I. ĐẶT VẤN ĐÊ
Trong những năm gần đây, Tin học được đưa vào trường THPT và một số
trường THCS trong phạm vi cả nước là một môn học bắt buộc. Khi mới làm
quen với Tin học, HS tỏ ra rất hào hứng vì đây là một môn học khá mới mẻ, hiện
đại và mang tính thực tế cao. Tuy nhiên một thời gian sau, khi kiến thức đã khó
hơn thì học sinh lại có thái độ thờ ơ trong việc học cũng như vận dụng tin học
vào cuộc sống hằng ngày.
Thực tế hiện nay Tin học vẫn được xem là “môn học phụ” bới nó chưa
phải là môn học được đưa vào thi tốt nghiệp, thi chọn Đại học - Cao đẳng, do đó
sự đầu tư về thời gian, sức lực của học sinh cho môn học là chưa có. Nhưng Tin
học lại là môn học khó, trừu tượng khái quát, đặc biệt là nội dung lập trình trong
chương trình Tin học lớp 11.
Với đặc thù là trường THPT ở khu vực nông thôn, miền núi, công việc
giảng dạy Tin học của tôi tại trường THPT Trung Nghĩa có những thuận lợi và
khó khăn nhất định.
Thuận lợi là học sinh không quá xa lạ với máy tính điện tử - 1 công cụ
không thể tách rời của Tin học. Nhưng học sinh chỉ biết đến máy tính điện tử là
1 công cụ để giải trí hoặc 1 số ít các em học sinh sử dụng máy tính điện tử để tra
cứu thông tin, chứ chưa có học sinh nào biết gắn máy tính điện tử với Tin học;
Đặc biệt, các em hoàn toàn xa lạ với khái niệm lập trình, với tư duy lập trình và
với thao tác lập trình.
Lập trình là cách sử dụng Ngôn ngữ lập trình mô phỏng thuật toán để giúp
máy tính giải các bài toán, từ đó người dùng chỉ cần đưa vào các giá trị đầu vào
(Input - yêu cầu), máy tính sẽ đưa ra giá trị cần tìm (Output) cho người dùng
thông qua việc thực thi các lệnh đã được lập trình. Cái khó của lập trình là các
bài toán đưa ra dưới dạng tổng quát, trừu tượng, do đó nếu giải bài toán ấy với
các bộ số cụ thể có độ khó 1, thì giải bài toán với giá trị tổng quát có độ khó 5 và
mô phỏng cách giải ấy với 1 Ngôn ngữ lập trình cụ thể lại có độ khó 8.
1
mất điện hoặc không có sự can thiệp, trợ giúp của công nghệ thông tin).
Vào năm học 2014 – 2015 tôi được phân công dạy môn tin học cho 7 lớp
11, trong đó có hai lớp mà tôi thử nghiệm để nghiên cứu cho đề tài này là lớp
11A1 và lớp 11A2. Nhìn chung các em đều ngoan và có thái độ kính trọng thầy
cô giáo, cả hai lớp đều thuộc nhóm lớp cơ bản tự nhiên. Số tiết dạy học kỳ 1 là 1
tiết/lớp/tuần, học kỳ 2 còn 2 tiết/ tuần/ lớp.
Từ thực tế giảng dạy tại trường THPT Trung Nghĩa. Tôi có ghi lại bảng khảo
sát chất lượng đầu năm học 2014 – 2015 như sau:
Lớp
Điểm >=8
Sĩ số
SL
TL%
Trên TB
SL
TL%
Dưới TB
SL
Điểm < 2.5
TL%
45.7
19
54.3
6
17.1
Một trong những nguyên nhân khiến các em có thái độ e dè ngại học môn Tin
học : Đó là một trong các bộ môn khoa học đòi hỏi người học phải có tính tư
duy cao, tính kiên trì nhẫn nại điều này không phải ai cũng có sẵn càng không
thể học vẹt, học tủ. Ngoài ra còn một số nguyên nhân khách quan sau:
* Hoàn cảnh gia đình, điều kiện học tập khó khăn
3
3
Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, học sinh phải làm việc nhà nhiều hoặc làm
thêm để kiếm sống nên không chú ý đến học tập.
Không chỉ đối với riêng môn Tin học mà còn nhiều môn khác. Sự quan tâm
của phụ huynh cũng ảnh hưởng đến việc học của học sinh. Nếu như trên lớp đã
không chịu tập trung nghe giảng về nhà không xem lại bài thì các em học sẽ
càng kém hơn, có suy nghĩ chán nản hơn và thiếu tích cực. Nhiều học sinh thuộc
diện khá giả nhưng do bố mẹ bận công việc nên không biết các em học hành như
thế nào? Lại có những học sinh vì hoàn cảnh gia đình khó khăn bố mẹ đều phải
đi làm ăn xa không ở bên cạnh để các em ở nhà tự xoay sở, vì tuổi còn nhỏ nên
các em không đủ ý thức để vươn lên bằng cách tự giác học tập mà chỉ đến lớp
vận dụng kiến thức nhiều môn học để viết chương trình. Thậm chí khi các em đã
có thuật toán đúng nhưng khi bắt tay vào viết chương trình vẫn gặp khá nhiều
khó khăn. Hoặc khi đã viết xong chương trình nhưng không chạy được với các
bộ test thì đòi hỏi học sinh phải kiểm tra và sữa lại. Nên đôi khi hay gây tâm lí
chán nản đối với học sinh.
Từ thực tế hiện nay về đổi mới phương pháp dạy học, học sinh tự chủ động
chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên là người hướng dẫn điều khiển.
Xuất phát từ tâm lý coi môn Tin học là môn phụ nên học sinh không chú ý
học. Việc tạo hứng thú học tập cho các em có vai trò rất quan trọng trong việc
nâng cao hiệu quả chất lượng dạy học. Để cung cấp kiến thức khoa học, giáo
dục tư tưởng và rèn luyện kỹ năng cho học sinh, giáo viên phải làm cho học sinh
ham mê hứng thú học tập, làm cho quá trình học tập của các em trở nên tự giác,
tạo nên niềm vui trong sáng và bổ ích, bồi dưỡng cho các em tinh thần học tập,
mạnh dạn trước tập thể, tạo được hưng phấn đồng đều giữa các em để các em
có được sự hòa đồng trong nhận thức và học tập.
Việc tạo sự yêu thích học tập môn tin học cho các em cần phải căn cứ vào
các tiêu chí sau:
+ Học sinh đi học đầy đủ
+ Học sinh thuộc bài khi kiểm tra bài cũ.
+ Học sinh hào hứng phát biểu xây dựng bài.
+ Học sinh tập trung chú ý cao, học bài và làm bài đạt kết quả tốt.
Từ đây ta hoàn toàn có thể xây dựng các biện pháp để giải quyết vấn đề đặt ra.
5
5
2. Các biện pháp để giải quyết vấn đề
Để đánh giá mức độ hiệu quả của các biện pháp được xây dựng, tôi đã
6
2.2. Sử dụng giáo án điện tử và tận dụng tối đa các giờ học tại phòng thực
hành.
Giáo án điện tử là phương tiện hỗ trợ cho giáo viên (GV), giúp bài giảng
sinh động hơn, học sinh (HS) hứng thú học tập và dễ dàng tiếp thu bài. Vì vậy,
để giúp HS khắc sâu kiến thức, kích thích nguồn cảm hứng học tập, khi giảng
dạy GV cần phải kết hợp hài hòa giữa màn hình với lời giảng và giữa màn hình
với ghi bảng sao cho linh hoạt uyển chuyển.
Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy hầu hết các em đều rất thích được lên
phòng máy để thực hành, thích được học các tiết học có sử dụng máy chiếu để
được học các bài giảng điện tử, có âm thanh, hình ảnh, màu sắc sinh động. Nếu
chúng ta chuẩn bị được thật nhiều những giờ dạy trên các phòng này cũng là
một trong những biện pháp tạo hưng phấn cho học trò. Hạn chế đi cách dạy
thông báo khô khan, tẻ nhạt, hay giáo viên chiếu – học sinh chép.
Bên cạnh đó, GV phải thật sự có ý thức học hỏi, khai thác và sử dụng có
chọn lọc những tư liệu quý trên Internet. Đừng quá tham lam tư liệu, có bao
nhiêu cũng đưa vào bài giảng, làm cho bài giảng dễ bị loãng.
2.3. Gây hứng thú cho học sinh trong các tiết học bằng các trò chơi đơn
giản
Học sinh bao giờ cũng thích vừa học vừa chơi, chơi để lĩnh hội tri thức
mới từ trò chơi, chơi để làm cho không khí lớp học trở nên vui vẻ, tạo ra sự đoàn
kết giữa các em, giảm căng thẳng trong các giờ học. Nếu chúng ta chịu khó nghĩ
ra các trò chơi có hàm ý nội dung cần truyền đạt trong trò chơi ấy chắc chắn các
em sẽ tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả và không thấy chán mỗi khi đến giờ
tin học, nếu giáo viên biết cách sắp xếp thời gian hợp lý tổ chức trò chơi cho học
sinh thì học sinh rất hào hứng học
* Ví dụ . Trong giờ “Câu hỏi và bài tập”- Tiết 10 theo PPCT Tin 11 giáo
viên có thể thể cho học sinh chơi trò chơi như sau: Chọn 2 đội lên bảng (khoảng
lớp 10 đã có sẵn một số thuật toán trình bày khá kĩ, nên lớp 11 coi trọng việc cài
đặt chương trình cho hầu hết các thuật toán đó. Cần đảm bảo tính kế thừa, liên
thông môn Tin học của 2 lớp 10 và 11. Tạo điều kiện cho học sinh ôn lại, ghi
nhớ lâu dài một số thuật toán căn bản, đặc trưng trong Tin học như sắp xếp và
tìm kiếm.
Ngôn ngữ lập trình pascal chỉ là ngôn ngữ để chuyển tải thuật toán nên giáo
viên không nên quá đi sâu vào ngôn ngữ này mà chủ yếu vẫn là truyền đạt thuật
8
8
toán cho học sinh. Đối với mỗi bài tập nào đó giáo viên cần phải yêu cầu học
sinh đưa ra ý tưởng sau đó đến thuật toán, nên khuyến khích học sinh đưa ra
nhiều ý tưởng và thuật toán khác nhau. Sau đó sẽ phân tích để tìm thuật toán tối
ưu.
Ví dụ như trong Sách giáo khoa Tin học 11 có bài tập
Lập trình để giải bài toán cổ sau:
Vừa gà vừa chó.
Bó lại cho tròn.
Ba mươi sáu con.
Một trăm chân chẵn.
Hỏi có bao nhiêu con mỗi loại
Đối với bài toán trên chúng ta có thể có rất nhiều thuật toán tương ứng với
nhiều chương trình khác nhau.
Chương trình 1:
Var cho, ga : byte;
Begin
Cho:= 1 to 36 do
Ga := 1 to 36 do
và While - do giáo viên có thể yêu cầu học sinh chuyển đổi qua lại giữa 2 loại
câu lệnh trên. Ví dụ trên chúng ta đã sử dụng For – do vậy có thể sử dụng While
– do không, nếu được hãy cài đặt bằng while – do. Đến đây không chỉ đòi hỏi
học sinh phải nhớ từng loại câu lệnh mà nó còn đòi hỏi sự tư duy của học sinh vì
tuỳ từng bài toán mới có thể chuyển đổi chứ không phải bài nào cũng có thể.
2. 5. Áp dụng phương pháp hoạt động nhóm trong các giờ học
Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống thì việc áp
dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học mới cũng đem lại hiệu quả tích cực.
Phương pháp dạy học theo nhóm là một trong những phương pháp dạy học mới.
Phương pháp này tỏ ra khá nhiều ưu điểm:
Làm việc theo nhóm cho phép tất cả các thành viên trong nhóm giải quyết 1
cam kết làm việc được mô tả rõ ràng, không được giáo viên dẫn dắt trực tiếp mà
chỉ nhờ vào sự kết hợp chặt chẽ và phân công công việc trong nhóm nhỏ.
Phương pháp này thích hợp cho việc thảo luận nhóm, đưa ra những cách
thức giải quyết đầy tính sáng tạo, kích thích sự hợp tác của các thành viên trong
10
10
nhóm cùng tham gia vào việc giải quyết 1 vấn đề. Làm việc theo nhóm thoả mãn
nhu cầu học tập của cá nhân, người học có thể đưa ra những giải pháp, cách biểu
đạt riêng cho vấn đề nào đó. Nếu trong phương pháp thuyết trình người học chỉ
có thể trao đổi với nhau rất ít thì làm việc theo nhóm các thành viên tham gia có
cơ hội đưa ra quan điểm của mình đối với chủ đề thảo luận, mặt khác ở đó cũng
đòi hỏi tăng cường tư duy độc lập và trao đổi lẫn nhau trong nhóm.
Trong khi thực hiện phương pháp làm việc theo nhóm, giáo viên đóng vai trò
là người chuyển giao kiến thức và hiểu biết, chuẩn bị, tổ chức, theo dõi việc thực
hiện và đánh giá tổng kết kết quả làm việc của các nhóm. Như vậy công việc của
giáo viên trong làm việc theo nhóm là không bao giờ thừa, trái lại đó là sự cần
trình bày theo các nhánh, các nhánh này lại được chia thành nhiều nhánh con,
chúng được thể hiện với các màu phấn khác nhau, từ đó có thể bổ sung, chỉnh
sửa sao cho hoàn thiện, với cách trình bày như thế giúp học sinh sáng tạo hơn,
ghi nhớ tốt hơn, khi kiểm tra bài cũ các em thuộc và nhớ lâu hơn. tăng khả năng
hiểu và đọc hiểu của học sinh, giúp các em thấy thú vị khi học tập
Nếu ta sử dụng phần mềm vẽ bản đồ tư duy để thiết kế và sử dụng nó để
trình chiếu lại càng làm cho học sinh hứng thú hơn. Dưới đây là một thiết kế của
tôi bằng bản đồ tư duy Imindmap 6.0.1
12
12
Khi học thì học sinh không cần vẽ giống giáo viên mà có thể vẽ theo ý
mình, miễn là các em biết dùng các đường nét, màu sắc khác nhau để thể hiện
các nội dung khác nhau. Chính vì vậy các em càng thấy hào hứng hơn mỗi khi
học bộ môn tin học, thậm chí thiết nghĩ nếu em nào vận dụng tốt phương pháp
này cho các môn học mang nặng tính lý thuyết thì sẽ giúp các em rất nhiều trong
quá trình ghi nhớ và phân loại kiến thức.
13
13
3. Hiệu quả của SKKN
Năm học vừa qua với sự áp dụng các biện pháp nói trên đối với những
học sinh lớp 11A2 (thuộc nhóm thực nghiệm), tôi nhận thấy đa số học sinh đều
rất hứng thú học tập, không khí các giờ học vui vẻ, sôi nổi hơn do các em tích
cực xây dựng bài, số lượng học sinh làm việc riêng trong giờ gần như không
Sau thực nghiệm
Nhóm đối
chứng
Nhóm
thực
nghiệm
Nhóm đối
chứng
Nhóm
thực
nghiệm
2
2
1
0
2
3
2
4
7
Số HS đạt điểm giỏi
0
0
0
1
Số HS đạt điểm khá
4
3
6
10
Số HS đạt điểm trung bình
25
25
Hết năm học
Nhóm đối
chứng
Nhóm
thực
nghiệm
Nhóm đối
chứng
Nhóm
thực
nghiệm
Số HS vắng học trung bình
trong giờ
1
0
1
0
Số HS ngủ gật trung bình
trong giờ
15
0
1
1
2
6
10
8
20
29
27
33
22
12
9
nghiệm so với các học sinh nhóm đối chứng đã cho thấy hiệu quả của việc áp
dụng các phương pháp gây hứng thú trong các bài giảng tin học 11 được đề trình
bày trong đề tài này có tính thực tiễn cao, có thể áp dụng rộng rãi cho học sinh
các lớp 11 trường THPT Trung Nghĩa nói riêng và học sinh các lớp 11 của các
trường miền núi nói chung.
17
17
III. KẾT LUẬN
1. Kết luận
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận khoa học và thực tiễn giảng dạy khối lớp 11
trong 2 năm học, kết quả đạt được qua việc áp dụng các biện pháp nói trên, bản
thân tôi đi đến những kết luận sau đây:
1. Để tạo hứng thú đối với học sinh thì trước hết phải gây hứng thú cho
học sinh ngay từ phần mở đầu bài học, phần giới thiệu đề mục mới.
2. Tiến hành thường xuyên việc dự giờ của các đồng nghiệp lẫn nhau để
học hỏi kinh nghiệm và tăng cường sự chuẩn bị chu đáo cho các bài dạy.
3. Giáo viên cần phải khơi dậy sự yêu thích môn học bằng việc đầu tư thời
gian thiết kế các giáo án điện tử, các sơ đồ tư duy. Trong quá trình giảng dạy
giáo viên phải biết phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh
4. Phương tiện dạy học phải đầy đủ, tuy nhiên không lạm dụng công nghệ
thông tin để xa vào tình trạng chiếu - chép
5. Trong các tiết học phải tạo cho các em sự hứng thú từ đầu cho đến hết
tiết học, tạo cho các em sự hứng thú vui tươi, học để mà vui - vui để mà học,
tránh gò ép đối với học sinh.
6. Trong mỗi giờ học sau mỗi thành quả đạt được của học sinh nếu kèm
theo lời khen ngợi, biểu dương của giáo viên nữa càng khuyến khích các em
tục và phong phú về hình thức.
- Vì đây là một môn học mang tính đặc thù riêng nên cần phải có phòng
học chức năng riêng biệt, môi trường trong lành, thoáng mát, đầy đủ tiện nghi và
đồ dùng dạy học.
- Cần trang bị thêm một số tranh ảnh, tài liệu phục vụ cho môn học để
việc dạy và học ngày càng hiệu quả hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
19
19