1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) là một bệnh ác tính khá phổ
biến của hệ tiêu hóa. Hàng năm, trên thế giới có thêm khoảng một triệu người
mới mắc và gây tử vong cho hơn 250.000 người [1]. Tỷ lệ mắc bệnh ngày càng
gia tăng, ước tính đạt mức cao nhất vào năm 2015 - 2020 [1]. Theo đánh giá
mới nhất, UTBMTBG đứng hàng thứ năm trong các loại ung thư [1],[2]. Tuy
vậy, tỷ lệ mắc bệnh khác nhau giữa các khu vực và có liên quan với tình hình
nhiễm virus viêm gan B và C [2],[3],[4]. Số bệnh nhân UTBMTBG ở châu Á
chiếm khoảng 70% tổng số bệnh nhân UTBMTBG trên thế giới [1].
Ở Việt Nam, UTBMTBG là loại ung thư phổ biến trên cả nước [5],[6].
Theo nghiên cứu của Trần Văn Huy UTBMTBG đứng hàng thứ hai sau ung
thư dạ dày nhưng lại là ung thư tiêu hóa phổ biến nhất ở nam giới [6].
UTBMTBG là loại ung thư có tiên lượng xấu, gây tử vong nhanh [5].
Kết quả nghiên cứu của hai chương trình giám sát dịch tễ quốc tế SEER và
Eurocare cho thấy bệnh nhân UTBMTBG có thời gian sống thêm thấp nhất
trong 11 loại ung thư thường gặp [7]. Thời gian sống trung bình của bệnh
nhân UTBMTBG nếu để tiến triển tự nhiên là 5 tháng (2-8) tháng [4]. Tiên
lượng bệnh có liên quan với kích thước khối u và chức năng gan [4],[8],[9].
Okuda và cộng sự đã phân chia ung thư gan theo ba giai đoạn. Thời gian
sống thêm trung bình của bệnh nhân ở các giai đoạn I, II, III lần lượt là 8,3
tháng, 2 tháng và 0,7 tháng trong trường hợp không được can thiệp [9]. Với
tính chất phổ biến và ác tính của bệnh, UTBMTBG thực sự là một thách
thức lớn đối với y học hiện đại. Liên quan đến đặc điểm bệnh nguyên, bệnh
sinh mà có đến 75-80% UTBMTBG phát triển trên nền xơ gan do các
nguyên nhân viêm gan B, C, rượu..., ngoài ra còn một tỉ lệ đáng kể khoảng
20-25% UTBMTBG phát triển trên nền 1 nhu mô gan hoàn toàn khỏe mạnh
2
Đánh giá kết quả phẫu thuật ung thư biểu mô tế bào gan trên nền
gan không xơ.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. GIẢI PHẪU GAN
1.1.1. Hình thể ngoài [19],[20]
- Vị trí: Gan là một tạng to nhất và rất quan trọng trong cơ thể, nằm
trong ổ bụng và liên quan nhiều với thành ngực. Gan nằm ở tầng trên mạc
treo đại tràng ngang, dưới cơ hoành phải, lấn sang giữa và trái vào vùng
thượng vị và dưới hoành trái. Đỉnh gan lên đến khoang liên sườn IV trên
đường núm vú phải. Bờ dưới gan chạy dọc theo bờ sườn phải, bắt chéo vùng
thượng vị từ sụn sườn IX bên phải sang sụn sườn VIII bên trái và lên đến cơ
hoành, sát đỉnh tim.
- Hình thể ngoài: Gan có màu đỏ nâu trơn bóng, mật độ chắc, nặng
khoảng 1500gram nhu mô và chứa khoảng 800-900 gram máu (lúc còn sống),
trọng lượng thay đổi tùy theo tình trạng sinh lý và bệnh lý gan. Kích thước
chỗ to nhất thùy phải dài 25-28cm, rộng 16-20cm, dày 6-8cm. Gan có hình
quả dưa hấu cắt chếch từ trái sang phải theo một bình diện nhìn lên trên, ra
trước và sang phải. Nhìn bề ngoài gan như bị chia bởi dây chằng liềm ở mặt
trên và rãnh dọc trái ở mặt dưới làm 2 thùy: thùy phải lớn và thùy trái nhỏ. Có
3 mặt: mặt trên, mặt dưới và mặt sau.
4
hệ thống hoá lại các đơn vị phân chia theo cách sắp xếp riêng của Việt Nam.
Cách gọi tên và hệ thống hoá như vậy rất thuận tiện cho các nhà phẫu thuật
khi gọi tên các phẫu thuật tương ứng. Hiện nay cách phân chia thuỳ gan của
Tôn Thất Tùng được sử dụng nhiều nhất và thuận tiện trong phẫu thuật cắt
gan và cũng được chúng tôi sử dụng danh pháp của Tôn Thất Tùng trong toàn
bộ luận văn này.
6
1.2. NGUYÊN NHÂN GÂY UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN VÀ CÁC
YẾU TỐ NGUY CƠ
1.2.1. Virus viêm gan
Nhiễm virus viêm gan B [3],[4],[25].
Virus viêm gan B là một yếu tố quan trọng nhất trong bệnh nguyên và
bệnh sinh UTBMTBG. Có mối liên quan chặt chẽ giữa tần suất nhiễm virus
viêm gan B và UTBMTBG [1],[4],[25]. Những khu vực có tỷ lệ nhiễm virus
viêm gan B cao như châu Á (chiếm 3/4 tổng số người nhiễm HBV trên thế
giới), châu Phi thì tỷ lệ mắc UTBMTBG cũng cao [3],[25]. Nguy cơ mắc
UTBMTBG tăng gấp 200 lần ở người nhiễm virus viêm gan B mạn tính so
với người không mang virus viêm gan B [4],[24],[25].
Khi nhiễm virus viêm gan B mạn tính, DNA của virus có thể sẽ hòa nhập
vào bộ máy di truyền của tế bào gan, tạo thành tác nhân gây ung thư. Rượu
làm tăng khả năng kết hợp DNA với bộ gen của tế bào chủ. Tổn thương gen
của tế bào gan do DNA virus viêm gan được coi là điểm khởi đầu của quá
trình sinh ung thư [4],[25].
Nhiễm virus viêm gan C [4],[7],[25].
Virus viêm gan C cũng là tác nhân sinh ung thư. Tại Nhật Bản và một số
nước châu Âu tỷ lệ nhiễm virus viêm gan C là 40-80% ở bệnh nhân
70-80% UTBMTBG xuất hiện trên nền gan bị xơ, 20% còn lại thì gan không
bị xơ, đặc biệt là trẻ em [1],[29],[30].
Nguyên nhân thường gặp nhất của xơ gan là viêm gan mạn do virus viêm
gan B, vì vậy những vùng có nhiều trường hợp nhiễm virus viêm gan B thì xơ
gan trở thành UTBMTBG là hơn 50%, trong khi vùng ít nhiễm virus viêm gan B
tỷ lệ này chỉ có từ 5-15% [31]. Hơn 50% số trường hợp UTBMTBG trên toàn
thế giới và khoảng 70-80% bệnh nhân UTBMTBG ở các vùng dịch tễ của virus
viêm gan B có nhiễm virus viêm gan B. Các bệnh nhân UTBMTBG có nhiễm
virus viêm gan B và virus viêm gan C có thể xảy ra tình trạng bùng phát viêm
8
gan sau khi hóa trị nếu không được đánh giá và điều trị viêm gan trước khi điều
trị ung thư [32],[33]. Theo y văn ghi nhận, các bệnh nhân UTBMTBG có nhiễm
virus viêm gan B và virus viêm gan C có tiên lượng xấu hơn các bệnh nhân
không nhiễm, với thời gian sống trung bình kém hơn khoảng 16 tháng. Ngoài ra,
nghiên cứu tại Nhật thấy các bệnh nhân UTBMTBG nhiễm virus viêm gan C
(42% tái phát sau 5 năm) có tiên lượng sống tốt hơn so với các bệnh nhân
UTBMTBG nhiễm virus viêm gan B (54% tái phát sau 5 năm) [34],[35].
Ngoài ra, các bệnh nhân xơ gan còn có nguy cơ hình thành những khối
ung thư mới lớn hơn những bệnh nhân không xơ gan [37].
1.2.4. Rượu và các nguyên nhân khác [4],[25],[38]
Mối liên quan giữa rượu và UTBMTBG đã được chứng minh qua nhiều
nghiên cứu, có từ 7-50% bệnh nhân UTBMTBG có liên quan đến rượu. Rượu
là nguyên nhân chủ yếu gây xơ gan và UTBMTBG ở một số nước châu Âu.
Xơ gan là nền tảng hình thành UTBMTBG [4],[25].
Một số bệnh chuyển hóa như bệnh nhiễm sắc tố sắt của mô, bệnh
Wilsons, bệnh thiếu hụt alpha 1- antitrypsin (AAT). Ngoài ra một số yếu tố
khác như dùng thuốc tránh thai kéo dài, tiền sử gia đình có người bị ung thư
UTBMTBG được phân độ biệt hóa dựa trên đặc điểm nhân.
UTBMTBG có nhiều cấu trúc mô học khác nhau, kể cả trên cùng một khối u
duy nhất [29],[30]. Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2000 chia UTBMTBG
thành 4 độ biệt hóa [29],[31],[39],[45]:
Loại biệt hoá rõ: thường gặp ở những trường hợp giai đoạn sớm của
UTBMTBG với kích thước u nhỏ hơn 2cm. Tế bào u có hình dạng tương tự tế
bào gan bình thường, kích thước tế bào và nhân hơi thay đổi, hạt nhân có thể
không rõ, thỉnh thoảng có phân bào. Các tế bào u thường sắp xếp thành dạng
bè nhỏ, thỉnh thoảng có thể gặp dạng giả tuyến hay thoái hóa mỡ. Một dạng
hiếm gặp là dạng tế bào sáng (do bào tương chứa nhiều glycogen), giống
carcinôm tế bào sáng ở thận. UTBMTBG biệt hóa rõ trên toàn bộ khối u
không thể phân biệt với u tuyến tế bào gan nếu chỉ dựa trên đặc điểm tế bào
10
u. Đối với trường hợp này việc chẩn đoán phải dựa trên cấu trúc mô học
dạng bè hay giả tuyến, sự xâm nhập mạch máu hay di căn xa.
Hình 1.3. UTBMTBG biệt hóa rõ (dị dạng nhân độ 1)
(Nguồn: Ishak KG, Goodman ZD, Stocker JT, 2001, AFIP)
Loại biệt hoá vừa: là loại thường gặp nhất ở những trường hợp khối u
có kích thước lớn hơn 3cm đường kính. Tế bào u dị dạng hơn loại biệt hoá rõ
nhưng không quá dị dạng như loại biệt hoá kém. Dạng bè có nhiều hơn 3 lớp tế bào
là loại cấu trúc mô học thường gặp ở dạng này. Tế bào u có bào tương nhiều, bắt
màu hồng, nhân tròn, hạt nhân rõ. Cấu trúc mô học dạng giả tuyến cũng thường
gặp, thường chứa dịch mật hay dịch protein trong lòng các tuyến giả.
Hình 1.4. UTBMTBG biệt hóa vừa (dị dạng nhân độ 2)
(Nguồn: Ishak KG, Goodman ZD, Stocker JT, 2001, AFIP)
1.3.3. Các thể cấu trúc [39],[43]
- Thể bè
- Thể giả tuyến và tuyến nang
- Thể đảo
- Thể nhú.
- Thể đặc
- Thể tế bào sáng
- Thể xơ
- Thể đa hình
- Thể sarcom
1.4. ĐẶC ĐIỂM UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN TRÊN NỀN GAN
KHÔNG XƠ
1.4.1. Đặc điểm UTBMTBG trên nền gan không xơ [46],[47],[48]
UTBMTBG trên nền gan không xơ theo một số nghiên cứu dao động
trong khoảng 20 đến 50% [1],[46],[47],[48].
Đặc điểm của ung thư gan trên nền gan không xơ thường là 1 khối, có
vỏ và tăng trưởng nhanh hơn ung thư gan trên nền gan xơ [46],[48]. Các
nguyên nhân gây ung thư gan đều gây ra ung thư gan trên nền gan không xơ.
Tuy nhiên trong 40% các trường hợp ung thư gan do virus viêm gan B là gan
không xơ, ngoài ra có thể do các yếu tố như: adenoma ác tính hóa hoặc các
13
bệnh lý chuyển hóa: bệnh lý chuyển hóa sắt, bệnh Wilsons, bệnh gan nhiễm
mỡ không do rượu chiếm phần lớn các trường hợp ung thư gan trên nền gan
không xơ [46],[47],[48].
1.4.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán UTBMTBG trên nền gan không xơ
Chẩn đoán UTBMTBG:
nghiên cứu của Ogawa E và đồng nghiệp, ở những bệnh nhân viêm gan virus
B mạn tính, giá trị ngưỡng ứng với từng giai đoạn xơ hóa là 6,3 kPa với F0,
6,7kPa với F1, 9,1 kPa với F2 và 13,7 kPa với F3 [97], nghiên cứu của Lusor
M và đồng nghiệp ở những bệnh nhân viêm gan C mạn tính thì ngưỡng tương
ứng với từng giai đoạn là 4,9kPa với F1, 7,4 kPa với F2, 9,1 kPa với F3 [98],
tại Việt Nam ở những bệnh nhân viêm gan thì ngưỡng tương ứng là 6,3 kPa
với F0, 7,1kPa với F1, 8,7 với F2, 14,5 với F3 [42].
Sinh thiết nhu mô gan cũng là một xét nghiệm rất có giá trị giúp đánh
giá mức độ xơ gan, tuy nhiên đây là xét nghiệm có xâm lấn, gây đau, có thể
xảy ra nguy cơ biến chứng mặc dù hiếm khi xảy ra. Có thể phân độ xơ hóa
nhu mô gan theo Metavir [38] gồm 5 độ: F0 (không xơ hóa); F1(xơ hóa
khoảng cửa không có vách); F2 (xơ hóa khoảng cửa kèm theo ít vách); F3 (rất
nhiều vách); F4 (xơ gan), hoặc theo Ishak [82] gồm 7 độ: F0 (không xơ hóa),
F1 (xơ hóa ở một vài khoảng cửa +/- vách xơ ngắn), F2 (xơ hóa ở một vài
khoảng cửa +/- vách xơ ngắn), F3 (xơ hóa lan rộng ở hầu hết các khoảng cửa
với vài dải xơ bắc cầu giữa các khoảng cửa), F4 (xơ hóa lan rộng ở các
khoảng cửa với nhiều dải xơ bắc cầu giữa 2 khoảng cửa, khoảng cửa và tĩnh
mạch trung tâm), F5 (nhiều dải xơ bắc cầu giữa khoảng cửa và tĩnh mạch
trung tâm và nốt xơ không hoàn toàn), F6 (xơ gan). Gan không xơ khi ở giai
đoạn F0, F1 theo Metavir và F0, F1, F2 theo Ishak. Trong nghiên cứu này,
chúng tôi lựa chọn phân loại theo Ishak vì phân loại này chi tiết hơn, khoảng
15
cách giữa các độ phân chia liên tiếp nhau giúp theo dõi sự chyển tiếp giữa các
mức độ chặt chẽ hơn, có tác dụng theo dõi bệnh nhân tốt hơn.
Ngoài ra, có thể phân biệt giữa gan lành và gan xơ của phần nhu mô gan
còn lại sau mổ cắt u theo Belghity năm 2005 [53] dựa vào các tiêu chuẩn sau:
Bảng 1.1: Phân biệt nhu mô gan lành và xơ theo Belghity [53]
Tăng ALTMC
Không
Có
Hình thể gan
Bình thường
Teo
Mạch máu
Bình thường
Huyết khối TMC/ ĐM gan
Đường mật
Không giãn
Giãn
Sỏi mật
Không
Gan nhiễm mỡ
+ Hoàng đản có thể gặp do khối u chèn vào đường mật.
+ Tràn dịch màng bụng: Do u di căn vào màng bụng hoặc u xâm lấn tĩnh
mạch trên gan, tràn máu màng bụng nếu khối u gan vỡ.
+ Phù do suy gan.
+ Lách to, tuần hoàn bàng hệ.
Tuy nhiên, khi bệnh nhân đã có những dấu hiệu rõ ràng trên lâm sàng
thì bệnh đã diễn tiến đến giai đoạn nặng, khối u thường đã có kích thước lớn,
đã có xâm lấn, chèn ép, gây khó khăn cho việc điều trị và tiên lượng xấu.
1.5.2. Các triệu chứng cận lâm sàng
1.5.2.1. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh
Siêu âm: Siêu âm là phương pháp thăm dò hình ảnh được lựa chọn đầu
tiên vì không xâm lấn, không độc hại, kinh tế, tiện lợi, có thể thăm dò nhiều lần,
cho kết quả nhanh chóng, có vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm ung thư
17
gan [63],[64]. Siêu âm không chỉ để chẩn đoán mà còn theo dõi u gan hoặc
hướng dẫn cho các phương pháp can thiệp điều trị u gan và sinh thiết [62].
Các dấu hiệu siêu âm của UTBMTBG [63],[64]:
- Thể một ổ: Hình ảnh của u là một khối tròn đặc. Kích thước khối u ở
giai đoạn sớm dưới 3cm, ở giai đoạn muộn có thể lên 10cm. Cấu trúc có thể
tăng âm, giảm âm hoặc hỗn hợp, xung quanh thường có một viền giảm âm
hoặc hình quầng.
- Thể nhiều ổ: Thường thấy nhiều khối đặc kích thước không lớn lắm
(3-5cm) nằm tập trung ở một thùy hoặc rải rác khắp cả gan phải và trái. Khối
có thể tăng âm, giảm âm hoặc hỗn hợp.
- Thể lan tỏa: Hình ảnh là một vùng tăng âm lẫn giảm âm xen kẽ, giới
hạn không rõ.
Các dấu hiệu gián tiếp: UTBMTBG ít khi gây giãn đường mật mặc dù
- Pha động mạch: khối ngấm thuốc nhanh ở thì này, thể hiện rõ khối
UTBMTBG tăng sinh mạch bằng hình ảnh tăng tỷ trọng hơn so với nhu mô
gan. Khối có thể ngấm thuốc không đồng đều do hiện tượng hoại tử chảy
máu trong khối.
- Pha tĩnh mạch cửa: Khối u hầu như không ngấm cản quang, thể hiện
bằng hình ảnh giảm tỷ trọng.
- Pha muộn: Khối thoát thuốc nhanh nên tỷ trọng của khối sẽ thấp hơn tỷ
trọng của nhu mô gan.
Hiện nay chụp CLVT xoắn ốc ba pha được sử dụng rộng rãi trong chẩn
đoán và theo dõi hiệu quả điều trị UTBMTBG bằng các phương pháp như đốt
sóng cao tần, tiêm ethanol vào khối u, nút mạch hóa chất [68].
Chụp cộng hưởng từ [4],[69]:
Phương pháp này có độ chẩn đoán chính xác cao [69]. Cộng hưởng từ là
phương pháp khảo sát hình ảnh rất tốt để đánh giá bệnh lý gan đặc biệt các
19
khối u gan, nó cho phép phát hiện được những khối u với kích thước nhỏ hơn
2cm với độ nhạy là 82% [69]. Hình ảnh khối UTBMTBG trên cộng hưởng từ:
Khối u có hình ảnh giảm tín hiệu ở T1 và tăng tín hiệu ở T2, phân biệt rõ với
nhu mô xung quanh. Có thể thấy đồng tín hiệu trên T1 hoặc tăng tín hiệu trên
T1 nếu có chảy máu hoặc tổ chức mỡ trong khối. Sau khi tiêm đối quang từ
khối u tăng tín hiệu trên cả T1 và T2, thải thuốc nhanh [4],[69].
Chụp cộng hưởng từ có thể đánh giá chi tiết những đặc điểm của khối
u như vỏ bọc khối, nhân vệ tinh, xâm lấn mạch máu. Cho phép chẩn đoán
phân biệt UTBMTBG với u máu, u gan thứ phát với độ nhạy 87%, độ đặc
hiệu 98% [69].
1.5.2.2. Xét nghiệm dấu ấn ung thư
Dấu ấn sinh học quan trọng nhất được sử dụng để chẩn đoán UTBMTBG
nay dùng sinh thiết kim dưới hướng dẫn của siêu âm, CT hoặc qua nội soi ổ
bụng. Sinh thiết kim vừa đủ đảm bảo khối lượng bệnh phẩm cho chẩn đoán
mô bệnh học và hiệu quả cao. Nó xác định rõ nguồn gốc, mức độ biệt hóa của
tế bào. Phương pháp này có độ nhạy đạt 90-95%, độ đặc hiệu đạt 95-98%
[62]. Tuy nhiên sinh thiết gan là thủ thuật có khả năng gây chảy máu, vì vậy
không nên áp dụng ở những bệnh nhân có rối loạn đông máu: thời gian máu
chảy > 10 phút, thời gian prothrombin kéo dài > 3 giây so với giá trị bình
thường, tiểu cầu < 60.000/mm3, bụng có dịch cổ chướng nhiều.
Như vậy UTBMTBG là tổn thương ác tính thường xuất hiện trên nền
gan xơ, ngoài tiêu chuẩn vàng là sinh thiết có tế bào ung thư người ta còn có
các tiêu chuẩn chẩn đoán cho phép khẳng định là UTBMTBG và được điều trị
theo hướng UTBMTBG (đặc biệt áp dụng đối với can thiệp ít xâm hại). Các
tiêu chuẩn chẩn đoán UTBMTBG được quy định rất rõ ràng và chặt chẽ bởi
các hiệp hội nghiên cứu bệnh lý gan có uy tín trên thế giới, cụ thể:
21
Theo Hội nghiên cứu bệnh lý gan Châu Âu (EASL-2003) [12]: dựa vào
kích thước khối u gan xuất hiện trên nền gan bệnh lý được theo dõi định kỳ.
Kích thước khối u < 1cm: nên theo dõi bằng siêu âm 3 tháng/ lần. Kích thước
khối u 1-2cm: sinh thiết u. Kích thước khối u > 2cm: chẩn đoán xác định
UTBMTBG khi có 2 biện pháp chẩn đoán hình ảnh phát hiện khối u giàu
mạch hoặc 1 biện pháp chẩn đoán hình ảnh kết hợp FP> 400ng/mL.
Hình 1.7. Phác đồ chẩn đoán UTBMTBG theo Hội nghiên cứu gan Châu Âu
* Nguồn: theo Llovet (2003) [12].
- Theo Hội nghiên cứu bệnh lý Gan của Mỹ (AASLD-2010) [74]: cũng
dựa vào kích thước khối u. Kích thước khối u < 1cm: theo dõi bằng siêu âm
3-6 tháng/ lần. Kích thước khối u > 1cm: chẩn đoán xác định dựa vào hình
Có rất nhiều phương pháp điều trị UTBMTBG, bao gồm 3 nhóm chính:
- Điều trị triệt căn: cắt gan, ghép gan, đốt sóng cao tần, tiêm cồn.
- Điều trị phụ trợ: nút ĐMG, hóa chất toàn thân (sorafenib).
- Điều trị triệu chứng: giảm đau, chống thiếu máu, tăng miễn dịch.
1.6.1. Điều trị phẫu thuật [12],[14],[50],[74]
Chỉ định điều trị phẫu thuật: Phẫu thuật điều trị UTBMTBG được
chỉ định trong những trường hợp sau [14],[50].
- U gan đơn độc hoặc nhiều u nhưng khu trú.
- Kích thước: Không hạn chế.
- Chưa xâm lấn các mạch máu lớn như tĩnh mạch chủ, thân tĩnh mạch cửa.
- Chưa có biểu hiện di căn xa: Cơ hoành, phổi, não.
- Nhu mô gan còn lại lành hoặc xơ nhẹ.
Đối với trường hợp cắt gan lớn cần thêm một số tiêu chuẩn:
- Chức năng gan tốt: Child A, ICG test 15’ < 15%.
- Thể tích gan còn lại đủ: >= 1% trọng lượng cơ thể.
- Không mắc các bệnh lý: Tim mạch, hô hấp, đái đường không ổn định,
rối loạn đông máu...
Các phương pháp cắt gan.
Kỹ thuật cắt gan của Tôn Thất Tùng (kỹ thuật cắt gan qua nhu mô) [54].
Nguyên lý của ký thuật là cắt gan có kế hoạch, kiểm soát cuống mạch
trong nhu mô. Có 2 động tác cầm máu là cặp toàn bộ cuống gan (nghiệm pháp
Pringle) và đi vào trực tiếp cuống mạch trong gan thắt trước đặc biệt trong
trường hợp cắt gan phải đi ngay vào ngách Gant để cặp cắt cuống phải, kỹ
thuật này đơn giản, dễ thực hiện đặc biệt trong những trường hợp mổ cấp cứu,
và điều quan trọng là nó tránh được những tai biến do những biến đổi về giải
phẫu của các thành phần trong cuống gan [54].
24
của Belghiti, kỹ thuật loại bỏ hoàn toàn mạch máu của gan trước khi cắt gan
áp dụng trong một số ít trường hợp u lớn, thâm nhiễm tĩnh mạch chủ dưới.
Đối với các bệnh nhân không có xơ gan, cắt gan là một trong những
lựa chọn điều trị UTBMTBG tốt nhất do khả năng bù trừ của phần gan lành
còn lại. Đối với các BN có xơ gan, chỉ định phẫu thuật phụ thuộc vào chức
năng gan của bệnh nhân, do nguy cơ suy gan sau mổ. Hiện nay vấn đề an toàn
của cắt gan đã được nâng lên đáng kể bởi những tiến bộ trong lựa chọn bệnh
nhân, kỹ thuật CĐHA, và chăm sóc hậu phẫu.
Khoảng hai thập kỷ trước, thời gian sống sau mổ không được cải thiện,
tuy nhiên gần đây, thời gian sống 5 năm sau mổ có thể đạt >50%