Thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu theo luật tố tụng hình sự việt nam (tt) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN ĐIỀN

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN ĐIỀN

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

CÁN BỘ HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: T.S. NGUYỄN VĂN TUÂN

Hà Nội - 2017



Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Điền


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU ............................ 6
1.1. Các khái niệm cơ bản. ........................................................................... 6
1.1.1. Quyền công tố.................................................................................. 6
1.1.2. Thực hành quyền công tố ............................................................. 13
1.2. Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố đối với các tội xâm
phạm sở hữu. ............................................................................................... 18
1.2.1. Các tội xâm phạm sở hữu ............................................................. 18
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố đối với các tội
xâm phạm sở hữu..................................................................................... 21
Kết luận chƣơng 1 ........................................................................................ 30
Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU. ....... Error!
Bookmark not defined.
2.1. Nội dung và thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong
giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu. ......... Error! Bookmark not
defined.
2.1.1. Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các
vụ án xâm phạm sở hữu .............................. Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu. ......... Error! Bookmark not defined.
2.2. Nội dung và thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong
giai đoạn truy tố các vụ án xâm phạm sở hữu. ......... Error! Bookmark not

tố tại phiên tòa. ................................................ Error! Bookmark not defined.
3.5. Nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm sát viên, kiểm tra viên. ......... Error!
Bookmark not defined.
3.6. Đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành, phân định trách nhiệm trong
hoạt động thực hành quyền công tố............... Error! Bookmark not defined.
3.7. Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân với cơ
quan điều tra và Tòa án và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác trong


thực hành quyền công tố đối với các tội xâm phạm sở hữu. .............. Error!
Bookmark not defined.
3.8. Nâng cao chất lượng về cơ sở vật chất, kĩ thuật phục vụ trong ngành
kiểm sát nhân dân. .......................................... Error! Bookmark not defined.
Kết luận chƣơng 3 ............................................. Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN CHUNG ........................................ Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 31
PHỤ LỤC


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Cơ quan điều tra

CQĐT

Bộ luật hình sự

BLHS

Bộ luật tố tụng hình sự


Viện kiểm sát nhân dân

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân tối cao

VKSNDTC

Xâm phạm sở hữu

XPSH


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm đã có
những bước phát triển lớn, góp phần quan trọng giữ vững an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy
nhiên, tình hình tội phạm nhìn chung vẫn diễn biến hết sức phức tạp với
những phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Số lượng tội phạm nói chung
và tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng luôn có xu hướng gia tăng, nghiêm
trọng hơn cả về quy mô và tính chất. Việc gia tăng về số vụ và số đối tượng
phạm tội loại này không chỉ ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, mà còn
trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người dân, đe dọa
đến hoạt động bình thường của đời sống xã hội.
Do vậy, chất lượng hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật phải
được nâng cao. Trong đó, việc tăng cường chất lượng THQCT của VKSND
nhằm: chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và bảo vệ pháp chế
xã hội chủ nghĩa là vô cùng cần thiết. Đây là một trong những nội dung quan
trọng được thể hiện trong nhiều nghị quyết của Đảng như Nghị quyết số

cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự. Vấn đề này được nghiên cứu khá phong phú dưới nhiều góc độ khác nhau
và được thể hiện qua các đề tài, các sách, các bài đăng trên các tạp chí chuyên
ngành. Đề cập đến quá trình phát triển của lý luận về quyền công tố có những
công trình là đề tài khoa học cấp nhà nước, cấp bộ, các luận án tiến sĩ, luận
văn thạc sĩ, sách chuyên khảo, các bài viết: Lê Hữu Thể (Chủ biên): Thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều
tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005; Bàn về khái niệm quyền công tố, (Tạp chí
chuyên ngành), Hà Nội, 2000; Lê Thị Tuyết Hoa: Quyền công tố ở Việt Nam,
(Luận án tiến sỹ luật học), Hà Nội, 2002; Lê Cảm: Một số vấn đề lý luận cơ
bản về quyền công tố (Tạp chí chuyên ngành), Hà Nội, 2000...

2


Đề cập tới hoạt động THQCT có bài: Một số kỹ năng THQCT và kiểm
sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của
Ths.Lê Đức Xuân - Viện trưởng VKSND tỉnh Bình Phước; THQCT và kiểm
sát điều tra các vụ án gây rối trật tự công cộng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
của Phạm Thị Thúy; THQCT và kiểm sát điều tra các tội xâm phạm sức
khỏe trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng và một số kiến nghị của Lê
Thanh Hùng …
Tuy nhiên, những nghiên cứu này thường thiên về lý thuyết hoặc thực
tiễn, hay chỉ trong giới hạn một tội nhất định; những công trình nghiên cứu
tổng thể cả lý luận và thực tiễn THQCT đối với nhóm tội thì chưa được đề
cập nhiều. Vì vậy, luận văn này tôi tập trung vào nghiên cứu một số hoạt động
THQCT đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu (có tính chất chiếm đoạt). Từ đó
đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác THQCT nói
chung và THQCT đối với tội xâm phạm sở hữu nói riêng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

luận văn luật học này. Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành
như: thu thập số liệu, thông tin; thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá, so
sánh các thông tin, số liệu đã thu thập được.
6. Điểm mới khoa học của luận văn
Luận văn là tài liệu chuyên khảo nghiên cứu về thực hành quyền công
tố đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu. Vì vậy có một số điểm mới sau:
Làm rõ một số vấn đề lý luận về quyền công tố; thực hành quyền công
tố; những điểm nổi bật của nhóm tội xâm phạm sở hữu.
Chỉ ra những ưu điểm, khuyết điểm và những hạn chế, tồn tại khi áp
dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với nhóm tội xâm phạm sở
hữu. Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thực hành quyền
công tố; nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố.

4


7. Ý nghĩ của luận văn
Luận văn này góp làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về quyền
công tố và THQCT trong TTHS. Những nội dung nghiên cứu của luận văn
đóng góp một phần nhỏ trong việc nhìn nhận và đánh giá hoạt động của VKS
trong hoạt động THQCT.
Ngoài ra luận văn còn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
THQCT trong việc giải quyết các vụ án hình sự về nhóm tội xâm phạm sở hữu.
Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương chính:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố đối với
các tội xâm phạm sở hữu theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 2: Nội dung và thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố

Viện kiểm sát nhân dân.
Vậy, quyền công tố là gì? Mặc dù các học giả và các nhà hoạt động
thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật đã tập trung nghiên cứu, tuy nhiên vẫn chưa
có cách hiểu thống nhất về khái niệm trên. Tại Việt Nam, khoa học luật TTHS
nói riêng cũng như khoa học pháp lý nói chung, chế định “quyền công tố”
chưa được nghiên cứu một cách toàn diện; chính vì vậy, chưa có khái niệm
chính thống về quyền công tố. Ở nước ta trước Hiến Pháp năm 1959 cũng đã

6


tồn tại quyền công tố; từ 1960 đến nay do VKSND thực hiện quyền này.
Tuy nhiên, hiểu thế nào là “công tố”, “quyền công tố”, bản chất và nội
dung của nó là gì, thì hiện nay vẫn chưa có nhận thức, quan điểm thống nhất
chung. Có quan điểm cho rằng, công tố là “hoạt động tố tụng đối với các vụ án
mà trong đó động chạm trực tiếp hay gián tiếp đến các lợi ích của Nhà nước
khi mà người đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi phạm pháp luật”.
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ do GS. Hoàng Phê chủ
biên thì: công tố có nghĩa là “điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước
Tòa án” (50, tr.204). Từ điển Luật học lại ghi công tố “là quyền của Nhà nước
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội” [51, tr.188]. Thuật ngữ
“quyền công tố” lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980; sau đó
tại Hiến pháp năm 1992, Bộ luật TTHS năm 1999, Bộ luật TTHS năm 2003,
Luật tổ chức VKSND năm 1981, năm 1992, năm 2002, năm 2014; Pháp lệnh
KSV năm 2002, năm 2014 ...
Từ điển luật học định nghĩa về quyền công tố như sau: “Quyền công tố
là quyền buộc tội nhân danh Nhà nuớc đối với người phạm tội” [51, tr.188].
Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào của Nhà nước giải thích chính
thức nội dung quyền công tố. Có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung, lĩnh
vực cũng như phạm vi chủ thể tham gia THQCT. Nhưng về nội dung và phạm

tr.86-88]. Quan điểm này quá thu hẹp khái niệm, nội dung cũng như phạm vi
của quyền công tố. Về lý luận cũng như trên thực tế, hoạt động THQCT của
VKS tại Tòa án chỉ là một bộ phận trong nhiều hoạt động thực hiện chức năng
THQCT của Viện kiểm sát.
Quan điểm thứ ba cho rằng quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà
nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật [46; tr.85-86]. Quan điểm này
cho rằng quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật; cùng với
sự phát triển của xã hội và của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng

8


sang các lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động. Theo quan điểm này thì nội dung
quyền công tố là tổng hợp các biện pháp pháp lý đặc trưng theo luật định mà
VKS có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động tố tụng tư pháp; quyền công tố
là một nội dung của hoạt động chức năng của VKSND trong lĩnh vực TTHS,
tố tụng dân sự và các lĩnh vực tư pháp khác, nhằm đảm bảo mọi hành vi vi
phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp
luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp
chế. Quan điểm này quá mở rộng quyền công tố, dẫn đến xóa nhòa ranh giới
và tính đặc thù giữa TTHS và các lĩnh vực tố tụng khác; đồng nhất quyền
công tố với các quyền năng khác của VKS trong quá trình giải quyết các vụ
án dân sự, kinh doanh thương mại, lao động.
Các quan điểm trên đều có hạn chế là không phân định rõ ràng khái
niệm, bản chất, nội dung, phạm vi quyền công tố:
Hoặc là đánh đồng quyền công tố với các chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật của Viện kiểm sát, dẫn đến mở rộng phạm vi quyền công tố
vượt khỏi lĩnh vực tố tụng hình sự sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự,
hành chính, kinh tế, lao động.

lực của hoạt động tố tụng; nó thu hút hoạt động của tất cả các chủ thể tham
gia vào hoạt động tố tụng hình sự.
Như vậy, có thể hiểu: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước
thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền
này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở
nước ta là cơ quan Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được điều này, cơ quan có
chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu
thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên
cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó
trước phiên toà [38].

10


Quan niệm này đã lột tả được bản chất của quyền công tố, đó là quyền
năng đặc biệt của Nhà nước trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội.
Từ những nội dung trình bày trên, có thể rút ra định nghĩa: Quyền công
tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội, trên cơ sở bảo đảm việc thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định tội
phạm và người phạm tội.
Với những phân tích và định nghĩa nêu trên, có thể xác định đối tượng,
nội dung, phạm vi của quyền công tố như sau:
Phạm vi quyền công tố: Cho đến nay khi đề cập đến phạm vi quyền
công tố trong TTHS các luật gia vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau tuy nhiên
có thể hiểu phạm vi quyền công tố dưới những khía cạnh sau.
Thứ nhất, quyền công tố là quyền của nhà nước truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người phạm tội. Quyền này phát sinh ngay từ khi có hành vi
phạm tội xảy ra và kết thúc khi bản án tuyên phạt đối với người thực hiện

quan đến lợi ích của từng cá nhân. Một trong những nguyên tắc đặc thù của tố
tụng dân sự là nguyên tắc tự định đoạt của các đương sự. Ý chí, lợi ích, sự tự
thoả thuận của các đương sự sẽ quyết định sự xuất hiện, vận động và chấm
dứt hoạt động tố tụng. Trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh trước hết
thuộc về các đương sự; trong khi cốt lõi của tố tụng hình sự là hoạt động của
các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm phát hiện, khám phá tội phạm, xác định
và xử lý kẻ phạm tội. Qua đó có thể xác định được đối tượng, nội dung của
quyền công tố như sau:
Đối tượng công tố là yếu tố mà quyền lực công tố tác động vào nhằm
đạt mục đích cụ thể của quyền công tố, đó có thể là mục đích buộc tội người
phạm tội để trừng phạt, khôi phục trật tự pháp luật đã bị xâm hại, bảo vệ các
quyền, lợi ích chính đáng của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị…Do vậy
quyền công tố là quyền lực nhà nước, do Nhà nước đứng ra thay mặt xã hội
thực hiện việc buộc tội nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã

12


thực hiện hành vi phạm tội và đối tượng mà quyền công tố hướng tới chính là
tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội.
Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với bất kỳ người nào đã
thực hiện hành vi bị coi là tội phạm (kể cả tội phạm ẩn nếu còn thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự). Do vậy các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ áp dụng
các quyền năng pháp lý khác nhau để phát hiện tội phạm và người thực hiện
hành vi phạm tội, tìm ra các chứng cứ buộc tội để thực hiện việc truy cứu
trách nhiệm hình sự.
1.1.2. Thực hành quyền công tố
Khi cơ quan tiến hành tố tụng dùng các quyền năng pháp lý của mình
được Bộ luật TTHS giao cho để thực hiện quyền công tố thì cũng xuất hiện
khái niệm THQCT. Đây là khái niệm có liên hệ mật thiết với khái niệm quyền

Thứ hai: hành vi không cấu thành tội phạm (khoản 2) là hành vi tuy có
dấu hiệu tội phạm nhưng quy mô hành vi hoặc quy mô hậu quả của hành vi
không lớn, chưa đủ cấu thành tội phamjtheo quy định của BLHS (như trộm
cắp tài sản dưới 2 triệu đồng mà không có các yếu tố khác cấu thành);
Thứ ba: người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi
chịu trách nhiệm hình sự (khoản 3). Trong trường hợp này, nếu đã khởi tố bị
can thì phải hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc ra đình chỉ điều tra bị can;
Thứ tư: người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định
đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật (khoản 4). Vì sự việc đã quyết tụng, do
đó luật định đối với những người này không được điều tra, truy tố, xét xử lần
2 cũng về tội đó hoặc dưới một tội danh khác;
Thứ năm: khi đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật hình sự (khoản 5). Hết thời hạn truy cứu trách nhiệm hình
sự thì dù có phát hiện người phạm tội cũng không được khởi tố, điều tra, truy
tố đối với họ, trừ trường hợp họ cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã;

14


Thứ sáu, khi tội phạm được đặc xá thì chấm dứt thực hành quyền công
tố đối với những người thực hiện tội phạm đã được đặc xá (khoản 6);
Thứ bảy: khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ
trường hợp tái thẩm đối với người khác (khoản 7). Trong trường hợp này,
không được khởi tố vụ án và ra quyết định không khởi tố vụ án với lý do
người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, nếu đã khởi tố, điều tra
thì phải đình chỉ vụ án do bị can đã chết.
Ngoài ra, theo quy định tại điều 7 của BLHS, THQCT trong tố tụng
hình sự chấm dứt khi có những căn cứ sau:
Một là: khi có hiệu lực của BLHS về thời gian, có “ điều luật quy định
một tội phạm mới không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã được thực hiện

Qua sự phân tích trên ta có thể nhận thấy mối quan hệ giữa quyền công
tố và THQCT thể hiện ở những đặc điểm sau:
Thứ nhất, các căn cứ làm phát sinh quyền công tố cũng là những căn cứ
để THQCT, đó là một tội phạm đã xảy ra và con người cụ thể đã thực hiện tội
phạm đó. Thứ hai, các căn cứ triệt tiêu quyền công tố thì đồng thời cũng làm
chấm dứt việc THQCT. Mối quan hệ giữa quyền công tố và THQCT trong
TTHS gắn bó mật thiết với chính sách hình sự và đường lối tội phạm của Nhà
nước. Thứ ba, quyền công tố có nội dung là sự buộc tội đối với người thực
hiện hành vi phạm tội, còn THQCT là việc sử dụng các biện pháp được luật
định để thực hiện quyền buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội.
Thứ tư, khi tội phạm xảy ra tức là phát sinh quyền công tố trước một tội phạm
cụ thể. Tuy nhiên thực tế thì không phải bất kỳ vụ án nào xảy ra các cơ quan
bảo vệ pháp luật cũng có thể phát hiện ra để xử lý một cách kịp thời do đó khả
năng THQCT phụ thuộc rất lớn vào việc phát hiện tội phạm của CQĐT. Nói
cách khác phạm vi tác động của quyền công tố thường lớn hơn phạm vi tác
động của THQCT.

16


Trong TTHS khi giải quyết vụ án hình sự Viện kiểm sát luôn luôn thực
hiện song hành hai chức năng là THQCT và KSHĐTP. Điều này được quy
định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013: Viện kiểm sát nhân dân thực hành
quyền công tố; kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần
bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, VKS có trách nhiệm áp dụng
những biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để loại trừ việc vi phạm
pháp luật của bất kỳ cơ quan tư pháp hoặc cán bộ tư pháp nào. Ở nước ta,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status