Thực hành quyền công tố đối với các tội phạm về hối lộ ở nước ta hiện nay - Pdf 48

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THÀNH ĐỦ

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI
CÁC TỘI PHẠM VỀ HỐI LỘ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 9.38.01.04

LUẬN ÁNTIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. ĐINH XUÂN NAM
2. TS. LÊ THÀNH DƯƠNG

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ ‘Thực hành quyền công tố đối với các tội
phạm về hối lộ ở nước ta hiện nay” đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực.
Những kết luận khoa học của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công
trình khoa học nào.
Nghiên cứu sinh

Võ Thành Đủ




4.4. Tăng cường công tác tổng kết kinh nghiệm và hướng dẫn nghiệp vụ công tác
thực hành quyền công tố các tội phạm về hối lộ ..........................................................134
4.5. Triển khai thực hiện các đạo luật về tư pháp hình sự có liên quan đến hoạt
động thực hiện chức năng thực hành quyền công tố ...................................................135
4.6. Tăng cường hợp tác quốc tế trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về
hối lộ.............................................................................................................................137
4.7. Tăng cường mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong khởi tố, điều
tra, truy tố và xét xử sơ thẩm các tội phạm về hối lộ ...................................................140
KẾT LUẬN .................................................................................................................147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ.......149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật Hình sự

TTHS

Tố tụng Hình sự

CQĐT

Cơ quan điều tra

VKS

trên thế giới.Ngày nay, ở nước Tòa ántrong xu thế hội nhập quốc tế và phát
triển kinh tế thị trường,tình hình tội phạm về hối lộ diễn ra hết sức phức tạp,
tinh vi;số lượng vụ việc tội phạm ngày một tăng, mặt khác còn thể hiện tính
đặc thù cơ bản, gây nhiều khó khăn cho công tác thực hành quyền công tố.
Dưới góc độ khoa học luật hình sự, tội phạm về hối lộ được hiểu thống
nhất bao gồm ba loại hành vi phạm tội tương ứng với ba tội cụ thể đó là tội
nhận hối lộ thuộc các tội phạm về tham nhũng, tội đưa hối lộ và tội làm môi
giới hối lộ thuộc các tội phạm khác về chức vụ. Những quan điểm, tư tưởng
phong kiến của một bộ phận nhân dân là muốn được việc thì phải hối lộ, cán
bộ làm quan thì phải có bổng lộc. Chính những quan niệm đó đã dẫn đến một
số cá nhân kể cả cán bộ công chức khi cần giải quyết công việc cá nhân đã sẵn
sàng đưa hối lộ và những người giải quyết công việc cũng coi việc nhận hối lộ
là bình thường. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tội phạm về hối lộ xảy ra
tinh vi, rất khó phát hiện và diễn ra trong tất cả lĩnh vực đời sống xã hội.
Về phương thức thủ đoạn thực hiện tội phạm khác với các loại tội phạm
khác, tội phạm về hối lộ thể hiện ở những đặc thù cơ bản như: loại tội phạm
này diễn ra bằng lời nói và hành động trực tiếp không để lại hiện trường,
thường không có người làm chứng, tội phạm diễn ra nhanh chóng; của hối lộ là
tài sản, tiền bạc hoặc các lợi ích khác được chuyển giao bằng nhiều hình thức
tinh vi. Mặc khác đối tượng lại lợi dụng sự thiếu đồng bộ của pháp luật để
phạm tội … dẫn đến việc phát hiện, thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh tội
phạm gặp rất nhiều khó khăn. Ngay cả trường hợp tội phạm bị bắt quả tang,
các đối tượng phạm tội vẫn chối tội vì có sự đồng thuận của các đối tượng.

1


Các yếu tố có tính đặc thù của loại tội phạm đã tác động và ảnh hưởng
mạnh mẽ đến công tác điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này. Là cơ quan
do Quốc hội thành lập và thừa hành quyền lực từ Quốc hội, VKSND được

Một số Kiểm sát viên chưa bám sát tiến độ điều tra để kịp thời đề ra yêu cầu
điều tra hoặc có đề ra yêu cầu điều tra nhưng chưa đầy đủ do đó khi hồ sơ
chuyển sang VKS để truy tố mới phát hiện còn nhiều mâu thuẫn chưa được làm
rõ phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, thậm chí có một số trường hợp trong giai
đoạn truy tố Kiểm sát viên vẫn không phát hiện được vi phạm pháp luật trong
quá trình điều tra nên khi hồ sơ chuyển sang tòa, trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử hoặc trong quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử mới
phát hiện hồ sơ vụ án còn thiếu các chứng cứ quan trọng hoặc có vi phạm pháp
luật phải trả hồ sơ điều tra bổ sung; việc áp dụng pháp luật vào từng trường
hợp phạm tội hối lộ cụ thể còn chưa thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố
tụng cũng như giữa các địa phương; hoạt động xét hỏi, tranh luận giữa Kiểm
sát viên với luật sư và những người tham gia tố tụng tại phiên toà còn chưa
thực chất và thiếu tính chủ động… Dẫn đến hậu quả một số tội phạm về hối lộ
quá trình điều tra còn kéo dài hoặc vụ án đã được đưa ra xét xử sơ thẩm nhưng có
kháng cáo, kháng nghị, bị cấp phúc thẩm cải sửa, huỷ án để điều tra lại làm ảnh
hưởng đến việc xử lý tội phạm và người phạm tội. Những hạn chế, tồn tại đó đã
ảnh hưởng đến chất lượng điều tra, truy tố và chất lượng xét xử các tội phạm về hối
lộ trên địa bàn cả nước thời gian qua.Thực trạng công tác thực hành quyền công
tố trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về hối lộ còn nhiều yếu
kém, bất cập là do nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân cơ bản là VKSND chưa
thực hiện tốt công tác thực hành quyền công tố đối với loại tội phạm này.
Do đó, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề "Thực hành quyền công tố đối
với các tội phạm về hối lộ ở nước ta hiện nay " làm đề tài luận án tiến sĩ nhằm
giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với tội
phạm về hối lộ ở Việt Nam là cấp thiết khách quan.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận án là nhằm tiếp cận một cách có hệ
thống và toàn diện công tác thực hành quyền công tố đối với các tội phạm về


tranh phòng chống tội phạm về hối lộ làm cơ sở cho việc phân tích lý luận và pháp
luật về thực hành quyền công tố của VKSND đối với loại tội phạm này.

4


+ Thứ hai: Quan điểm của Đảng và nhà nước về chức năng thực hành quyền
công tố của VKSND và đấu tranh phòng chống tội phạm về hối lộ; hệ thống pháp
luật của Việt Nam trong lĩnh vực thực hành quyền công tố của VKSND đối với tội
phạm về hối lộ; vấn đề về công tố, thực hành quyền công tố của VKSND; nội dung,
phương pháp thực hành chức năng thực hành quyền công tố.
Nêu căn cứ các quy định của pháp luật Việt Nam về các khái niệm có liên
quan đến tội phạm về hối lộ, trong từng tội phạm cụ thể về hối lộ; các khái niệm về
công tố và quyền công tố, thực hành quyền công tố của VKSND đối với tội phạm
về hối lộ.
+ Thứ ba: diễn biến tình hình tội phạm về hối lộ, tổ chức lực lượng của
VKSND trong việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đối với tội phạm
về hối lộ; đánh giá kết quả thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đối với tội
phạm về hối lộ của VKSND trong những năm vừa qua.
+ Thứ tư: các biện pháp nhằm tăng cường công tác thực hành quyền công tố
của VKSND đối với các tội phạm về hối lộ trong điều kiện phát triển kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực tiễn về thực hành quyền công tố trong
giai đoạn điều tra và xét xử sơ thẩm các vụ án về hối lộ trong khoảng thời gian 10
năm từ năm 2007 đến 2016.
+Về không gian: Địa bàn khảo sát, phân tích đánh giá được thực tiễn thực
hành quyền công tố đối với các tội phạm về hối lộ trên phạm vi cả nước trong đó
tập trung ở những tỉnh, thành phố trọng điểm, những ngành thường xảy ra tội phạm
về hối lộ.

BLHS và Bộ luật TTHS, Luật phòng chống tham nhũng, Luật tố cáo...
6. Những đóng góp mới của luận án
Với phương pháp tiếp cận hiện đại, phương pháp tiếp cận liên ngành khoa học xã
hội, luật hình sự, luật TTHS, khoa học điều tra tội phạm, xã hội học, tâm lý học…
Luận án là công trình chuyên khảo nghiên cứu một cách có hệ thống, tương
đối hoàn thiện về lý luận và thực tiễn công tác thực hành quyền công tố đối với các

6


tội phạm về hối lộ, những kết quả rút ra qua nghiên cứu của luận án có đóng góp
mới cho khoa học chuyên ngành cụ thể là:
- Bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận về công tác thực hành quyền
công tố đối với các tội phạm về hối lộ và vị trí, vai trò của VKSND trong đấu tranh
phòng chống loại tội phạm này.
- Xây dựng những khái niệm, nội dung, phương pháp cơ bản về thực hành
quyền công tố đối với các tội phạm về hối lộ.
- Phân tích làm rõ các dấu hiệu mang tính đặc thù của các tội phạm về hối lộ.
- Khảo sát, thống kê, đánh giá tình hình và tập trung nghiên cứu sâu một số
hoạt động thực hiện công tác thực hành quyền công tố đối với các tội phạm về hối
lộ. Qua đó phân tích, rút ra những kết quả đạt được đồng thời làm rõ những hạn
chế, yếu kém và nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém đó góp phần vào việc
tổng kết lý luận và thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố của VKSND trong
đấu tranh phòng chống tội phạm tội phạm về tham nhũng nói chung và tội phạm về
hối lộ nói riêng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
- Nghiên cứu đề xuất bổ sung những quy định về thể chế, cơ chế để bảo đảm
cho việc thực hiện công tác thực hành quyền công tố đối với tội phạm về hối lộ
có hiệu quả.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận

thường chỉ trích nhau về tình trạng thiếu năng lực trong giai đoạn điều tra. Trong
giai đoạn xét xử, chất lượng chứng cứ được sử dụng bởi Công tố viên trước tòa
thường không được các Thẩm phán đánh giá cao.
Luận án tiến sĩ của Tony Paul Marguery,“Sự thống nhất và đa dạng của các
cơ quan công tố tại châu Âu”là công trình nghiên cứu chuyên sâu về Cơ quan công
tố của bốn quốc gia châu Âu bao gồm Pháp, Hà Lan, Ba Lan và Cộng hòa Séc [69].
Kết quả nghiên cứu của công trình về hoạt động của cơ quan công tố như sau:
Cộng hòa Pháp là một quốc gia đại diện cho các nước theo truyền thống
pháp luật châu Âu lục địa, TTHS mang đặc trưng của mô hình tố tụng thẩm vấn.
Viện công tố Pháp có tư cách đại diện cho xã hội, trách nhiệm chính là tìm kiếm,
đòi hỏi các hoạt động điều tra phải tuân thủ đúng pháp luật khi điều tra các tội

8


phạm, bảo vệ lợi ích chung của xã hội. Viện công tố ở Pháp đặt bên cạnh Tòa sơ
thẩm, đóng vai trò chính tố có vị thế và những quyền hạn đặc biệt quan trọng khi
thực hành quyền công tố các vụ án hình sự như: Quyền được yêu cầu tham gia vào
hoạt động điều tra; quyền được xem hồ sơ bất kỳ lúc nào trong quá trình tố tụng
(nhưng trong vòng 24 giờ phải trả cho Dự thẩm). Dự thẩm phải xin ý kiến Viện
công tố trong phần lớn các trường hợp liên quan đến quyền công tố như: Ra quyết
định như trả tự do, lệnh tạm giữ, lệnh tạm giam. Cơ quan công tố có quyền kiểm sát
các hoạt động điều tra hình sự. Để đảm bảo Cơ quan công tố có thể thực hiện quyền
này, Cảnh sát có nghĩa vụ thông báo kịp thời cho Công tố viên có thẩm quyền về các
tội phạm hình sự trong đó đặc biệt là tội phạm hối lộ và phải gửi cho Công tố viên mọi
tài liệu, chứng cứ mà mình có được. Để thực hiện trách nhiệm, chức năng thực hành
quyền công tố của mình, Viện công tố có quyền ra các quyết định như: Mở cuộc điều
tra, tiến hành điều tra dưới sự trợ giúp của Cảnh sát tư pháp; khởi tố vụ án hình sự,
Công tố viên với quyền năng công tố được giao toàn quyền thực hiện hoạt động thẩm
tra (thực tế hiếm xảy ra), đưa ra những quyết định tố tụng quan trọng. Công tố viên có

mình, Công tố viên được thực hiện các quyền về công tố như: Đề ra yêu cầu điều tra,
yêu cầu xem xét hồ sơ, tài liệu, chứng cứ mà cảnh sát thu thập được, cùng tham gia
vào việc điều tra, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ và thay thế các quyết định và
biện pháp do Cảnh sát sử dụng, yêu cầu thay đổi Điều tra viên...
- Sách chuyên khảo, báo cáo và bài viết có liên quan đến đề tài luận án
Sách chuyên khảo của tác giả P.J.P. Tòa ánk (2008), “Hệ thống TTGHS Hà
Lan”. Trong tác phẩm này, tác giả nêu lên một thực trạng là ở giai đoạn trước, cơ quan
Công tố Hà Lan đã không thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động điều tra một cách
thích đáng. Cho đến khi Luật về các biện pháp điều tra của Cảnh sát được thông qua vào
năm 2000 và cơ quan Công tố được tái cấu trúc thì chức năng thực hành quyền công tố
của cơ quan Công tố mới được cải thiện [72].
Báo cáo thảo luận nhóm tại khóa đào tạo quốc tế lần thứ 107 của UNAFEI
(năm 1997),“Mối quan hệ giữa Cơ quan công tố với Cảnh sát và Trách nhiệm điều
tra”. Báo cáo này là kết quả của quá trình thảo luận chuyên sâu giữa mười chín
quốc gia tham gia khóa đào tạo về mối quan hệ giữa Cảnh sát và Cơ quan công tố,
trong đó có vai trò của Công tố viên trong việc khắc phục những khiếm khuyết và
vấn đề mà Điều tra viên mắc phải. Các quốc gia được chia thành hai nhóm: nhóm

10


một, bao gồm các quốc gia mà tại đó chỉ có Cảnh sát có quyền thực hiện hoạt động
điều tra (gồm CosTòa án Rica, Ghana, Ấn Độ, Kenya, Malaysia, Nepal, PakisTòa
ánn, Singapore, Sri Lanca, Thái Lan, Zambia) và Nhóm hai, bao gồm các quốc gia
mà trong đó cả Cảnh sát và Công tố viên cùng có quyền thực hiện hoạt động điều
tra (gồm Cameroon, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào,
Philippines). Vai trò của Công tố viên trong giai đoạn điều tra ở từng quốc gia được
phân tích cụ thể, từ đó tạo điều kiện cho việc đánh giá những lợi ích có được khi
Công tố viên tham gia vào hoạt động điều tra. Với kinh nghiệm và kiến thức pháp
lý của mình, Công tố viên có thể đưa ra những chỉ đạo, cố vấn hợp lý cho các Điều

động điều tra của Cảnh sát chậm nhất là vào thời điểm quyết định có hay không
việc truy tố, trong đó phải kiểm sát cả việc đảm bảo nhân quyền. Đối với những
quốc gia như: Cộng Hòa Pháp, ITòa ánlia, Cộng hòa Liên bang Đức thì Cảnh sát
chịu sự chỉ đạo của Công tố viên khi thực hiện hoạt động điều tra thì phải có các
biện pháp nhằm đảm bảo Công tố viên có thể thực hiện hiệu quả quyền hạn của
mình, có thể đánh giá và kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra
của Cảnh sát. Đối với những quốc gia mà Cảnh sát có vai trò độc lập khi tiến hành
hoạt động điều tra thì phải đảm bảo có sự hợp tác thích hợp giữa Cảnh sát và Công
tố viên [73].
Tài liệu chuyên khảo của Liên hợp quốc (1990), tại Havana, Cuba, “Hướng
dẫn về vai trò của công tố viên” được thông qua tại Hội nghị lần thứ tám về phòng
chống tội phạm và xử lý người phạm tội nhằm cung cấp các thông tin thiết thực và
lý luận pháp lý để các quốc gia nghiên cứu đưa vào nội luật. Vai trò tích cực của
Công tố viên trong quá trình TTHS được khẳng định, bao gồm chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. Công tố viên thực hiện nhiệm vụ của
mình, góp phần đảm bảo quá trình TTHS diễn ra suôn sẻ và đúng thủ tục. Khi biết
hoặc nghi ngờ những chứng cứ bất lợi cho bị can, bị cáo được thu thập một cách
bất hợp pháp hoặc vi phạm nghiêm trọng về nhân quyền, đặc biệt là liên quan đến
tra tấn hoặc sử dụng các biện pháp dã man, vô nhân đạo, hạ thấp nhân phẩm khác
thì Công tố viên sẽ từ chối sử dụng các chứng cứ này, thông báo cho Tòa án và tiến
hành mọi biện pháp cần thiết, đảm bảo người sử dụng các biện pháp trên phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật [77].

12


Trong báo cáo Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (2010), “Báo cáo
nghiên cứu về tổ chức và chức năng của hệ thống tư pháp ở năm quốc gia chọn lọc
(Trung Quốc, Liên bang Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc và Indonesia)” , nội dung của mỗi
báo cáo thành phần là cung cấp những thông tin cơ bản nhất về thực trạng và vấn đề

trách nhiệm chỉ đạo hoạt động điều tra và Cảnh sát phải tuân theo chỉ đạo của Cơ
quan công tố nhưng ở Nhật Bản thì trách nhiệm điều tra chủ yếu thuộc về Cảnh sát,
dù Cơ quan công tố cũng có quyền điều tra một số loại tội phạm. Ở các nước theo
hệ thống luật án lệ như Anh, Kenya, PakisTòa ánn, Papua New Guinea, Tòa
ánnzania, Cơ quan công tố không thực hiện hoạt động điều tra mà chỉ có vai trò cố
vấn hoặc giám sát. Báo cáo đã phân tích những ưu điểm và hạn chế khi hoạt động
điều tra được tiến hành hoàn toàn bởi Cảnh sát và khi được giao hẳn cho Công tố
viên chỉ đạo, thực hiện. Từ đó, báo cáo khẳng định nhu cầu hợp tác giữa Cảnh sát
và Công tố viên trong khi tiến hành hoạt động điều tra. Mười lăm quốc gia tham gia
nhóm thảo luận đều công nhận Cơ quan công tố cần có vai trò giám sát sự tuân thủ
pháp luật trong hoạt động điều tra [76].
Báo cáo nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp Nhật Bản
(2010) của PGS. Luke NotTòa ánge, Đại học Tổng hợp Sydney, GS. Kent Anderson,
Đại học Quốc gia Úc, GS. Makoto Ibusuki, Đại học Tổng hợp Seijo, GS. David
Johnson, Đại học tổng hợp Hawai nghiên cứu, phân tích: Viện Công tố Nhật Bản,cũng
có chức năng, nhiệm vụ rất quan trọng trong TTHS. Bộ luật TTHS Nhật Bản quy định
về trách nhiệm phát hiện tội phạm và thẩm quyền rất lớn của Công tố viên, về trách
nhiệm Cảnh sát phải thực hiện chỉ đạo của Công tố viên theo các hình thức, nguyên tắc
liên quan đến các vấn đề cần thiết để tiến hành điều tra phù hợp và để thực hiện việc
truy tố [70].
Bài viết trên website />nêu quan điểm về tội phạm hối lộ và nhiệm vụ của Công tố viên trong việc chứng minh
hành vi phạm tội. Theo bài viết hối lộ là sự đề nghị hoặc đòi hỏi giữa cá nhân có nhu cầu
nhận lợi ích và một bên có thẩm quyền điều chỉnh lợi ích đó, ví dụ như các hợp đồng xây
dựng của chính phủ hoặc việc sắp xếp nhân sự trong một cơ quan, tổ chức. Tòa ánng vật
của vụ án hối lộ có thể tồn tại dưới dạng vật chất như tiền, nữ trang, quà tặng giá trị cao
hoặc bất động sản… nhưng cũng có thể được chấp nhận dưới hình thức quà tặng tình dục
hoặc các ưu đãi cho người nhà quan chức. Tội phạm hối lộ bị xem là trọng tội theo pháp

14


quy định các tội phạm về chức vụ trong đó có tội nhận hối lộ tại Điều 226 và tội
đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ tại Điều 227). Trong đó có các dấu hiệu của tội
đưa hối lộ và nhận hối lộ, tội làm môi giới hối lộ đã đi sâu nghiên cứu phân tích
trách nhiệm hình sự của các tội phạm về chức vụ trong mối quan hệ với các loại tội
phạm khác qua đó làm rõ tính đặc thù về trách nhiệm hình sự đối với những người
phạm các tội phạm về chức vụ. Có thể nói mặc dù sách chuyên khảo này nghiên
cứu về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về chức vụ theo quy định của

15


BLHS năm 1985. Tuy nhiên những quan điểm về khái niệm các tội phạm về chức
vụ trong đó có tội nhận hối lộ và tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ vấn đề về
trách nhiệm hình sự của người phạm tội vẫn có giá trị về mặt nghiên cứu lý luận và
thực tiễn áp dụng pháp luật trong điều kiện hiện nay.
Tạp chí kiểm sát (2011), “VKSND trong tiến trình cải cách tư pháp”, tập
hợp nhiều bài phát biểu của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và của ngành Kiểm sát về
chức năng, nhiệm vụ của VKSND hiện tại và xu hướng đổi mới theo yêu cầu cải
cách tư pháp. Nội dung các bài phát biểu rất phong phú, nhưng đều khẳng định
VKSND tiếp tục thực hiện hai chức năng theo quy định của Hiến pháp năm 1992
quy định, đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Đỗ Ngọc Quang (2001), sách chuyên khảo “Mối quan hệ giữa Cơ quan điều
tra với các cơ quan tiến hành TTHS”. Trên cơ sở pháp luật thực định, tác giả đã
phân tích cơ sở pháp lý mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát, Tòa
án và các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp trong TTgHS; đồng thời, đề xuất các giải
pháp hoàn thiện mối quan hệ này. Trong đó, tác giả kết luận: Cơ quan điều tra và
VKS phải phối hợp, chế ước lẫn nhau và sự chế ước của Cơ quan điều tra không
mạnh mẽ như quan hệ kiểm sát của VKS đối với Cơ quan điều tra.
Lê Hữu Thể (2008),“Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp trong giai đoạn điều tra”, Nhà xuất bản Tư pháp, sách chuyên khảo đã đề cập

Tạp chí Kiểm sát (2007), “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về tham
nhũng trong Bộ luật hình sự Việt Nam”. Nội dung sách chuyên khảo nhận định
tham ô, hối lộ là một hiện tượng xã hội thuộc phạm trù lịch sử, nó gắn liền với sự ra
đời và phát triển của Nhà nước, còn Nhà nước là còn tham nhũng, không phân biệt
chế độ kinh tế, chính trị, xã hội. Tuy nhiên, tùy thuộc vào tình hình kinh tế, chính
trị, xã hội, chính sách hình sự và các biện pháp phòng chống tội phạm hối lộ, tham
ô ở mỗi quốc gia mà có hướng xử lý khác nhau. Để phục vụ công cuộc đấu tranh
chống hối lộ, tham ô trên mọi mặt trận, sách chuyên khảo đã tập hợp các bài viết
phân tích, bình luận khoa học về trách nhiệm hình sự đối với tội phạm về tham
nhũng nói chung và hối lộ nói riêng quy định trong BLHS 1999. Đây có thể được
xem là nguồn tư liệu quý giá để hoàn thiện BLHS cũng như Bộ luật TTHS trong
thời gian tiếp theo.

17


Nguyễn Tiến Sơn, (2012), Luận án tiến sĩ“Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra
với VKS trong TTHS Việt Nam”, tác giả đã nghiên cứu dưới góc độ lý luận một cách
có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về mối quan hệ giữa CQĐT và VKSND trong
TTHS Việt Nam. Trong đó, đã nghiên cứu vị trí, chức năng, nhiệm vụ của CQĐT và
VKS trong bộ máy Nhà nước Tòa án, phân định chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS. Luận án đã tiến hành nghiên
cứu, xây dựng các khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc, nội dung, hình thức của
mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và VKS trong TTHS. Trong đó đã xây dựng được
khái niệm phối hợp, chế ước giữa CQĐT và VKS và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về mối
quan hệ giữa CQĐT và VKS trong từng chế định TTHS. Luận án đã khái quát sự hình
thành hoạt động giám sát ở nước Tòa án qua các thời kỳ phong kiến, thuộc địa Pháp và
quá trình hoàn thiện mối quan hệ giữa CQĐT và VKSND trong TTHS trước khi có Bộ
luật TTHS đầu tiên ở nước Tòa án đến nay. Tác giả xác định mối quan hệ giữa CQĐT
và VKSND trong hoạt động điều tra là mối quan hệ phối hợp và chế ước từ khi phát

VKSND.
- Các giáo trình, bài báo cáo, chuyên đề và bài viết có liên quan đến đề tài
luận án
Trường đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát (2004) “Kỹ năng thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra, xét xử vụ án hình sự ”. Đây là tập bài giảng tập
trung xây dựng các kĩ năng nghiệp vụ của Kiểm sát viên trong thực tiễn hành nghề.
Tập bài giảng được biên soạn với những nội dung chủ yếu bao gồm kĩ năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra, truy tố
các vụ án hình sự; kĩ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án
hình sự; kĩ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
một số loại án cụ thể trong đó có các vụ án hối lộ.
VKSND tối cao, đề tài khoa học cấp Bộ (2010), “ Thực trạng và giải pháp
nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự”.
Đề tài này chú trọng vào các vấn đề vị trí, vai trò, nội dung và phạm vi của công tác
thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự; chỉ ra mối quan hệ
của công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự với các
công tác khác trong ngành Kiểm sát nhân dân; tổng kết công tác thực hành quyền
công tố và kiểm sát xét xử hình sự từ năm 2005 đến tháng 06 năm 2010, nêu các

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status