Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (tt) - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN VIỆT LINH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ- NĂM 2017


Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. NGÔ VĂN TRÂN
Phản biện 1 :....................................................................................
...................................................................................
Phảnbiện 2 :......................................................................................
...................................................................................

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ,
Học viện Hành Chính Quốc gia
Địa điểm : Phòng họp............, nhà............ – Hội trường bảo

đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn không phải chỉ là nhiệm vụ của
nông dân, ở khu vực nông thôn mà là nhiệm vụ của cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội. Xây dựng nông thôn mới là “xây dựng kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại ở nông thôn; xây dựng cơ cấu
kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp
với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch;
Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông
dân - trí thức vững mạnh; Không ngừng nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển
biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào
tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu
vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới”.
Thực hiện đường lối của Đảng, Chính phủ đã ra Nghị quyết số
24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008, ban hành một chương
trình hành động của Chính phủ về xây dựng nông nghiệp, nông dân
và nông thôn, thống nhất nhận thức, hành động về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông
thôn mới.

1


Nội dung chính của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng
nông thôn mới là: “xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo
hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái
gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ”.
Qua hơn 5 năm thực hiện xây dựng nông thôn mới, nước ta đã
đạt được một số kết quả nổi bật: 56,5% số xã đạt tiêu chí thu nhập
(mức thu nhập bình quân/đầu người vùng nông thôn là 24,6 triệu
đồng/năm, tăng khoảng 1,9 lần so với năm 2010); 85,5% số xã đạt tiêu


2


hiện được 45 lớp đào tạo nghề, nhân rộng được hơn 30 mô hình sản
xuất hiệu quả, phát triển 32 trang trại sản xuất. Có hơn 7.588 hộ tự
nguyện hiến tài sản, có giá trị trên 20.451 triệu đồng và có hơn 5.489
hộ hiến đất với tổng số tiền trên 14.254 triệu đồng. Đạt được 12,46
tiêu chí/xã, có 7/28 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Nhờ những kết quả
đó, đời sống của nhân dân được thay đổi căn bản, và bền vững.
Tuy nhiên, cũng như tình trạng chung của cả nước, bên cạnh
những kết quả đạt được vẫn còn những tồn tại nhiều hạn chế đó là
công tác chỉ đạo, điều hành của một số ban chỉ đạo, ban quản lý cấp
xã, thôn ở huyện vẫn chưa thực sự khoa học, còn nhiều lúng túng.
Một số xã còn chạy theo thành tích để về đích đạt chuẩn nông thôn
mới sớm, đã gây ra những gánh nặng nợ đọng về xây dựng cơ bản,
xây dựng hạ tầng; chưa chú trọng quy hoạch phát triển sản xuất; kết
cấu hạ tầng tuy được nâng lên nhưng chưa đáp ứng nhu cầu của
người dân; công tác duy tu bảo dưỡng vẫn chưa có giải pháp hữu
hiệu nên các công trình vẫn có tình trạng xuống cấp nhanh, nhất là
sau các đợt thiên tai, lũ lụt; vai trò của người dân không được đề cao
trong thực hiện xây dựng nông thôn mới. Bên cạnh đó, việc vận dụng
các nguồn lực còn hạn chế, chủ yếu trông chờ nguồn ngân sách nhà
nước, nguồn lực trong dân chưa được chú trọng… Những yếu kém
trên do nhiều nguyên nhân, song cơ bản nhất là vai trò quản lý nhà
nước chưa được đề cao. Các địa phương thực hiện xây dựng nông
thôn mới mang tính phong trào, thiếu định hướng chỉ đạo, kiểm tra,
kiểm soát của các cơ quan nhà nước. Vì vậy, nhiều vấn đề bất cập đã
xẫy ra như chất lượng các công trình đầu tư thấp, dàn trãi; huy động
vốn bừa bải, chỉ chú trọng đến đầu tư hạ tầng, chưa chú trọng mục

công trình còn cung cấp hệ thống tư liệu về phát triển nông nghiệp,
nông thôn nước ta như là một Niên giám thống kê nông nghiệp thu
nhỏ. Công trình đã luận giải rõ quá trình đổi mới, hoàn thiện chính
sách nông nghiệp, nông thôn nước ta trong những năm đổi mới,
những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển
nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Những gợi mở về những vấn đề
cần giải quyết của phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta như vấn
đề đầu tư, vấn đề phân hoá giàu nghèo, nâng cao khả năng cạnh
tranh, xuất khẩu nông sản…
“Bảo hộ hợp lý nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế” của Bùi Xuân Lưu chủ biên (2004), Nxb. Thống kê.
Trong công trình này, các tác giả đã phân tích những đặc trưng cơ bản
của hội nhập kinh tế quốc tế trong nông nghiệp; phân tích khái quát
những thành tựu cũng như hạn chế của nông nghiệp nước ta trong hội
nhập kinh tế quốc tế; đồng thời khuyến nghị việc sửa đổi các chính sách
và hoàn thiện vai trò của Nhà nước để nông nghiệp, nông thôn nước ta
hội nhập kinh tế quốc tế thành công.
Chuyên đề “Quản lý nhà nước về nông nghiệp nông thôn” của
Phạm Kim Giao (2004), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đi sâu
phân tích 2 nội dung đó là: Thứ nhất, quan điểm, mục tiêu và định hướng
phát triển nông nghiệp, nông thôn; Thứ hai, một số nội dung chủ yếu của
QLNN về nông thôn. Nêu ra những thành tựu và hạn chế trong quá trình
QLNN về nông thôn, đồng thời, nêu những giải pháp để làm tốt công tác
QLNN về nông thôn thời gian đến như: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu

4


kinh tế nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn, phát huy vai trò và đổi
mới hoạt động của các thành phần kinh tế, phát triển công nghiệp dịch vụ,

“Quản lý nhà nước về xây dựng NTM trên địa bàn huyện Phú
Ninh, tỉnh Quảng Nam”, Lê Thị Thu Thảo (2015), Luận văn thạc sỹ
Quản lý công, Học viện hành chính Quốc gia. Trên cơ sở nghiên cứu
cơ sở lý luận và đi sâu phân tích thực trạng QLNN đối với XD NTM
ở huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2010-2014, tác giả
đánh giá thực trạng QLNN đối với XD NTM, đề xuất được một số

5


giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động QLNN đối với
XD NTM ở huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
“Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn ở huyện Nghĩa
Hành, tỉnh Quảng Ngãi” của Nguyễn Thị Ánh Hồng (2017), Luận
văn Thạc sĩ – Quản lý công, HVHC quốc gia. Tác giả làm rõ cơ sở lý
luận và thực tiễn QLNN về XD NTM ở huyện Nghĩa hành, tỉnh Quảng
Ngãi. Chỉ ra những thuận lợi, khó khăn còn tồn tại, nguyên nhân của nó
để đưa ra những giải pháp để hoàn thiện QLNN về XD NTM ở địa
phương này.
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã
được công bố trên các tạp chí:
“Tăng cường quản lý nhà nước để phát triển làng nghề phục
vụ mục tiêu xây dựng nông thôn mới” của Phùng Đức Hiệp, Tạp chí
QLNN số 186, tháng 7 - 2011. Tác giả khẳng định việc bảo tồn và
phát triển làng nghề có ý nghĩa đăc biệt quan trọng đối với sự phát
triển ngành nghề nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội khu
vực nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, từ việc phân tích những mặt đạt được và hạn chế trong
việc phát triển các làng nghề. Tác giả đưa ra 6 giải pháp tăng cường
công tác QLNN để phát triển các ngành nghề.

QLNN về xây dựng NTM hiện nay mang tính khái quát cao, không gian
nghiên cứu ở tầm quốc gia, nhưng về một số vùng miền và địa phương cụ
thể thì chưa nhiều. Đặc biệt, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách tổng thể, có hệ thống về QLNN đối với xây dựng NTM tại
huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp những luận cứ
và những dữ liệu khoa học quan trọng cho tác giả luận văn, trên cơ
sở đó tác giả kế thừa, phát huy và sử dụng trong quá trình nghiên cứu
đề tài của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của QLNN về xây
dựng NTM, Luận văn đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện
QLNN về xây dựng NTM ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về xây dựng
NTM.
- Đánh giá thực trạng QLNN về xây dựng NTM ở huyện Bố
Trạch, tỉnh Quảng Bình, phân tích những kết quả đã đạt được, hạn
chế, nguyên nhân của những hạn chế trong QLNN về xây dựng NTM
tại địa phương này .
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện QLNN về
xây dựng NTM ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong những
năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động QLNN về
xây dựng NTM ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài


xây dựng NTM trên địa bàn huyện Bố Trạch trong thời gian tới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
7.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ nội dung QLNN, các yếu tố ảnh
hưởng tới hiệu quả và đánh giá hiệu quả QLNN đối với xây dựng NTM
trong điều kiện hiện nay.
7.2. Về thực tiễn
Luận văn chỉ ra mặt được, mặt chưa được và nguyên nhân yếu
kém. Đồng thời, đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện hoạt động
QLNN về xây dựng NTM ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình. Kết quả
nghiên cứu của luận văn là một trong những nguồn tài liệu tham khảo

8


cho những người thực hiện QLNN liên quan đến nông nghiệp, nông
thôn, nông dân, xây dựng NTM và những ai quan tâm đến vấn đề này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về xây dựng
NTM
Chương 2. Thực trạng QLNN về xây dựng NTM ở huyện Bố
Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Chương 3. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện QLNN về
xây dựng NTM ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình

9



hiện quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
- Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn
mới
- Xây dựng đội ngũ quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn
mới.
+ Đội ngũ công chức trong hệ thống hành pháp liên quan đến
xây dựng NTM
+ Đội ngũ chuyên trách cấp xã
1.2.3.3. Quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng nông
thôn mới
1.2.3.4. Quản lý thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn
mới
1.2.3.5. Huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới
1.2.3.6. Kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý nhà nước
về xây dựng nông thôn mới
1.3. Các nhân tố tác động đến quản lý nhà nước về xây dựng
nông thôn mới
1.3.1. Nhận thức của của cấp ủy Đảng, chính quyền và
nhân dân đối với quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

11


- Nhận thức vai trò QLNN về xây dựng NTM đối với cấp uỷ,
Đảng, chính quyền.
- Nhận thức của người dân về xây dựng NTM:
1.3.2. Vai trò quản lý và năng lực của bộ máy chính
quyền các cấp
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM là một
chương trình tổng hợp bao gồm mọi mặt công tác của Đảng, Nhà

nông thôn mới và những hạn chế của hoạt động xây dựng nông thôn

12


mới hiện nay.
1.5. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về xây dựng nông
thôn mới ở một số địa phương và bài học rút ra cho huyện Bố
Trạch, tỉnh Quảng Bình.
1.5.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về xây dựng nông
thôn mới ở một số địa phương
Sau hơn 5 năm triển khai Chương trình xây dựng NTM ở
tỉnh Quảng Bình và một số địa phương khác trong cả nước, một
số địa phương đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Ở các địa
phương này, hoạt động QLNN đối với xây dựng NTM đạt được
những bài học kinh nghiệm nhất định mà huyện Bố Trạch có thể
tham khảo, học tập để vận dụng phù hợp với điều kiện của mình.
+ Kinh nghiệm QLNN về xây dựng NTM ở huyện Phú Ninh, tỉnh
Quảng Nam
+ Kinh nghiệm QLNN về xây dựng NTM ở huyện Hoà Vang,
TP.Đà Nẵng
+ Kinh nghiệm QLNN về xây dựng NTM ở huyện Quảng Ninh,
tỉnh Quảng Bình
Từ thực tiễn huyện Quảng Ninh rút ra một số kinh nghiệm
sau:
Phát huy dân chủ, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là
hướng đi xuyên suốt trong quá trình QLNN về xây dựng NTM tại
Quảng Ninh và thể hiện rõ qua những địa phương đạt cơ bản các tiêu
chí về NTM như Lương Ninh, Hàm Ninh, Võ Ninh, Hiền Ninh…
1.5.2. Bài học rút ra cho huyện Bố Trạch về quản lý nhà

2.2. Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở huyện Bố Trạch,
tỉnh Quảng Bình
2.2.1. Công tác lập quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn
mới, quy chế quản lý quy hoạch và quy hoạch phát triển sản
xuất
- Lập quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng NTM
- Lập Đề án xây dựng NTM
- Quy chế quản lý quy hoạch, quy hoạch phát triển sản xuất
2.2.2. Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
Trong 5 năm qua, với nhiều nguồn hỗ trợ cho Chương trình,
đã góp phần thay đổi diện mạo cơ sở hạ tầng của toàn huyện. Cụ thể:
- Về phát triển giao thông nông thôn:
- Về thủy lợi:
- Điện nông thôn:
- Trường học các cấp:
- Cơ sở vật chất văn hóa:
- Chợ nông thôn

14


- Bưu điện:
- Nhà ở nông thôn:
2.2.3. Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người
dân
Nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả được các địa phương
nhân rộng. Trong 5 năm qua, đã tổ chức đào tạo nghề nông nghiệp
45 lớp với hơn 1.385 học viên, hơn 30 mô hình sản xuất hiệu quả
được nhân rộng, hỗ trợ cho các thành viên HTX đầu tư mua 15 máy
gặt đập liên hợp, 18 máy tuốt lạc; hỗ trợ cho 32 trang trại chăn nuôi

15


Biểu đồ 1: Hiểu biết
về chương trình xây dựng
NTM

(Nguồn: Số liệu đều tra năm 2017)
Biểu đồ 2: Hình thức đóng góp khi tham gia xây dựng NTM

(Nguồn: Số liệu đều tra năm 2017)
Qua biểu đồ 2 ta thấy các hình thức đóng góp xây dựng
NTM ở các nhóm hộ có sự khác nhau. Ở nhóm hộ không nghèo đóng
góp bằng tiền chiếm 55,7% trong khi đó con số này ở nhóm hộ
nghèo là 31,2%, điều này phản ánh rằng nhóm hộ không nghèo có
điều kiện kinh tế khá giả hơn nên họ sẵn sàng đóng góp tiền mặt cao

16


hơn. Ngược lại, Nhóm hộ nghèo lại đóng góp công lao động nhiều
hơn chiếm 40,8% so với 24,6% ở nhóm hộ không nghèo.
Qua biểu đồ 3 ta thấy nhận thức về chủ thể xây dựng NTM
của 2 nhóm hộ có tương đồng, khi đa số người dân được hỏi của cả 2
nhóm hộ đều chọn người dân là chủ thể xây dựng NTM, điều này
cho thấy công tác truyên truyền cơ bản đã tác động đến nhận thức
của người dân. Tuy nhiên, tỷ lệ nhận thức đó vẫn chưa cao, ở nhóm
hộ nghèo là 48,4% và không nghèo là 59,2%. Tỷ lệ hộ không biết
vẫn còn ở mức cao, ở nhóm hộ nghèo là 31,3%, nhóm hộ không
nghèo là 25,5%. Điều này đỏi hỏi công tác tuyên truyền vận động

Biểu đồ 5: Nhận thức về chủ thể xây dựng NTM của cán bộ xã

(Nguồn: Số liệu đều tra năm 2017)

Qua biểu đồ 5 có 79,3% cán bộ xác định đúng chủ thể
QLNN về xây dựng NTM là người dân. Còn lại 19,7 % số cán bộ
được khảo sát vẫn chưa xác định được chủ thể của xây dựng NTM,
trong đó15,4% cán bộ cho rằng chủ thể xây dựng NTM là Nhà nước
và 5,3% không biết. Việc cán bộ thực thi nhiệm vụ chưa xác định
chính xác chủ thể xây dựng NTM đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết
quả QLNN về xây dựng NTM trên địa bàn huyện nói chung, điều
này yêu cầu phải đẩy mạnh công tác đào tạo và kiện toàn bộ máy.

18


Nhận thức về nội dung QLNN xây dựng NTM, nguồn lực xây
dựng NTM
Qua kết quả điều tra XHH, có đến 34,2% số cán bộ cấp xã
nhận thức chưa đúng các nội dung QLNN về xây dựng NTM. Có
26,7% các cán bộ được khảo sát chưa xác định đúng các nguồn lực
cần thiết để xây dựng NTM. Đối với vị trí là cán bộ thực thi nhiệm
vụ QLNN trên địa bàn xã thì đây là những con số đáng báo động, cần
phải có những thay đổi, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục,
kiểm tra, đánh giá chất lượng bộ máy thường xuyên hơn nữa.
2.3.2. Tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ và thực
hiện điều hành, quản lý về xây dựng nông thôn mới
2.3.2.1. Tổ chức bộ máy thực hiện điều hành, quản lý nhà
nước về xây dựng nông thôn mới
2.3.2.2. Xây dựng đội ngũ công chức thực hiện quản lý nhà

về xây dựng NTM trên địa bàn huyện, xã phải xây dựng được kế
hoạch kiểm tra, giám sát, xử lý số liệu, các hình thức báo cáo thực
hiện phù hợp để điều hành, quản lý điều chỉnh kịp thời và sâu sát.
2.3.6. Kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý nhà nước đối
với xây dựng nông thôn mới.
Đối với huyện Bố Trạch, trong thời gian qua, Huyện uỷ,
UBND huyện đã có nhiều nỗ lực, quyết tâm rất cao trong công tác
chỉ đạo và tổ chức thực hiện kiểm tra các nội dung xây dựng NTM.
Từ năm 2012 đến năm 2016, Huyện uỷ, UBND, BCĐ xây dựng
NTM huyện đã tổ chức được 10 đoàn kiểm tra định kỳ xuống cơ sở
để tổ chức quán triệt chủ trương, nội dung và cách làm xây dựng
NTM đến các cấp uỷ đảng, các ngành, đoàn thể và nhân dân, kiểm
tra thực hiện bộ 19 tiêu chí xây dựng NTM. Chủ động ban hành
nhiều văn bản chỉ đạo đến việc củng cố, kiện toàn BCĐ, BQL xây
dựng NTM ở huyện, xã và Ban Phát triển ở thôn, thành lập Tổ NTM
cấp huyện cũng như phân công các thành viên BCĐ huyện tăng
cường công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện ở các xã.
2.4. Đánh giá chung việc thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng
nông thôn mới
2.4.1. Kết quả đạt được
2.4.2. Hạn chế
2.4.3 Nguyên nhân hạn chế
TÓM TẮT CHƯƠNG 2

20


Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN

- Về công tác quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch:
- Hoàn thiện hệ thống giao thông nông thôn, thủy lợi nội
đồng:
- Hoàn thiện cơ sở vật chất văn hóa:
- Xây dựng trường học, y tế đạt chuẩn:

21


- Hoàn thiện mạng lưới chợ nông thôn:
- Hoàn thiện hệ thống điện nông thôn:
3.2.6. Chú trọng kiểm tra, giám sát, tổng kết đánh giá
việc thực hiện xây dựng nông thôn mới
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả
thực hiện Chương trình. Hàng năm, thành lập các tổ chỉ đạo xã điểm
phấn đấu xây dựng đạt chuẩn NTM để trực tiếp kiểm tra, đôn đốc
thực hiện. Định kỳ tổ chức giao ban, trực báo, sơ kết thực hiện
Chương trình. Khen thưởng cho các tổ chức, cá nhân có thành tích
tiêu biểu trong việc thực hiện xây dựng NTM hàng năm.
3.3. Một số kiến nghị đề xuất nhằm nâng cao hoạt động
quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Bố Trạch,
tỉnh Quảng Bình
3.3.1. Đối với Trung ương
Nâng mức phân bổ vốn Chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới (nguồn vốn sự nghiệp) để hỗ trợ đầu tư cho các
mô hình sản xuất nhằm tạo thêm việc làm nâng cao thu nhập cho
người dân.
3.3.2. Đối với Địa phương
TÓM TẮT CHƯƠNG 3


cao năng lực bộ máy kịp thời với sự thay đổi; Chỉ đạo quyết liệt công
tác quy hoạch; đổi mới huy động nguồn lực; Tăng cường kiểm tra,
giám sát thực hiện các tiêu chí và các hoạt động đối với xây dựng
NTM.
Tuy vậy, công tác QLNN về xây dựng NTM trên địa bàn
huyện vẫn còn một số hạn chế: Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo một số
xã chưa quyết liệt, chưa sâu sát, chưa thực sự tâm huyết; Một số địa
phương cán bộ cấp xã chưa nắm hết chủ trương, chính sách trong
tuyên truyền xây dựng NTM; Quy hoạch còn nặng về hạ tầng, chưa
chú ý tới các tiêu chí mềm; Nhân rộng các mô hình sản xuất tiêu biểu

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status