ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰCTIỄN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ KIM QUY

ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM
SỞ HỮU THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ
THỰCTIỄN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60.38.01.04

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Trần Văn Độ

Phản biện 1:

...............................................................
...............................................................

Phản biện 2:

...............................................................
...............................................................


Mặc dù trong thời gian qua Tòa án nhân dân Quận 9 đã có
những đóng góp đáng kể vào công tác đấu tranh phòng chống tội
phạm nhưng không hẳn hoạt động xét xử và áp dụng hình phạt nói
chung, áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu nói riêng
đã hoàn thiện và đạt kết quả cao nhất. Thực tế cho thấy, trong thời
gian qua việc áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu của
Tòa án nhân dân Quận 9 còn tồn tại nhiều bất cập; áp dụng hình phạt
1


còn có sự tùy tiện, thiếu thống nhất, làm ảnh hưởng chung tới kết quả
đấu tranh phòng, chống tội phạm, làm giảm lòng tin của quần chúng
nhân dân đối với ngành Tòa án.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu một cách khoa học,
nghiêm túc để chỉ ra những tồn tại vi phạm, phân tích các nguyên
nhân và đề ra các giải pháp để bảo đảm áp dụng hình phạt đúng đối
với các tội xâm phạm sở hữu trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân
dân Quận 9, nhằm nâng cao vai trò và những đóng góp của ngành
TAND tới công tác đấu tranh phòng chống tội phạm là đòi hỏi mang
tính cấp thiết.
Chính vì vậy tác giả chọn Đề tài “Áp dụng hình phạt đối với
các tội xâm phạm sở hữu theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực
tiễn Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, khoa học luật hình sự là một trong những ngành
khoa học pháp lý phát triển nhất so với các ngành khoa học pháp lý
khác. Áp dụng hình phạt có vị trí, vai trò quan trọng trong giai đoạn
xét xử một vụ án cụ thể.Vì thế, tình hình nghiên cứu đề tài phải có
hai nội dung đề cập.
2.1. Các công trình nghiên cứu về lý luận chung của khoa

gian qua chỉ tập trung vào áp dụng hình phạt, cụ thể như sau:
Ở góc độ Luận án tiến sĩ luật học, có luận án về đề tài “Áp
dụng hình phạt trong Luật Hình sự Việt Nam” của tác giả Dương
Tuyết Miên đã bảo vệ thành công năm 2003. Bên cạnh đó, có rất
nhiều Luận văn thạc sĩ luật học đã nghiên cứu vấn đề áp dụng hình
phạt như: “Áp dụng hình phạt trong những trường hợp đặc biệt” của
tác giả Hoàng Chí Kiên bảo vệ năm 2004 tại Đại học Luật Hà Nội;
tác giả Phạm Thị Thanh Nga với đề tài “Tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự trong việc định tội danh và áp dụng hình phạt” bảo vệ
tại Đại học Luật Hà Nội cùng năm 2004; tác giả Phạm Đình Dũng đã
bảo vệ đề tài “Căn cứ áp dụng hình phạt: những vấn đề lý luận và
thực tiễn” tại khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2006. Ngoài
ra còn có các Luận văn thạc sĩ đã bảo vệ tại khoa Luật Đại học Quốc
3


gia Hà Nội như: “Áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên
phạm tội trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Minh
Khuê bảo vệ năm 2007; đề tài “Áp dụng hình phạt trong đồng phạm”
của tác giả Nguyễn Thị Bình bảo vệ năm 2010.
Các công trình trên rất có giá trị để luận văn có thể kế thừa
thông tin, số liệu đối chứng, ý tưởng nghiên cứu mà vẫn không bị
trùng lặp vì có sự khác nhau về các yếu tố như: cách tiếp cận vấn đề
nghiên cứu; thời gian nghiên cứu; không gian nghiên cứu; chất liệu
nghiên cứu
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Với đánh giá là quận có nhiều tiềm năng phát triển của Thành
phố Hồ Chí Minh, là cửa ngỏ thông thương với các tỉnh Miền Đông,
thì tình hình tội phạm, nhất là nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu gia

2012 – 2016;
- Về cơ sở pháp lý, Đề tài đề cập các tội xâm phạm sở hữu qui
định tại chương XIV Bộ luật hình sự năm 1999.
- Về không gian, Đề tài luận văn được thực hiện trên phạm vi
Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ
nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, Tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà
nước và pháp luật, về chính sách hình sự, về cải cách tư pháp.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
phương pháp lịch sử; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích;
phương pháp tổng hợp; phương pháp nghiên cứu vụ án điển hình;
phương pháp thống kê, tổng hợp. Để hoàn thành mục đích nghiên
cứu, tác giả vận dụng kết hợp giữa các phương pháp trong từng nội
dung của đề tài, trong đó phương pháp thống kê và phương pháp so
sánh là những phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong đề tài
5


này. Tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê để thống kê số liệu về
tội phạm và người phạm tội, từ đó để xác định các thông số của tình
hình tội phạm tội XPSH.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn này góp phần hoàn thiện lý
luận về các hành vi xâm phạm sở hữu trong khoa học luật hình sự
Việt Nam. Luận văn góp tiếng nói khoa học về lý luận áp dụng hình

1.1.1. Khái niệm áp dụng hình phạt đối với các tội xâm
phạm sở hữu
Áp dụng pháp luật trong hệ thống các hình thức thực hiện
pháp luật. ADPL hình sự có tầm quan trọng đặc biệt, vừa có những
đặc điểm chung như các dạng ADPL khác, vừa có những đặc điểm
riêng của mình. Căn cứ vào tính chất của các hoạt động thực hiện
pháp luật, khoa học pháp lý đã phân chia thực hiện pháp luật thành
những hình thức cụ thể như: Tuân thủ pháp luật; thi hành pháp luật;
sử dụng pháp luật; và ADPL.
ADPL là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật cơ bản,
có tính chất đặc biệt, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan hoặc
người có thẩm quyền hoặc nhà chức trách cá biệt hoá các quy định
của pháp luật vào trong những trường hợp cụ thể của đời sống xã
hội. Nội dung của ADPL bao gồm: 1/ Xác định sự kiện pháp lý cần
áp dụng pháp luật; 2/ Nhận thức quy định của pháp luật áp dụng; 3/
So sánh sự phù hợp giữa quy định pháp luật áp dụng và sự kiện pháp
lý để xác định quy phạm pháp luật cần áp dụng; 4/ Ra quyết định áp
dụng pháp luật.
Trong khoa học pháp lý nước ta, khái niệm áp dụng hình phạt
rất ít được sử dụng; mà thay vào đó là khái niệm quyết định hình
phạt. Vậy, phải chăng ADHP và QĐHP là giống nhau?
Nhiều nhà khoa học dường như coi ADHP và QĐHP là một.
PGS. TS. Nguyễn Ngọc Chí đã đưa ra định nghĩa khoa học về ADHP
như sau: “Áp dụng hình phạt là việc nhận thức và áp dụng pháp luật

7


hình sự do Tòa án có thẩm quyền, nhân danh Nhà nước thực hiện
sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể để


thực hiện sau khi Toà án xác định một người phạm tội cụ thể.
1.1.3. Đặc điểm của áp dụng hình phạt đối với các tội xâm
phạm sở hữu
Qua việc nghiên cứu khái niệm và nội dung ADHP, chúng tôi
thấy ADHP đối với các tội XPSH có các đặc điểm như sau:
-Thứ nhất, đây là hoạt động ADPL chỉ thuộc thẩm quyền của
Tòa án và có quan hệ chặt chẽ với hoạt động định tội danh. Nếu như
hoạt động định tội danh diễn ra trong suốt quá trình TTHS do cả Cơ
quan điều tra và Viện kiểm sát và Toà án thực hiện, thì hoạt động
ADHP chỉ duy nhất Tòa án được quyền thực hiện. Là chủ thể duy
nhất có quyền xác định loại hình phạt và mức hình phạt để áp dụng
với người phạm tội nên hoạt động này chỉ thông qua phiên tòa khi
Tòa án thực hiện chức năng xét xử của mình.
-Thứ hai, hoạt động ADHP của Tòa án nên đòi hỏi sự tuân thủ
các căn cứ và nguyên tắc trong quá trình áp dụng và điều này có thể
được thể hiện trực tiếp trong BLHS hoặc thể hiện trong tinh thần của
các điều luật. BLHS có qui định về các căn cứ để Tòa án ADHP, tức
là những tiêu chí mà dựa vào đó, Tòa án sẽ lựa chọn được loại hình
phạt và mức hình phạt phù hợp với trường hợp cụ thể của mỗi bị cáo,
trên cơ sở đánh giá tổng thể các yếu tố về khách quan, chủ quan, về
con người, tâm lý... với mục đích đạt được là hình phạt đó sẽ không
chỉ là “cái giá” mà bị cáo phải gánh chịu do hành vi phạm tội của
mình mà còn là “cơ hội” để bị cáo đó có khả năng phục thiện, tái hóa
nhập cộng đồng.
- Thứ ba, ADHP của Toà án có quyền lựa chọn và tính tuỳ
nghi cao. Đa số chế tài các tội xâm phạm sở hữu đều mang tính lựa
chọn giữa hình phạt tù với tù chung thân (đối với các tội đặc biệt
nghiêm trọng); giữa cải tạo không giam giữ, phạt tiền, thậm chí cảnh
cáo với phạt tù đối với nhiều tội phạm. Khi ADHP, Toà án lựa chọn

1.1.4.2. Ý nghĩa pháp lý
Quyết định hình phạt là một hoạt động quan trọng của Tòa án,
thông qua hoạt động này các hình phạt cụ thể đã được BLHS quy
định sẽ được áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội.
10


Hình phạt là sự biểu hiện của công bằng xã hội. Trong khi đó,
công bằng (cũng có thể hiểu trong trường hợp này là công bằng xã
hội) là một giá trị pháp luật cơ bản, là một đòi hỏi, dấu hiệu bắt buộc
của công lý. Do đó, bảo đảm và thực thi công lý được nhìn nhận là
một chức năng xã hội quan trọng của hình phạt.
Trong lĩnh vực luật hình sự, sự biểu hiện của công lý trước
tiên là kịp thời nhận diện những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội
nào là tội phạm, từ đó, đặt ra tính không thể tránh khỏi việc áp dụng
hình phạt lên các hành vi phạm tội đó.
Hình phạt là một trong những biện pháp để phòng ngừa, ngăn
chặn, giảm thiểu, tiến tới loại bỏ các hành vi vi phạm để bảo đảm
tính tích cực trong sự phát triển các quan hệ xã hội.
1.1.4.3. Ý nghĩa phòng ngừa
Quyết định hình phạt đúng là cơ sở pháp lý đầu tiên để đạt
được mục đích của hình phạt. Điều 27 BLHS Việt Nam năm 1999
quy định: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà
còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân
theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn
ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn
trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”. Vì vậy,
khi quyết định hình phạt Tòa án phải luôn cân nhắc để đưa ra được
loại và mức hình phạt tương xứng bảo đảm hai mục đích trừng trị và
giáo dục của hình phạt.

cho vệc áp dụng hình phạt được chính xác và đúng đắn. Đó là cơ sở
để chúng ta tìm hiểu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về
áp dụng và áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu.

12


Chương 2
THỰC TIỄN ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI
XÂM PHẠM SỞ HỮU CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. Tổng quan kết quả thực tiễn áp dụng hình phạt đối với
các tội xâm phạm sở hữu của Tòa án nhân dân Quận 9, Tp. Hồ
Chí Minh
2.1.1. Kết quả thụ lý và xét xử các tội xâm phạm sở hữu
Để mô tả được thực trạng của tình hình các tội xâm phạm sở hữu
trên địa bàn Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2012 đến năm
2016, trước hết cần phải xem xét số liệu thụ lý và xét xử các tội xâm
phạm sở hữu trên địa bàn Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh thông qua
số vụ phạm tội và số bị cáo đã bị Tòa án xét xử, tuyên bằng bản án đã có
hiệu lực pháp luật. Theo số liệu thống kê, số vụ án và số bị cáo bị xét xử
về các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn Quận 9, Thành phố Hồ Chí
Minh từ năm 2012 đến năm 2016 diễn biến như sau:
Qua bảng số liệu thống kê trên cho thấy, trong thời gian 5 năm
(từ 2012 đến 2016), TAND Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét
xử 1.086 vụ án với 1.641 bị cáo, trong đó xét xử 629 vụ án với 924
bị cáo về các tội XPSH. Số vụ án mà TAND Quận 9 xét xử có diễn
biến tăng từ năm 2014 đến năm 2016. Đối với các tội XPSH năm
2015 xảy ra nhiều nhất với 145 vụ án và 182 bị cáo, năm 2013 xảy ra
ít nhất với 113 vụ án và 191 bị cáo.

xâm phạm sở hữu và nguyên nhân.
2.2.1 Những hạn chế trong áp dụng hình phạt đối với các
tội xâm phạm sở hữu
Qua nghiên cứu thực tiễn xét xử và ADHP đối với các tội
XPSH của TAND Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh trong 5 năm trở
lại đây (từ năm 2012 đến năm 2016) cho thấy việc QĐHP không
đúng do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau
nhưng nguyên nhân chính và chủ yếu là do các Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân khi ADHP đã không tuân thủ và áp dụng đúng các
căn cứ QĐHP.
14


Có thể hệ thống những hạn chế, sai sót trong ADHP của
TAND Quận 9 như sau:
- Hạn chế trong xác định các tình tiết của vụ án liên quan
đến ADHP.
- Áp dụng hình phạt quá nhẹ
- Áp dụng hình phạt quá nặng
- Áp dụng án treo chưa chính xác
- Áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt
chưa đúng
- Hạn chế QĐHP trong trường hợp phạm nhiều tội, trong tổng
hợp hình phạt của nhiều bản án
- Hạn chế trong áp dụng hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt
- Hạn chế trong áp dụng hình phạt trong trường hợp đặc biệt
2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế
2.2.2.1. Nguyên nhân do các bất cập của BLHS
Quá trình soạn thảo và ban hành luật của nước ta hiện nay còn

xử án hình sự nói chung và ADHP nói riêng chưa được thiết thực.
Tập huấn nghiệp vụ là nhiệm vụ rất quan trọng trong việc
thống nhất đường lối áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Tuy nhiên do
số lượng công việc trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh rất nhiều,
tổng lượng án chiếm 1/5 số lượng cả nước. Do đó việc tập huấn
nghiệp vụ đôi khi còn chưa được sâu sát
Độc lập xét xử là nguyên tắc hiến định, là cốt lõi của quyền tư
pháp trong nhà nước pháp quyền, có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc bảo đảm tính tối cao của pháp luật, đảm bảo sự cân bằng và kiểm
soát các quyền lực nhà nước và bảo vệ quyền con người. Việc tăng
cường cơ chế giám sát của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa
án, của Thẩm phán thông qua việc công khai rộng rãi các phán quyết
của Tòa án là nhu cầu thiết thực. Điều đặc biệt quan trọng để đạt được
mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam là phải
nhận thức một cách toàn diện về quyền tư pháp, nâng cao vị thế của
quyền tư pháp, của Tòa án, của Thẩm phán. Có như vậy, thì nguyên
16


tắc "Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật…” mới có ý nghĩa và được bảo đảm một cách đích thực.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện nguyên tắc này vẫn còn
bị chi phối bởi nhiều yếu tố. Khi xét xử có thể Thẩm phán bị chi phối
bởi lãnh đạo Tòa, lãnh đạo địa phương. Hội thẩm nhân dân chưa phát
huy hết vai trò của mình, chưa có chính kiến mà phần lớn phụ thuộc
vào quyết định của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.
Kết luận Chương 2
Tại chương 2, tác giả đi sâu phân tích thực tiễn áp dụng hình
phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn Quận 9, Thành
phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở phân tích thực tiễn chỉ ra những vi

khi xét xử, nghị án Tòa án phải tuân thủ các quy định của BLTTHS;
tuân thủ các quy định của luật nội dung – BLHS. Tất cả các hình
phạt được áp dụng đối với người có hành vi phạm tội đều phải trải
qua quá trình tố tụng nghiêm ngặt từ khâu điều tra, truy tố, xét xử và
quá trình này phải được thực hiện theo đúng các qui định của BLHS
và BLTTHS.
- Bảo đảm nguyên tắc xử lý nói chung và các nguyên tắc áp
dụng hình phạt nói riêng
Các nguyên tắc ADHP như pháp chế XHCN, cá thể hoá hình
phạt, nhân đạo và công bằng phải tuyệt đối được tuân thủ trong
ADHP. Bảo đảm được các nguyên tắc áp dụng hình phạt là bảo đảm
các nguyên tắc xử lý nói chung trong xét xử vụ án hình sự.
- Đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
Thực hiện chính sách hình sự hướng thiện, coi trọng tính phòng
ngừa là ý tưởng chủ đạo trong việc xây dựng chính sách hình sự của
nhà nước ta. Bộ luật Hình sự cần được triển khai trên cơ sở đổi mới tư
duy về chính sách hình sự, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tăng tính

18


hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội, tôn trọng và bảo đảm
thực thi đầy đủ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 cũng như bảo đảm
thực thi các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên là những
yêu cầu cơ bản trong ADPLHS nói chung, ADHP nói riêng.
- Bảo vệ công lý, bảo đảm quyền con người
Quyền con người là một trong những giá trị nhân bản cao nhất
mà các quốc gia trên thế giới đều đề cao và bảo vệ. Bảo vệ quyền
con người cũng là một nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững

cao phải thường xuyên tổng kết thực tiễn xét xử và hướng dẫn các
Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật.
3.2.3. Nâng cao năng lực, phẩm chất Thẩm phán và Hội thẩm
Một trong những đặc điểm của ADHP là mang tính tuỳ nghi,
tính lựa chọn cao; Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt
nói chung, áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu nói
riêng chúng ta phải quan tâm đến việc nâng cao chất lượng của đội
ngũ thẩm phán làm công tác xét xử hình sự. Đây là nhiệm vụ then
chốt có vai trò quyết định tới hiệu quả của việc áp dụng hình phạt nói
chung, áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu nói riêng
3.2.4. Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát việc áp dụng
hình phạt của Toà án
Kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của Tòa án là một trong
những phương thức hữu hiệu để nâng cao chất lượng hoạt động của
Tòa án nói chung và hoạt động áp dụng hình phạt nói riêng.
Thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát của Tòa án cấp cấp
trên (TAND Tp. Hồ Chí Minh) với Tòa án nhân quận, huyện để từ
đó kịp thời phát hiện những tồn tại, hạn chế trong hoạt động của Tòa
án cấp dưới hoặc những vi phạm, sai lầm của Hội đồng xét xử để qua
đó kịp thời có các biện pháp chấn chỉnh, khắc phục.

20


3.2.5. Bảo đảm thực hiện nguyên tắc Thẩm phán và Hội
thẩm xét xử độc lập
Độc lập trong xét xử là một nguyên tắc mang tính đặc thù của
các Thẩm phán. Vì vậy, để giữ được tính độc lập trong xét xử của các
thẩm phán nhưng không tách rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt

lý nói chung và nguyên tắc áp dụng hình phạt nói riêng trên cơ sở
đảm bảo quyền con người, đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm
và cải cách tư pháp mà các Nghị quyết của Đảng, pháp luật của nhà
nước đã nêu ra. Đồng thời đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu, đưa ra những giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu
và nâng cao hiệu quả xét xử trong việc áp dụng hình phạt. Đề xuất
kịp thời hướng dẫn và tập huấn Bộ luật hình sự năm 2015, kiến nghị
về việc hoàn thiện, nâng cao chất lượng các văn bản hướng dẫn áp
dụng thống nhất pháp luật, hoàn thiện các quy định của pháp luật về
các căn cứ áp dụng hình phạt và kịp thời hướng dẫn việc áp dụng các
quy định của pháp luật về các căn cứ áp dụng hình phạt; Vấn đề
tuyển dụng đội ngũ cán bộ, tăng cường nâng cao trình độ chuyên
môn, trách nhiệm nghề nghiệp cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,
chế độ chính sách tiền lương ... Tất cả những giải pháp đó nhằm
nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt đối với các tội xâm
phạm sở hữu nói riêng và áp dụng hình phạt nói chung. Khi hoàn
thiện được những vấn đề trên thì cơ quan áp dụng pháp luật mới có
những căn cứ chuẩn mực, công cụ sắc bén để áp dụng hình phạt đúng
pháp luật, công bằng và hợp lý đối với mỗi tội phạm và người phạm
tội, đạt được mục đích của hình phạt, đáp ứng được yêu cầu của cuộc
đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.

22


KẾT LUẬN
Áp dụng hình phạt là một trong những chế định quan trọng
của luật hình sự Việt Nam, do đó nắm vững bản chất pháp lý của chế
định này sẽ giúp các Tòa án áp dụng hình phạt trong thực tế được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status