LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và
rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” là bài nghiên cứu
của chính tôi.
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi
cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng
được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác.
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong
luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định.
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các
trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác.
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017
Tác giả
Phạm Hồng Vy
i
LỜI CÁM ƠN
Tôi xin trân trọng cám ơn giảng viên hướng dẫn PGS.TS. Võ Xuân Vinh.
Thầy đã rất nghiêm túc và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực
hiện luận văn, giúp tôi hoàn thành luận văn với nội dung đạt yêu cầu và tốt
nhất trong khả năng của tôi.
Tôi cũng xin cám ơn đến Ban giám hiệu, Khoa sau đại học trường Đại học
Mở Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập
và nghiên cứu tại trường. Bên cạnh đó, tôi cũng biết ơn đối với tất cả Thầy, Cô
trực tiếp đứng lớp đã truyền đạt những bài giảng giúp tôi củng cố đến kiến
thức về Tài chính – Ngân hàng.
Sau cùng, tôi xin chân thành cám ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
khoản và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn từ
2007 đến 2015 nhưng các biến trễ của từng rủi ro lại ảnh hưởng đến chính rủi
ro đó.
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
LỜI CÁM ƠN ............................................................................................................. ii
TÓM TẮT ............................................................................................................... iii
MỤC LỤC ............................................................................................................... iv
DANH MỤC BẢNG ................................................................................................. vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ......................................................................... vii
1. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ....................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề ........................................................................................................ 1
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu ....................................................................... 3
1.2.1.
Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................... 3
1.2.2.
Câu hỏi nghiên cứu ................................................................................. 3
1.3. Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu ................................................. 3
1.4. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................. 3
1.5. Ý nghĩa nghiên cứu .......................................................................................... 4
1.6. Kết cấu của luận văn ........................................................................................ 4
2. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT...................................................................... 6
2.2.5.
Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng ...................................................... 15
2.3. Lý thuyết về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng ........... 15
iv
2.4. Một số nghiên cứu thực nghiệm xem xét mối quan hệ giữa rủi ro thanh
khoản và rủi ro tín dụng ......................................................................................... 18
2.5. Giả thuyết nghiên cứu .................................................................................... 19
3. CHƯƠNG 3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................ 20
3.1. Dữ liệu nghiên cứu ......................................................................................... 20
3.2. Mô hình nghiên cứu ....................................................................................... 21
3.2.1.
Biến nghiên cứu .................................................................................... 21
3.2.2.
Các biến kiểm soát ................................................................................ 22
3.3. Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 26
3.3.1.
Dữ liệu bảng .......................................................................................... 27
3.3.2.
v
DANH MỤC BẢNG
STT
NỘI DUNG
TRANG
1
Bảng 3.1. Mô tả các biến trong nghiên cứu
25
2
Bảng 4.1. Thống kê mô tả các biến
31
3
Bảng 4.2. Ma trận tương quan giữa các biến
33
4
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
TMCP
Thương mại cổ phần
TMNN
Thương mại nhà nước
TCTD
Tổ chức tín dụng
VAR
Mô hình tự hồi quy dạng vectơ
vii
Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam
xét sự tương tác của rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và tác động của sự tương tác
đó đến sự ổn định của ngân hàng từ nhiều góc độ khác nhau nhưng chủ yếu là từ
một quan điểm lý thuyết, đó là không chỉ rủi ro thanh khoản hay rủi ro tín dụng tác
động đến tính ổn định của ngân hàng mà cả sự tương tác giữa rủi ro thanh khoản và
rủi ro tín dụng cũng có ảnh hưởng đến tính ổn định của ngân hàng (Acharya et al.
2010; Acharya & Viswanathan 2011; Cai & Thakor 2008; Gatev và cộng sự 2009;
Goldstein & Pauzner 2005; Gorton & Metrick 2012; He & Xiong 2012a, 2012b;
Wagner 2007).
Bằng chứng từ những thất bại của các ngân hàng trong giai đoạn khủng
hoảng tài chính gần đây đã hỗ trợ cho các kết quả về lý thuyết và thực nghiệm.
Imbierowicz & Rauch (2014) dựa trên kết quả phân tích báo cáo của FDIC và OCC
về nguyên nhân thất bại của các NHTM trong suốt thời kỳ khủng hoảng gần đây là
do tác động đồng thời của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng. Các ngân hàng
không phân biệt được sự khác nhau giữa tài sản có tính thanh khoản cao, tài sản có
tính thanh khoản thấp, các nguồn tài trợ tương ứng, và cũng không quan tâm đến
những RRTD của các tài sản. Vì thế, các ngân hàng không có sự tính toán chuẩn bị
cho sự xảy ra đồng thời của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng trong hệ thống
quản lý rủi ro của ngân hàng.
Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu phân tích sâu ở các khía cạnh
khác nhau về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các ngân
hàng thương mại ở Việt Nam. Để hiểu rõ về mối quan hệ chung cũng như chiều
hướng tác động giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng, tác giả chọn đề tài nghiên
cứu “Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng
thương mại Việt Nam”. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung cơ sở lý thuyết và
bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng.
Từ đó, nghiên cứu giúp các nhà quản trị rủi ro có cái nhìn tổng quát về mối quan hệ
2
Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam
năm 2015, với 30 ngân hàng và 203 quan sát. Dữ liệu về các biến của nghiên cứu
gồm rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng và các biến kiểm soát đều được thu thập từ
báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại, website của ngân hàng nhà nước,
tổng cục thống kê, World Bank và Investing1. Sau khi thu thập và sàng lọc dữ liệu,
tác giả tính toán, đưa vào mô hình và phân tích với phần mềm Eviews, từ đó đưa ra
kết luận về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng.
1.5. Ý nghĩa nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như thực tiễn.
Về mặt khoa học, nghiên cứu góp phần vào bổ sung cơ sở lý thuyết về mối
quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng của ngân hàng. Luận văn cũng
đưa ra các bằng chứng thực nghiệm để kiểm chứng và bổ sung các nghiên cứu trước.
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu sẽ đưa ra những bằng chứng thực nghiệm mang
tính chất tham khảo cho các nhà quản trị rủi ro của ngân hàng, từ đó các nhà quản trị
có cái nhìn bao quát hơn về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng
để xây dựng chiến lược phù hợp để giảm thiểu rủi ro trong ngân hàng. Điều này
không chỉ góp phần duy trì sự ổn định của từng ngân hàng đơn lẻ mà còn giúp hạn
chế được rủi ro trong toàn hệ thống ngân hàng trong bối cảnh kinh tế hiện nay.
1.6. Kết cấu của luận văn
Nội dung của đề tài nghiên cứu gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu bao gồm: lý do nghiên cứu, mục
tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên
cứu, ý nghĩa nghiên cứu.
1
/>
4
NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động
các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán; hoặc do các nguyên
nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM, theo đó rủi ro thanh
khoản sẽ kéo theo những hậu quả không mong muốn. Vento & La Ganga (2009)
định nghĩa rằng, rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng không có đủ tài chính để
thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn hoặc phải sử dụng những nguồn tài chính khác
với chi phí cao mặc dù ngân hàng vẫn có khả năng thanh toán. Nikolaou (2009) định
nghĩa rủi ro thanh khoản là rủi ro xảy ra khi trong một khoảng thời gian nhất định,
ngân hàng không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình ngay lập tức.
2.1.2. Phân loại rủi ro thanh khoản
Theo Duttweiler (2008), khi nói đến đặc tính của các nguồn thanh khoản,
người ta thường phân biệt theo: tính sẵn có, cơ cấu đáo hạn, cấu trúc chi phí và rủi
ro thanh khoản. Về mặt cấu trúc, chúng thường được chia thành bốn nhóm sau:
6
Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam
Rủi ro thanh khoản rút tiền trước hạn: điều này liên quan đến tài sản và nợ.
Những khoản tiền gửi có thể được rút sớm trước ngày tới hạn thay vì chờ đến thời
gian đáo hạn.
Rủi ro thanh khoản có kỳ hạn: điều kiện thanh toán khác đi so với các điều
kiện của hợp đồng. Ví dụ việc trả nợ có thể bị trì hoãn.
Rủi ro thanh khoản tài trợ: Nếu một tài sản không được tài trợ hợp lý, việc
tài trợ một thương phiếu (CP) theo sau đó có thể phải được thực hiện trong những
điều kiện bất lợi, nghĩa là với giá chênh lệch cao hơn. Trong trường hợp xấu, quỹ
tiền thậm chí có thể bị rút nhiều như đã giải thích trong phần rủi ro thanh khoản rút
tiền trước hạn.
Rủi ro thanh khoản thị trường: một lần nữa thanh khoản thị trường lại có liên
được với lãi suất cao, đặc biệt là đối với nguồn vốn vay. Có thể nói áp lực rất lớn khi
các ngân hàng này phải gánh chịu chi phí cao để có thể khắc phục khó khăn trong
việc giải quyết vấn đề thanh khoản. Quy mô vốn điều lệ nhỏ có thể là một trong
những nguyên nhân đẩy ngân hàng thương mại đến tình trạng mất khả năng chi trả
và phá sản khi nhu cầu thanh khoản tăng đột ngột.
Thứ tư, do kinh doanh nhiều loại tiền tệ, tạo nên rủi ro thanh khoản và yêu
cầu tài trợ trong từng loại tiền tệ.
Thứ năm, do uy tín của ngân hàng bị giảm khiến khách hàng gửi tiền nhanh
chóng rút tiền gây nên rủi ro thanh khoản. Đây là hệ quả của việc kinh doanh yếu
kém, công tác quảng cáo chưa được đầu tư thỏa đáng.
Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, do các tài sản tài chính có tính nhạy cảm với sự biến động của lãi
suất. Lãi suất thay đổi ảnh hưởng lứn đến tâm lý của người gửi tiền. Trường hợp lãi
8
Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam
suất tăng, khách hàng sẽ rút tiền để gửi vào nơi có lãi suất cao hơn còn các khách
hàng vay giảm tối đa việc vay mới để tránh trả lãi nhiều hơn. Khi lãi suất giảm thì
phản ứng ngược lại. Trong cả hai trường hợp, biến động lãi suất ảnh hưởng đến cả
dòng tiền gửi lẫn cho vay, cuối cùng ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân
hàng. Ngoài ra, việc thay đổi lãi suất sẽ ảnh hưởng đến thị giá của tài sản tài chính
đem bán và ảnh hưởng đến chi phí đi vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng.
Thứ hai, chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước. để thực hiện chức năng
của mình trong điều hành chính sách tiền tệ, ngân hàng nhà nước sử dụng ba công
cụ bao gồm: nghiệp vụ thị trường mở, quy định về dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết
khấu, và tái chiết khấu các giấy tờ có giá.
Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) là hoạt động của ngân hàng nhà nước mua
cuối năm các doanh nghiệp thường đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, quyết toán
công nợ cho những doanh nghiệp khác, chi trả lương thưởng cho cán bộ nhân viên,
thực hiện cam kết giải ngân cho các đối tác, giải quyết hàng tồn kho, nhập khẩu
hàng hóa…tạo nên nhu cầu tiền nhiều vào những tháng cuối năm làm tăng cầu về
thanh khoản cho ngân hàng thương mại.
Thứ năm, do tính chất đặc biệt của ngành kinh doanh tiền tệ đòi hỏi ngân
hàng thương mại phải luôn sẵn sàng đáp ứng cầu chi trả tức thì. Đối với lĩnh vực
kinh doanh khác, các doanh nghiệp có thể trì hoãn nợ với khách hàng, chậm thanh
toán với đối tác, thậm chí chủ động chiếm dụng vốn của đối tác kinh doanh…nhưng
với ngân hàng thương mại kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ hết sức nhạy cảm, ngân
hàng thương mại không thể trì hoãn chi trả. Bất cứ một sự chậm trễ thanh toán nào
đều có thể gây tâm lý lo lắng trong công chúng và nếu ngân hàng thương mại không
giải quyết ngay khó khăn này, khách hàng có thể kéo đến ngân hàng để rút tiền, khó
khăn thanh khoản sẽ trở nên trầm trọng và ngân hàng thương mại có thể bị phá sản.
Mặt khác, trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng thương mại , bên tài sản nợ luôn
10
Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam
có một tỷ lệ nhất định các khoản tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn nhưng
có thể rút trước hạn. Đây là những tài sản nợ mà ngân hàng thương mại có nghĩa vụ
phải trả ngay lập tức nếu khách hàng có nhu cầu rút, vì thế ngân hàng thương mại
luôn luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Thứ sáu, do khủng hoảng kinh tế hoặc khủng hoảng tài chính. Khủng hoảng
kinh tế hoặc tài chính dẫn tới chi phí huy động tăng cao, hiệu quả hoạt động cho vay
đầu tư giảm sút. Xét ở một khía cạnh khác, khủng hoảng xảy ra có thể làm giảm sút
niềm tin vào hệ thống tài chính, các tổ chức và người dân sẽ rút tiền khỏi các ngân
hàng thương mại gây ra áp lực về thanh khoản cho ngân hàng thương mại.
trả nợ theo hợp đồng đã cam kết (Santomero 1997)
2.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng được phân loại theo tính khách quan và tính chủ quan.
Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân như thiên tai, hỏa hoạn, sự
thay đổi của chính sách quản lý kinh tế…gây ra tổn thất mặc dù người vay thực hiện
đúng nghĩa vụ của mình.
Rủi ro chủ quan: là rủi ro khi có sự vô tình hay cố ý làm tổn thất của bên vay
và bên cho vay vốn.
Theo Trần Hoàng Ngân (2011), rủi ro tín dụng được phân loại theo nguyên
nhân phát sinh thì được phân loại như sau:
Rủi ro giao dịch: là rủi ro xảy ra khi có hạn chế từ giao dịch, xét duyệt vay,
đánh giá khách hàng vay. Rủi ro giao dịch gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và
rủi ro nghiệp vụ.
Rủi ro danh mục: là rủi ro phát sinh khi ngân hàng có những hạn chế trong
việc quản lý danh mục cho vay. Rủi ro danh mục gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập
trung.
12
Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam
2.2.3. Đánh giá rủi ro tín dụng
Ngân hàng dựa vào việc đánh giá rủi ro tín dụng để kiểm soát tốt hoạt động
cấp tín dụng và có những giải pháp thích hợp nhằm hạn chế rủi ro xảy ra. Trần
Hoàng Ngân (2011) đánh giá rủi ro tín dụng thông qua các chỉ số sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa tổng các khoản nợ quá hạn so với
tổng dư nợ ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý hoặc cuối
năm. Chỉ tiêu này cho thấy khả năng thu hồi vốn của ngân hàng đối với các khoản
𝐻ệ 𝑠ố 𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 𝑡í𝑛 𝑑ụ𝑛𝑔 =
𝑡ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦
×100%
𝑡ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑐ó
Tỷ lệ xóa nợ
𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑥ó𝑎 𝑛ợ =
các khoản xóa nợ ròng
×100%
𝑡ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦
Khoản xóa nợ ròng là mức tổn thất thật sự, phản ánh mức độ rủi ro trong hoạt
động tín dụng của ngân hàng. Vì vậy, tỷ lệ xóa nợ cao cho thấy hoạt động tín dụng
của ngân hàng bị tổn thất lớn, danh mục tín dụng có chất lượng thấp, hoạt động kinh
doanh không hiệu quả.
Tỷ lệ khả năng bù đắp rủi ro tín dụng
Tỷ lệ khả năng bù đắp RRTD =
dự phòng RRTD được trích lập
×100%
nợ quá hạn khó đòi
2.2.4. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Khi ngân hàng huy động vốn ngân hàng phải trả lãi và vốn cho khoản tiền
huy động được khi đến hạn, nếu gặp rủi ro tín dụng thì ngân hàng không thu được cả
vốn gốc và lãi cho vay khi đó ngân hàng bị mất cân đối trong thu chi, vòng quay vốn
Rủi ro tín dụng xảy ra trong quá trình phân tích và thẩm định không kỹ dẫn
đến quyết định cho vay sai. Hơn thế nữa, mặc dù quá trình phân tích và thẩm định
tốt nhưng không kiểm tra kiểm soát sau vay khi khách hàng sử dụng vốn vay
không đúng mục đích dẫn đến ngân hàng không phát hiện để xử lý kịp thời.
2.3. Lý thuyết về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng
Trong những năm qua, có rất nhiều bài báo đề cập đến mối quan hệ giữa rủi
ro thanh khoản và rủi ro tín dụng. Một số nghiên cứu đại diện cho lý thuyết tài
15
Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam
chính trung gian cổ điển, nghiên cứu về cách thức làm việc với các nguồn rủi ro
và lợi nhuận của ngân hàng cho rằng ít nhất về mặt lý thuyết có tồn tại mối quan
hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng (Bryant 1980; Diamond 1997;
Diamond & Dybvig 1983; Qi 1994). Imbierowicz & Rauch (2014) giả định có sự
phụ thuộc giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng và mối quan hệ này là cùng
chiều nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy không tồn tại mối quan hệ giữa rủi ro
thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng ở Mỹ.
Khi phân tích về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng, một
số nghiên cứu đã chỉ ra rằng hai loại rủi ro này có mối quan hệ cùng chiều. Như
Dermine (1986), một khoản vay không đòi được nợ làm tăng rủi ro thanh khoản vì
khoản vay đó gây ra sự sụt giảm của dòng tiền và khấu hao. Theo nghiên cứu này,
rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng có sự tương quan dương. Samartın
́ (2003) và
Iyer & Puri (2008) cho thấy các tài sản rủi ro của ngân hàng cùng với sự không chắc
chắn về nhu cầu thanh khoản của nền kinh tế có thể dẫn đến sự thiếu hụt thanh
khoản dựa trên sự hoảng loạn thông thường của người gửi tiền. Dựa vào các mô
hình này, rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng là quan hệ đồng biến, hai loại rủi ro
mục đích giữ tiền mặt là để các nhà quản lý chủ động trong việc mua sắm tài sản với
giá rất thấp của các ngân hàng khác trong giai đoạn khủng hoảng, tài sản được bán
với giá thấp đi kèm với rủi ro không lường trước. Theo nghiên cứu này, rủi ro thanh
khoản và rủi ro tín dụng có mối tương quan âm. Phân tích thực nghiệm của Acharya
& Naqvi (2012) cho thấy trong thời kỳ khủng hoảng các doanh nghiệp và hộ gia
đình có xu hướng gửi tài sản của họ vào ngân hàng, điều này làm cho lượng tiền mặt
trong ngân hàng phong phú và từ đó ngân hàng dễ giải trong việc cấp tín dụng các
khoản vay mới, các khoản vay này ít có sự giám sát chặt chẽ từ ngân hàng nên rủi ro
cho vay tăng cao. Do đó, rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng có mối quan hệ ngược
chiều.
17
Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam
2.4. Một số nghiên cứu thực nghiệm xem xét mối quan hệ giữa rủi ro thanh
khoản và rủi ro tín dụng
Berger & Bouwman (2009) đã sử dụng dữ liệu gồm tất cả ngân hàng Mỹ từ
năm 1993-2003. Kết quả cho thấy việc tạo ra thanh khoản của ngân hàng tăng lên
mỗi năm và vượt quá 2,8 nghìn tỷ USD trong năm 2003. Các ngân hàng lớn, các
thành viên của công ty sở hữu đa ngân hàng, ngân hàng bán lẻ và các ngân hàng
sát nhập gần đây tạo ra tính thanh khoản nhiều nhất. Mối quan hệ giữa vốn và việc
tạo ra thanh khoản của ngân hàng có mối quan hệ dương đối với các ngân hàng
lớn và quan hệ âm đối với các ngân hàng nhỏ;
Foos và cộng sự (2010) đã nghiên cứu về tăng trưởng tín dụng và rủi ro
ngân hàng, bằng cách phân tích sự tăng trưởng có ảnh hưởng đến mức độ rủi ro
của các ngân hàng tại 14 nước phương Tây. Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu
Bankscope của hơn 10.000 ngân hàng tư nhân từ năm 1997 đến năm 2005 và đưa
ra ba giả thuyết về mối quan hệ giữa sự tăng trưởng tín dụng trong quá khứ với