệu con. Một số vùng kinh tế sinh thái có số lượng gia cầm lớn như:
Vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Bắc Bộ là hai vùng có số lượng gia cầm lớn
nhất tương ứng 58,4 và 42,5 triệu con; Đồng bằng Sông Cửu Long 36,4 triệu con;
Vùng Bắc Trung Bộ 33,2 triệu con; Đông Nam Bộ 15,4 triệu con; Duyên Hải Miền
Trung 12,5 triệu con; Tây Bắc 8,8 triệu con.
Năm 1999, Kim Thị Phương Oanh đã sử dụng phương pháp đa hình các
đoạn cắt giới hạn (RFLP) nghiên cứu vùng D-loop của 3 loài gà lôi Việt Nam
gồm: Gà lôi lam đuôi trắng, trĩ bạc và gà lôi hông tía. Các kết quả thu được cho
thấy sự sai khác về trình tự nhận biết các enzyme trong vùng trình tự nói trên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status