BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------------
TRẦN HỒNG THẮM
QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THEO YÊU CẦU ĐỔI MỚI
GIÁO DỤC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học theo yêu
cầu đổi mới giáo dục...............................................................................................10
1.2. Các khái niệm cơ bản...............................................................................27
3.2. Một số giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo
dục......................................................................................................................... 120
3.2.1. Giải pháp 1: Hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý nhà nước trong
công tác quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục............120
3.2.2. Giải pháp 2: Đổi mới công tác tuyển dụng và sử dụng ĐNGVTH
vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới......................................................................125
3.2.3. Giải pháp 3: Đổi mới hoạt động đào tạo, bồi dưỡng ĐNGVTH ở
vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới.....................................................................132
3.2.4. Giải pháp 4: Xây dựng các điều kiện hỗ trợ công tác quản lý
ĐNGVTH ở vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục..................................139
3.2.5. Mối quan hệ giữa các giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo
yêu cầu đổi mới giáo dục.....................................................................................142
3.3. Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các giải pháp quản lý đội ngũ GVTH
vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới.........................................................................144
3.4. Thực nghiệm một số biện pháp quản lý đội ngũ GVTH vùng ĐBSCL theo
yêu cầu đổi mới giáo dục.......................................................................................146
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3...............................................................................157
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ đầy đủ
Đội ngũ giáo viên tiểu học
GD
Giáo dục
GD&ĐT
Giáo dục và Đào tạo
GDTH
Giáo dục tiểu học
GV
Giáo viên
GVTH
Giáo viên tiểu học
HSTH
Học sinh tiểu học
KHCN
Khoa học công nghệ
Trung học sư phạm
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1
Thống kê số liệu Giáo dục tiểu học vùng ĐBSCL
79
Bảng 2.2
Thống kê tình hình đội ngũ GV theo chế độ lao động
83
Bảng 2.3
Thống kê về cơ cấu GVTH theo loại hình đào tạo (các môn
96
Bảng 2.8
Nhu cầu bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của GVTH
theo yêu cầu đổi mới giáo dục
98
Bảng 2.9
Công tác đánh giá đội ngũ GVTH theo yêu cầu đổi mới
giáo dục của các cấp quản lý giáo dục
100
Bảng 2.10
Những điều kiện cần để quản lý GVTH vùng ĐBSCL theo
yêu cầu đổi mới giáo dục hiệu quả hơn
102
Bảng 2.11
Tác dụng của các chế độ chính sách hiện nay đối với việc
duy trì đội ngũ GVTH
103
152
Bảng 3.4
Kết quả đảm bảo số lượng giáo viên tiểu học đặc thù theo
yêu cầu đổi mới giáo dục
153
Bảng 3.5
Kết quả tỉ lệ trường tiểu học đảm bảo số lượng GVTH đặc
thù theo yêu cầu đổi mới
153
Bảng 3.6
Kết quả tuyển dụng GVTH đạt chuẩn bằng cấp đáp ứng
yêu cầu dạy học 2 buổi/ngày ở thành phố Cần Thơ
154
Bảng 3.7
So sánh xếp loại GVTH sau thực nghiệm giữa hai nhóm
thực nghiệm và đối chứng
của CBQL
89
Hình 3.1
Mối quan hệ giữa các giải pháp quản lý đội ngũ GVTH
vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới.
143
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại đã bước sang những thập niên đầu của thế kỷ XXI. Đây là giai đoạn
cuộc cách mạng KHCNphát triển với những bước tiến mạnh mẽ, đưa thế giới bước
sang kỷ nguyên thông tin và nền kinh tế tri thức. Sự hình thành và phát triển của
nền kinh tế tri thức, xã hội thông tin sẽ tạo cơ hội cho sự phát triển giáo dục. Đại hội
Đảng lần thứ XI đã đặt ra vấn đề cấp bách:“Đổi mới căn bản và toàn diện” nền
giáo dục nước nhà. Quá trình đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục có tầm quan
trọng đặc biệt, liên quan trực tiếp đến vận mệnh của đất nước, của dân tộc trong giai
đoạn mới. Bởi vì, sức mạnh của một dân tộc, năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia
đang chuyển mạnh từ nguồn lực tài nguyên, vốn, lao động chân tay sang tri thức, trí
tuệ, nguồn nhân lực chất lượng cao. Đó chính là sản phẩm của nền giáo dục tiên
tiến, hiện đại. Vì thế, nhiệm vụ đặt ra để chúng ta thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần
8 của BCH.TƯ Đảng khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” là đầu tư phát triển nguồn nhân
GVTH là người giữ vai trò chủ yếu trong việc thực hiện phổ cập GDTH. Đối với
vùng cao, vùng sâu và hải đảo, GVTH là lực lượng trí thức của địa phương. Khác
với các bậc học khác, mỗi lớp TH chủ yếu có một GV làm chức năng tổng thể
(dạy nhiều môn), tương ứng với nhiều GV ở các bậc học khác. Đối với HSTH, GV
là người có uy tín, là “thần tượng” đối với HS. Lời thầy, cô giáo là sự thuyết phục,
cử chỉ của thầy, cô là mẫu mực, cuộc sống và lao động của thầy, cô là tấm gương
đối với trẻ em. Điều 15 của Luật Giáo dục đã xác định: “Nhà giáo giữ vai trò
quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục” [94].
Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, đòi hỏi đội ngũ GV phổ
thông trong đó có ĐNGVTH phải có những phẩm chất đạo đức và năng lực nghề
nghiệp đáp ứng mục tiêu đổi mới. Với xu thế phát triển giáo dục thế giới và yêu cầu
đổi mới giáo dục phổ thông, GV nói chung, GVTH nói riêng đang gặp khó khăn,
thử thách trước yêu cầu mới về thay đổi vai trò, chức năng của GV: chuyển từ kiểu
dạy tập trung vào GV sang kiểu dạy tập trung vào HS. Do vậy, việc quản lý đội ngũ
3
GV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chất lượng ngày càng cao là một yêu cầu
quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng giáo dục. Chỉ thị 40/CT/TW ngày 15
tháng 6 năm 2004 về việc nâng cao chất lượng nhà giáo và cán bộ quản lý đã chỉ rõ:
“Phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách
toàn diện. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến
lược lâu dài”. Đối chiếu với nhiệm vụ trên, ngành giáo dục đã có nhiều thành tựu to
lớn, tuy vậy vẫn còn một số bất cập trong việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản
lý đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đặc biệt là đội ngũ GVTH, nhất là GV ở
vùng ĐBSCL. Việc đổi mới quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo hướng đổi mới
đào tạo, bồi dưỡng, và sử dụng cần gắn chuẩn trình độ đào tạo của GVTH với chuẩn
nghề nghiệp để GV có đủ năng lực thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của bậc học. Đồng
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý đội ngũ GVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục.
4. Giả thuyết khoa học
Trong những năm qua, Quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL bước đầu đã có
những kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập, hạn chế chưa đáp
ứng các yêu cầu cả về số lượng và chất lượng đội ngũ. Vì vậy, nếu đề xuất và triển
khai có hiệu quả các giải pháp quản lý dựa trên cơ sở lý luận quản lý đội ngũ nhân
lực, lý luận phát triển nguồn nhân lực về các lĩnh vực như quy hoạch phát triển đội
ngũ; tuyển chọn,sử dụng; đào tạo và bồi dưỡng; kiểm tra và đánh giá; xây dựng và
thực hiện chính sách ưu đãi đối với ĐNGVTH vùng ĐBSCL thì sẽ góp phần phát
triển đội ngũ ĐNGVTH vùng ĐBSCL đáp ứng yêu cầu đổi mới GD.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xây dựng cơ sở lý luận về công tác quản lý đội ngũ GVTH theo yêu cầu
đổi mới giáo dục hiện nay.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý đội ngũ GVTH vùng
ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
5.3. Xây dựng và chứng minh hiệu quả của một số giải pháp quản lý
ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
6. Phạm vi nghiên cứu
5
Luận án này tập trung nghiên cứu:
- Các giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo
dục giai đoạn 2013 - 2015 của cơ quan quản lý là các Sở Giáo dục & Đào tạo,
Phòng Giáo dục & Đào tạo thuộc Sở, Hiệu trưởng trường TH.
- Chỉ nghiên cứu thực trạng công tác quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mới
giáo dục tại thành phố Cần Thơ, tỉnh Vĩnh Long, tỉnh Trà Vinh và tập trung vào các
chủ thể quản lý đã xác lập.
để giải quyết vấn đề của thực tiễn. Đó là thực tiễn về nhận thức, thực trạng quản lý
ĐNGVTH vùng ĐBSCL, nguyên nhân của thực trạng công quản lý ĐNGVTH vùng
ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục.
Các giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục
được đề xuất cũng xuất phát từ thực tiễn và đảm bảo tính khả thi dựa trên điều kiện
của vùng ĐBSCL cũng như yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
7.2.1.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết
Phương pháp này được sử dụng để phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu lý
luận có liên quan đến công tác quản lý ĐNGVTH nhằm nhận xét, tóm tắt và trích
dẫn phục vụ trực tiếp đề tài bao gồm:
- Các tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin, văn kiện của Đảng, có
liên quan đến luận án. Các tác phẩm về Tâm lý học, Giáo dục học, Khoa học quản
lý giáo dục, Quản trị nguồn nhân lực trong giáo dục, GDTH… trong và ngoài nước.
- Các công trình nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục của các nhà lý luận,
các nhà quản lý giáo dục, các nhà giáo… có liên quan đến đề tài như: luận án, báo
cáo khoa học, các chuyên khảo, các bài báo, tham luận khoa học.
7.2.1.2. Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết
Phương pháp này được sử dụng để phân loại, sắp xếp các tài liệu lý luận về
công tác quản lý ĐNGVTH theo thời gian, theo không gian, phục vụ cho việc trình
bày phần Tổng quan nghiên cứu.
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
* Mục đích
7
Phương pháp này sử dụng nhằm thu thập ý kiến các nhóm khách thể về thực
8
dưỡng GVTH ở khu vực ĐBSCL và Đổi mới công tác tuyển dụng và sử dụng
ĐNGVTH ở khu vực ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới giáo dục.
7.2.3. Nhóm phương pháp thống kê
Các phép toán thống kê được sử dụng gồm: tính trung bình cộng, tính tỉ lệ
phần trăm, so sánh dựa trên trị số thống kê.
8. Những đóng góp mới của luận án
8.1. Về mặt lý luận
Luận án đã tiếp cận và cụ thể hóa một số quan điểm, nội dung của lý thuyết
quản lý nguồn nhân lực, năng lực thực hiện của GV vào việc xây dựng cơ sở lý luận
về quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
8.2. Về mặt thực tiễn
Luận án đánh giá được thực trạng ĐNGVTH về số lượng, quy mô, cơ cấu,
loại hình, trình độ, phẩm chất và năng lực nghề nghiệp so với chuẩn; Phân tích thực
trạng quản lý ĐNGVTH với các nội dung: quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng, ĐT BD,
các chính sách tác động đến ĐNGVTH trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
Trên cơ sở đó, luận án đề xuất 4 giải pháp quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL
đáp ứng yêu cầu đổi mới GD bằng việc giải quyết các mâu thuẫn, tháo gỡ khó khăn
và khắc phục bất cập từ thực trạng quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL hiện nay,
đồng thời khẳng định và luận giải về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp
đã được đề xuất cùng với việc triển khai thực nghiệm hiệu quả thực tiễn của giải
pháp lập kế hoạch hoạt động ĐT, BD ĐNGVTH và đổi mới công tác tuyển dụng, sử
dụng ĐNGVTH vùng ĐBSCL góp phần nâng cao chất lượng GVTH trong bối cảnh
đổi mới giáo dục.
9. Cấu trúc luận án
Mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ĐNGVTH theo yêu cầu đổi mới giáo
dục
- Chương 2: Thực trạng quản lý ĐNGVTH vùng ĐBSCL theo yêu cầu đổi mới
Nền giáo dục quốc tế đang có những thành tựu đáng kể trong đổi mới từ cấp vĩ
mô như triết lý giáo dục, các xu hướng đào tạo nguồn nhân lực đến cấp vi mô như
đổi mới từng cấp học trong hệ thống giáo dục, đổi mới cách tiếp cận trong thiết kế
chương trình, đổi mới trong thiết kế các phương thức đánh giá, kiểm định chất
lượng giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục theo hướng phân cấp. Từ nửa cuối thế kỷ
XX, trên thế giới tồn tại hai mô hình đào tạo và quản lý GV chủ yếu là đào tạo GV
trong các trường đại học đa ngành và đào tạo GV trong các trường đại học sư phạm.
Các trường đại học tổng hợp lớn như Oxford, Cambridge (Anh), Tokyo, Hiroshima
(Nhật), Harvard, Stanford, Texas (Hoa Kỳ), Victoria (Canada), đại học Sydney,
New-England (Australia), các trường đại học quốc gia ở Singapore, Hong Kong…
đều có các khoa giáo dục đào tạo GV cùng với việc quản lý một cách khoa học
nguồn nhân lực trong quá trình đào tạo. Nét đặc trưng của mô hình này là đào tạo
11
kiến thức chuyên môn từ 3 đến 5 năm, sau đó sinh viên được đào tạo các kiến thức
và kỹ năng nghiệp vụ sư phạm [51, tr.12]. Những sinh viên tốt nghiệp được quản lý
gián tiếp trong sự phối hợp với nơi họ công tác và các hiệp hội nghề để tiếp tục bồi
dưỡng, không ngừng phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu luôn đổi mới của nhiệm vụ
giáo dục. Đây là một kinh nghiệm trong công tác đào tạo, sau đào tạo ở một số quốc
gia, trường đại học để đảm bảo chất lượng cho đội ngũ GV với thực tiễn nghề
nghiệp.
Ở các nước phát triển, yêu cầu và tiêu chí về chất lượng GV cũng được đặt ra
trước xu thế phát triển giáo dục - đào tạo và nhu cầu tăng trưởng kinh tế. Vì thế,
nhiều nước trên thế giới rất quan tâm đến chất lượng đội ngũ GV và các biện pháp
để đào tạo - bồi dưỡng trong tiến trình quản lý. Có thể đề cập đến một số công trình:
Nghiên cứu của các nước thành viên OECD chỉ ra các phẩm chất cần có đối
với GV, đó là: 1) Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn
mình dạy; 2) Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp
trách nhiệm nặng hơn trong việc lựa chọn các nội dung dạy học và giáo
dục; (2) Vai trò của người GV đang chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến
thức sang tổ chức việc học tập của HS; (3) Coi trọng hơn việc cá biệt hóa
trong học tập của HS và thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò; (4)
Yêu cầu người GV phải biết sử dụng rộng rãi các phương tiện dạy học
hiện đại, do đó đặt ra yêu cầu trang bị thêm các kiến thức và kỹ năng cần
thiết; (5) Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn các GV cùng trường,
thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa các GV với nhau; (6) Yêu cầu
thắt chặt hơn các mối quan hệ với cha mẹ HS và cộng đồng nhằm góp
phần nâng cao chất lượng cuộc sống; (7) Yêu cầu người GV phải tham
gia các hoạt động rộng rãi trong và ngoài nhà trường; giảm bớt và làm
thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ đối với HS, nhất là đối
với HS lớn và với cha mẹ HS [111].
Trên cơ sở này, có thể thấy việc quản lý đội ngũ GV nhằm phát triển GV là
trách nhiệm của nhà quản lý trường học cũng như lực lượng khác có liên quan.
Kế đến, vấn đề quản lý đội ngũ GV theo chuẩn nghề nghiệp cũng đã được
nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau. Đây cũng là một trong những khuynh
13
hướng có liên quan chặt đến quản lý đội ngũ GV. Vì nếu chuẩn nghề nghiệp trở
thành công cụ quản lý thì bất kỳ sự vận động nào của chuẩn cũng kéo theo sự thay
đổi nhất định trên bình diện quản lý đội ngũ GV.
Tại Hoa Kỳ, sau Hội thảo Camegie về “Giáo dục và ảnh hưởng của
nhiệm vụ kinh tế vào trong giảng dạy” (1987), NBPTS (National Board
of Professional Teaching Standards) đưa ra nguyên tắc định hướng nghề
nghiệp: Thầy giáo cần phải biết và cần phải làm cái gì? Theo đó, sứ
mệnh tương lai nhà giáo cần đạt tới gồm 5 vấn đề cốt lõi là: kiến thức, kỹ
năng, phẩm chất, thái độ và niềm tin. Đây là sự bảo đảm giá trị của một
đội ngũ lao động ở các ngành nghề khác nói chung đều dựa trên Chuẩn nghề
nghiệp. Chẳng hạn, ở Anh, Bỉ, Australia, Canada, Chuẩn nghề nghiệp đã được Bộ
Giáo dục và Đào tạo công bố. Các cơ quan quản lý sẽ căn cứ vào đó để xây dựng
chương trình đào tạo GV, các trường học và GV sẽ căn cứ vào đó đưa ra chương
trình bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
đáp ứng yêu cầu phát triển ở các nước đó [86].
Nhìn chung, các nghiên cứu nước ngoài đã đề cập đến việc phát triển đội ngũ
GV, yêu cầu đối với GV trong hoạt động dạy học - giáo dục. Một trong những kinh
nghiệm nổi bật là GV phải làm chủ được môn học (nội dung), thu hút được HS
tham gia học tập (phương pháp), đánh giá được việc học của HS (mục tiêu) trong
tiến trình phát triển nghề nghiệp. Nói cách khác, việc phát triển đội ngũ GV được
những nhà quản lý giáo dục cũng như bản thân nhà giáo phải tích cực thực hiện
nhằm đáp ứng những yêu cầu của nghề nghiệp, của xã hội không ngừng phát triển.
1.1.1.2. Một số nghiên cứu về quản lý GVTH
Trước hết, có thể đề cấp đến thực tiễn đào tạo và quản lý GVTH ở một số
quốc gia để nhận thấy biện pháp quản lý GVTH được triển khai một cách cụ thể.
Nhật Bản
Nhật Bản là quốc gia có sự phát triển kinh tế vượt bậc trong nhiều thập kỷ qua.
Những năm 1980, Nhật Bản đã đặt ra cho hệ thống giáo dục hai vấn đề lớn: 1) Giáo
dục phải được phát triển như thế nào để bảo đảm vị trí siêu cường về kinh tế - kỹ
thuật của Nhật Bản khi bước vào thế kỷ XXI; 2) Làm thế nào để giữ gìn và phát huy
truyền thống Nhật Bản trong quá trình hiện đại hóa đất nước. Để thực hiện hai vấn
đề trên, Nhật Bản đã có nhiều chính sách trong quản lý đội ngũ GVTH: thực hiện
15
nhất quán chính sách ưu đãi và chăm lo đến cuộc sống và trình độ của GV. GVTH
có một vị trí rất quan trọng trong đời sống xã hội, GV được quan tâm ưu đãi nhiều
về lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng, miễn các khoản đóng góp nghĩa vụ xã hội.
Pháp đã tiến hành một loạt những cải cách về giáo dục nhằm làm cho giáo dục
đáp ứng những yêu cầu mới của đất nước và phù hợp với xu thế toàn cầu hóa vào
thế kỷ XXI. GVTH là cấp học có tính chất bắt buộc. Trong quản lý đội ngũ GV,
Pháp tập trung vào việc đổi mới phương pháp dạy học, người GV phải hướng vào
việc giúp đỡ từng HS, cá biệt hóa trong dạy học, HS được rèn luyện theo đà phát
triển phù hợp nhất với các nhu cầu và khả năng của từng em. Trong đào tạo GVTH,
các cấp quản lý quan tâm đến phát triển đại học nhằm mở rộng đào tạo GVTH có
trình độ đại học [82, tr.253]. Bên cạnh đó, cũng như các nước phát triển khác, chủ
trương phân cấp, phân quyền trong quản lý giáo dục ở nước Pháp cũng được thể
hiện rõ trong những thập niên gần đây. Hiệu trưởng các trường có nhiều quyền
quyết định và linh hoạt hơn trong công tác điều hành. Địa vị của nhà giáo đã được
nâng cao, GVTH rất tự hào về nghề nghiệp của mình [43]. Đây là một trong những
kinh nghiệm có thể ứng dụng trong đề tài nghiên cứu này vì nếu người quản lý ý
thức được vai trò, vị trí cũng như quyền hạn của mình, công tác quản lý đội ngũ sẽ
được tiến hành một cách có hiệu quả, có chất lượng trong sự tự tin, tự chịu trách
nhiệm, có tư duy, sáng tạo.
Phần Lan
Nền giáo dục hiện đại của Phần Lan luôn được xếp vào nhóm hàng đầu thế
giới. Trong quản lý đội ngũ GVTH, Phần Lan đòi hỏi GV trong hệ thống giáo dục
toàn diện phải đạt trình độ thạc sĩ trở lên. GV dạy TH (từ lớp 1 đến lớp 6) phải có
trình độ thạc sĩ giáo dục (Master of Education - M.Ed). GV đứng lớp ở TH được xã
hội hết sức coi trọng. Chính vì thế, GVTH ở Phần Lan được chọn từ những người
thật sự đam mê, tâm huyết và đa tài, có kỹ năng sư phạm tuyệt vời. GV không chỉ là
nhà giáo đơn thuần mà còn là nhà nghiên cứu độc lập về giáo dục, GVTH được xem
là “người đem lại ánh sáng” cho cộng đồng. Trong phân cấp, GVTH được giao
quyền tự chủ cao trong soạn giảng, tự do sáng tạo trong nghề nghiệp, nhưng có
trách nhiệm phát triển hơn nữa kinh nghiệm trong nghề dạy học. Trong công tác bồi
dưỡng GV, Phần Lan có nhiều cơ quan giáo dục tổ chức các khóa bổ túc và bồi
trong lĩnh vực chuyên môn, kiến thức thực tế với kiến thức về lý luận
18
dạy học để chọn cách dạy, cách học phù hợp nhất với đối tượng của
mình... Công tác đào tạo phải chấp nhận nguyên tắc điều chỉnh, bổ sung
để gắn chặt kiến thức kỹ năng đào tạo với các yêu cầu thực tiễn giảng
dạy của GV, giúp họ có năng lực hoàn thành nhiệm vụ cơ bản trong giáo
dục dạy học [37, tr.9].
Có thể nói đây là cơ sở quan trọng để điều chỉnh việc bồi dưỡng GV trong
thực tiễn ở Việt Nam để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
Các quốc gia trên thế giới đều có nhiều mô hình quản lý GV theo những tiêu
chuẩn cụ thể. Tăng trưởng kinh tế cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học
và công nghệ đã làm biến đổi giáo dục một cách cơ bản. Cơ cấu lao động xã hội
thay đổi làm cho giáo dục cũng phải thay đổi. Nội dung chương trình giảng dạy
trong nhà trường phải có sự điều chỉnh cho phù hợp. Cùng tham gia vào quá trình
dạy học, các phương tiện, kỹ thuật dạy học hiện đại đã có những đóng góp không
nhỏ vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Những yêu cầu về đào tạo, bồi
dưỡng và cơ cấu lại ĐNGVTH theo hướng chuẩn hóa để có thể phát huy được hiệu
quả đang được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm. Là bậc học đầu tiên, yêu
cầu quản lý ĐNGVTH phải không ngừng cập nhật kiến thức mới, đòi hỏi của xã hội
để GVTH có thể làm tốt nhất chức năng giáo dục và dạy học [13].
Các nghiên cứu ngoài nước cho thấy công tác quản lý ĐNGVTH theo hướng
nâng cao chất lượng đang được quan tâm nhằm đáp ứng yêu cầu mới về chức năng
và nhiệm vụ của GV. Công tác quản lý ĐNGVTH không thể chỉ quản lý về hành
chánh mà cần quản trị con người theo khuynh hướng phát triển. Trên cơ sở này,
quan niệm về quản lý ĐNGVTH theo định hướng phát triển tối đa về năng lực,
hoàn thiện phẩm chất nghề nghiệp trong đó có chú trọng khai thác kinh nghiệm
nghề nghiệp và kỹ năng tổ chức dạy học hiện đại được chú trọng.