Header Page 1 of 126.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN ĐIỀN
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
Footer Page 1 of 126.
Header Page 2 of 126.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN ĐIỀN
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
quan cùng với sự đóng góp của bạn bè, đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành Luật
văn thạc sỹ Luật học. Qua đây tôi xin chân thành gửi lời cảm cảm ơn đến:
Ban chủ nhiệm Khoa Luật, Tổ bộ môn Tư pháp hình sự, các giảng viên
đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những tri thức kinh nghiệm quý báu trong
suốt thời gian học tập tại trường.
Cảm ơn Trung tâm thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Thư viện Đại
học Luật Hà Nội và Thư viện Học viện Tư pháp đã cho phép tra cứu và sử
dụng các tài liệu nghiên cứu, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã
giúp đỡ tôi số liệu thực tiễn trong giải quyết các vụ án xâm phạm sở hữu.
Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi rất
nhiều trong suốt thời gian học tập và hoàn thiện luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin dành sự kính trọng và cảm ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn
Văn Tuân, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
và hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Điền
Footer Page 4 of 126.
Header Page 5 of 126.
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU ............................ 6
1.1. Các khái niệm cơ bản. ........................................................................... 6
1.1.1. Quyền công tố.................................................................................. 6
1.1.2. Thực hành quyền công tố ............................................................. 13
giai đoạn xét xử các vụ án xâm phạm sở hữu. .......... Error! Bookmark not
defined.
2.3.1. Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ
án xâm phạm sở hữu. .................................. Error! Bookmark not defined.
2.3.2. Thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn
xét xử các vụ án xâm phạm sở hữu. ........... Error! Bookmark not defined.
2.4. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trong hoạt động thực hành
quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu. ........ Error! Bookmark not
defined.
2.4.1. Nguyên nhân khách quan ................. Error! Bookmark not defined.
2.4.2. Nguyên nhân chủ quan ..................... Error! Bookmark not defined.
Kết luận chƣơng 2 ............................................. Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU.
..................................................................................... Error! Bookmark not defined.
3.1. Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về các tội
xâm phạm sở hữu............................................ Error! Bookmark not defined.
3.2. Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về thực
hành quyền công tố. ........................................ Error! Bookmark not defined.
3.3. Tăng cường trách nhiệm thực hành quyền công tố trong hoạt động
điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra . Error! Bookmark not defined.
3.4. Nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công
tố tại phiên tòa. ................................................ Error! Bookmark not defined.
3.5. Nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm sát viên, kiểm tra viên. ......... Error!
Bookmark not defined.
3.6. Đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành, phân định trách nhiệm trong
hoạt động thực hành quyền công tố............... Error! Bookmark not defined.
3.7. Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân với cơ
quan điều tra và Tòa án và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác trong
BLTTHS
Điều tra viên
ĐTV
Kiểm sát hoạt động tƣ pháp
KSHĐTP
Kiểm sát viên
KSV
Thực hành quyền công tố
THQCT
Tố tụng hình sự
TTHS
Trách nhiệm hình sự
TNHS
Viện kiểm sát
VKS
được nâng cao. Trong đó, việc tăng cường chất lượng THQCT của VKSND
nhằm: chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và bảo vệ pháp chế
xã hội chủ nghĩa là vô cùng cần thiết. Đây là một trong những nội dung quan
trọng được thể hiện trong nhiều nghị quyết của Đảng như Nghị quyết số
08/NQ/2002 ngày 02 /01/ 2002 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp; Nghị
quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014
về việc thực hiện nghị quyết số 49/NQ/TW nhấn mạnh: “Viện kiểm sát nhân
dân các cấp thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải thực hiện
ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không
bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội… Nâng cao
chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đảm bảo tranh tụng với
Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác…”.[6]
1
Footer Page 9 of 126.
Header Page 10 of 126.
Trước sự gia tăng đến mức lo ngại của tội phạm xâm hại sở hữu, Đảng và
Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo, kiên quyết đấu tranh nhằm từng bước ngăn
chặn và đẩy lùi, loại tội phạm nguy hiểm này. Tuy nhiên, việc giải quyết các
vụ án xâm phạm sở hữu còn gặp nhiều khó khăn cả về lý luận và thực tiễn bởi
tội phạm xâm hại về sở hữu diễn biến khá phức tạp, quá trình giải quyết vụ án
chia thành nhiều giai đoạn khác nhau do vậy việc điều tra, truy tố, xét xử gặp
nhiều khó khăn.
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Thực hành quyền công tố đối với
các tội xâm phạm sở hữu theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm luận văn
khỏe trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng và một số kiến nghị của Lê
Thanh Hùng …
Tuy nhiên, những nghiên cứu này thường thiên về lý thuyết hoặc thực
tiễn, hay chỉ trong giới hạn một tội nhất định; những công trình nghiên cứu
tổng thể cả lý luận và thực tiễn THQCT đối với nhóm tội thì chưa được đề
cập nhiều. Vì vậy, luận văn này tôi tập trung vào nghiên cứu một số hoạt động
THQCT đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu (có tính chất chiếm đoạt). Từ đó
đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác THQCT nói
chung và THQCT đối với tội xâm phạm sở hữu nói riêng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ cơ sở lý luận về THQCT của VKSND trong Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở lý luận về THQCT liên hệ với hoạt
động THQCT trong việc giải quyết các vụ án hình sự về xâm phạm sở hữu.
Qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng THQCT dưới góc độ
hoàn thiện pháp luật và thực tiễn áp dụng.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu lịch sử hình thành quyền công tố và thực hành quyền công
tố của Viện kiểm sát nhân dân.
Nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hành quyền công tố đối với các vụ
án hình sự ở Việt Nam. Khảo sát thực tiễn THQCT đối với tội xâm phạm sở
hữu trong những năm gần đây trên địa bàn thành phố Hà Nội.
3
Footer Page 11 of 126.
Header Page 12 of 126.
Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật để qua
Header Page 13 of 126.
7. Ý nghĩ của luận văn
Luận văn này góp làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về quyền
công tố và THQCT trong TTHS. Những nội dung nghiên cứu của luận văn
đóng góp một phần nhỏ trong việc nhìn nhận và đánh giá hoạt động của VKS
trong hoạt động THQCT.
Ngoài ra luận văn còn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
THQCT trong việc giải quyết các vụ án hình sự về nhóm tội xâm phạm sở hữu.
Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương chính:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố đối với
các tội xâm phạm sở hữu theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 2: Nội dung và thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố
đối với các tội xâm phạm sở hữu theo Luật tố tụng hình sự việt Nam.
Chương 3: Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền
công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu.
5
Footer Page 13 of 126.
Header Page 14 of 126.
Chƣơng 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
1.1.
Header Page 15 of 126.
tồn tại quyền công tố; từ 1960 đến nay do VKSND thực hiện quyền này.
Tuy nhiên, hiểu thế nào là “công tố”, “quyền công tố”, bản chất và nội
dung của nó là gì, thì hiện nay vẫn chưa có nhận thức, quan điểm thống nhất
chung. Có quan điểm cho rằng, công tố là “hoạt động tố tụng đối với các vụ án
mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các lợi ích của Nhà nước
khi mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật”.
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ do GS. Hoàng Phê chủ
biên thì: công tố có nghĩa là “điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước
Tòa án” (50, tr.204). Từ điển Luật học lại ghi công tố “là quyền của Nhà nước
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” [51, tr.188]. Thuật ngữ
“quyền công tố” lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980; sau đó
tại Hiến pháp năm 1992, Bộ luật TTHS năm 1999, Bộ luật TTHS năm 2003,
Luật tổ chức VKSND năm 1981, năm 1992, năm 2002, năm 2014; Pháp lệnh
KSV năm 2002, năm 2014 ...
Từ điển luật học định nghĩa về quyền công tố như sau: “Quyền công tố
là quyền buộc tội nhân danh Nhà nuớc đối với người phạm tội” [51, tr.188].
Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước giải thích chính
thức nội dung quyền công tố. Có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung, lĩnh
vực cũng như phạm vi chủ thể tham gia THQCT. Nhưng về nội dung và phạm
vi THQCT (những yếu tố cấu thành quyền công tố) là những yếu tố không thể
thay đổi ở bất kỳ quốc gia nào. Nghiên cứu các tài liệu hiện hành có thể thấy
một số quan điểm về quyền công tố như sau:
Quan điểm thứ nhất đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động
kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND. Quan điểm này cho rằng tất cả
các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là THQCT và đưa ra khái
niệm về quyền công tố như sau: “Quyền nhân danh nhà nước thực hiện các
THQCT của Viện kiểm sát.
Quan điểm thứ ba cho rằng quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà
nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật [46; tr.85-86]. Quan điểm này
cho rằng quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật; cùng với
sự phát triển của xã hội và của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng
Footer Page 16 of 126.
8
Header Page 17 of 126.
sang các lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động. Theo quan điểm này thì nội dung
quyền công tố là tổng hợp các biện pháp pháp lý đặc trưng theo luật định mà
VKS có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động tố tụng tư pháp; quyền công tố
là một nội dung của hoạt động chức năng của VKSND trong lĩnh vực TTHS,
tố tụng dân sự và các lĩnh vực tư pháp khác, nhằm đảm bảo mọi hành vi vi
phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp
luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp
chế. Quan điểm này quá mở rộng quyền công tố, dẫn đến xóa nhòa ranh giới
và tính đặc thù giữa TTHS và các lĩnh vực tố tụng khác; đồng nhất quyền
công tố với các quyền năng khác của VKS trong quá trình giải quyết các vụ
án dân sự, kinh doanh thương mại, lao động.
Các quan điểm trên đều có hạn chế là không phân định rõ ràng khái
niệm, bản chất, nội dung, phạm vi quyền công tố:
Hoặc là đánh đồng quyền công tố với các chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật của Viện kiểm sát, dẫn đến mở rộng phạm vi quyền công tố
vượt khỏi lĩnh vực tố tụng hình sự sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự,
chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử. Với tư cách là một chức
năng tố tụng luôn nhằm chống lại một cá nhân cụ thể thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội, chức năng buộc tội thực chất chính là hoạt động truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với kẻ phạm tội. Trong chức năng buộc tội, hình thức
buộc tội nhân danh Nhà nước (nhân danh quyền lực công) giữ vai trò là động
lực của hoạt động tố tụng; nó thu hút hoạt động của tất cả các chủ thể tham
gia vào hoạt động tố tụng hình sự.
Như vậy, có thể hiểu: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước
thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền
này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở
nước ta là cơ quan Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan có
chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu
thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên
cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó
trước phiên toà [38].
Footer Page 18 of 126.
10
Header Page 19 of 126.
Quan niệm này đã lột tả được bản chất của quyền công tố, đó là quyền
năng đặc biệt của Nhà nước trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội.
Từ những nội dung trình bày trên, có thể rút ra định nghĩa: Quyền công
tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội, trên cơ sở bảo đảm việc thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định tội
điểm khác nhau về quyền công tố do đó cũng có những quan niệm khác nhau
về đối tượng và nội dung của quyền công tố. Tuy nhiên, đối tượng của quyền
công tố trong các lĩnh vực tố tụng là không giống nhau.
Trong tố tụng hình sự, quyền công tố không thể tách rời với việc nhân
danh Nhà nước (nhân danh công quyền) chống lại hình thức vi phạm pháp luật
nghiêm trọng nhất đó là tội phạm. Bởi tội phạm là vi phạm pháp luật nguy
hiểm nhất; kẻ phạm tội xâm phạm trước hết đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích
xã hội, sau đó mới đến lợi ích của người bị hại. Do vậy, Nhà nước nhân danh
xã hội dành cho mình quyền trừng trị kẻ phạm tội. Cơ quan được giao thực
hiện chức năng THQCT trong TTHS có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập
chứng cứ để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi bị coi là tội
phạm ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa.
Còn tố tụng dân sự thì đối tượng của nó là các tranh chấp dân sự liên
quan đến lợi ích của từng cá nhân. Một trong những nguyên tắc đặc thù của tố
tụng dân sự là nguyên tắc tự định đoạt của các đương sự. Ý chí, lợi ích, sự tự
thoả thuận của các đương sự sẽ quyết định sự xuất hiện, vận động và chấm
dứt hoạt động tố tụng. Trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh trước hết
thuộc về các đương sự; trong khi cốt lõi của tố tụng hình sự là hoạt động của
các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm phát hiện, khám phá tội phạm, xác định
và xử lý kẻ phạm tội. Qua đó có thể xác định được đối tượng, nội dung của
quyền công tố như sau:
Đối tượng công tố là yếu tố mà quyền lực công tố tác động vào nhằm
đạt mục đích cụ thể của quyền công tố, đó có thể là mục đích buộc tội người
phạm tội để trừng phạt, khôi phục trật tự pháp luật đã bị xâm hại, bảo vệ các
quyền, lợi ích chính đáng của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị…Do vậy
quyền công tố là quyền lực nhà nước, do Nhà nước đứng ra thay mặt xã hội
thực hiện việc buộc tội nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã
Footer Page 20 of 126.
trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người
phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
Footer Page 21 of 126.
13
Header Page 22 of 126.
kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án
hình sự”. Tuy nhiên thực tế thì không phải bất kỳ vụ án nào xảy ra các cơ
quan bảo vệ pháp luật cũng có thể phát hiện ra để xử lý một cách kịp thời.
Đây là mối quan hệ giữa khả năng và việc thực hiện hóa khả năng, giữa Nhà
nước trao quyền và việc thực hiện quyền lực đó trên thực tế của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
Điều kiện chấm dứt THQCT trong TTHS (khi có một trong những căn
cứ quy định tại điều 107 của BLTTHS):
Thứ nhất: không có sự việc phạm tội (khoản 1) thì không được khởi tố
vụ án hình sự; nếu đã khởi tố thì hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định không
khởi tố vụ án hình sự vì không có đối tượng tác động của quyền công tố;
Thứ hai: hành vi không cấu thành tội phạm (khoản 2) là hành vi tuy có
dấu hiệu tội phạm nhưng quy mô hành vi hoặc quy mô hậu quả của hành vi
không lớn, chưa đủ cấu thành tội phamjtheo quy định của BLHS (như trộm
cắp tài sản dưới 2 triệu đồng mà không có các yếu tố khác cấu thành);
Thứ ba: người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi
chịu trách nhiệm hình sự (khoản 3). Trong trường hợp này, nếu đã khởi tố bị
can thì phải hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc ra đình chỉ điều tra bị can;
Thứ tư: người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định
đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật (khoản 4). Vì sự việc đã quyết tụng, do
Nội dung thực hành quyền công tố đó là:
Thứ nhất, hoạt động của VKS trong việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
Khởi tố vụ án, khởi tố bị can là những biện pháp phát động quyền công tố, mở
đầu cho các hoạt động tố tụng khác để làm rõ tội phạm xảy ra, vạch trần
người có lỗi trong thực hiện hành vi phạm tội. Những quyền năng pháp lý trên
chỉ duy nhất có VKS được thực hiện một cách độc lập, không chịu sự can
thiệp, chi phối của bất kì cơ quan Nhà nước nào.
Thứ hai, Các biện pháp áp dụng TNHS đối với người phạm tội: phê
chuẩn, không phê chuẩn việc áp dụng hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn
như bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam của cơ quan
điều tra; Viện kiểm sát trực tiếp áp dụng, thay đổi các biện pháp ngăn chặn
Footer Page 23 of 126.
15
Header Page 24 of 126.
như ra lệnh bắt, ra lệnh tạm giam bị can; phê chuẩn lệnh khám xét của cơ
quan điều tra.
Thứ ba, Những biện pháp xử lý vụ án: Quyết định việc truy tố bị can ra
Tòa; duy trì quyền công tố tại phiên tòa nhằm bảo vệ quyết định truy tố của
mình. Đồng thời kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc
thẩm khi thấy có sự vi phạm về nội dung. Quyết định chấm dứt việc THQCT
bằng việc ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án.
Vậy có thể kết luận THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng
pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.
Qua sự phân tích trên ta có thể nhận thấy mối quan hệ giữa quyền công
Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, VKS có trách nhiệm áp dụng
những biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để loại trừ việc vi phạm
pháp luật của bất kỳ cơ quan tư pháp hoặc cán bộ tư pháp nào. Ở nước ta,
hoạt động KSHĐTP hình sự chỉ do duy nhất một chủ thể tiến hành, đó là cơ
quan VKS. Hoạt động này được thực hiện bởi các KSV là người tiến hành tố
tụng trong tố tụng hình sự, trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của
VKS được ghi nhận trong Luật tổ chức VKSND và BLTTHS. KSHĐTP hình
sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước, do Quốc hội giao cho Viện
kiểm sát nhằm bảo đảm pháp chế trong hoạt động tư pháp hình sự.
Tóm lại ở bất kì giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án hình sự,
THQCT là những biện pháp mà VKS trực tiếp quyết định như: quyết định
khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện
pháp ngăn chặn; quyết định phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra;
quyết định việc truy tố bị can ra Tòa án; còn KSHĐTP là những biện pháp
VKS không trực tiếp ra quyết định, mà qua công tác kiểm sát, nếu phát
hiện các vi phạm pháp luật của CQĐT thì yêu cầu, kiến nghị CQĐT, các cơ
quan được giao một số hoạt động điều tra khắc phục.
Giữa hoạt động KSHĐTP và THQCT trong giải quyết vụ án hình sự có
mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, hỗ trợ cho nhau. Mối quan hệ này
song song tồn tại trong phạm vi bắt đầu từ khi tội phạm được phát hiện, khởi
Footer Page 25 of 126.
17