Tiểu luận: “ Tiềm năng, định hướng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ”
tuthienbao.com
ĐẠI
HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
----------
ĐỀ TÀI
TIỀM NĂNG, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG
BẮC TRUNG BỘ
Giảng viên hướng dẫn:
TS. Nguyễn Tưởng
Học viên thực hiện:
Địa lí học
1
Tiểu luận: “ Tiềm năng, định hướng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ”
Huế tháng 11/2011
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………………….3
ngay tại nước sở tại và đem lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia rất lớn. Chính vì thế,
các nước trên thế giới rất chú trọng đầu tư phát triển du lịch, nhằm thúc đấy kinh tế tiến
lên.
Trong những năm gần đây, ngành du lịch thế giới đã có những bước phát
triển nhanh chóng, đem lại những hiệu quả kinh tế đáng kể, nó còn tạo được công
ăn việc làm cho người lao động thông qua một số dịch vụ khác của ngành du lịch,
gia tăng cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nước ta cũng đang
phấn đấu đưa du lịch lên thành ngành kinh tế trọng điểm của đất nước. Song thực
chất ngành du lịch của nước ta chỉ mới phát triển trên một qui mô nhỏ, chưa đồng
bộ và cũng còn nhiều bất cập. So với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á như
Thái Lan, Malaysia,… thì sự phát triển của ngành du lịch nước ta chưa thực sự
đáng kể. Do đó, cần nghiên cứu, đánh giá cụ thể tiềm năng du lịch của từng vùng,
để định hướng cho việc tiến hành phát triển du lịch phù hợp với điều kiện của từng
vùng này nhằm nâng cao hiệu quả du lịch, mang lại lợi nhuận kinh tế cao. Chính vì
vậy bản thân tôi lựa chọn đề tài “ Tiềm năng, định hướng phát triển du lịch của
vùng Bắc Trung Bộ ” làm tiểu luận trong học phần Địa lí du lịch.
3
Tiểu luận: “ Tiềm năng, định hướng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ”
NỘI DUNG
CHƯƠNG I
MỘT SỐ LÍ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH
I. DU LỊCH VÀ VAI TRÒ CỦA DU LỊCH
1. Khái niệm du lịch
tăng cường sức sống cho du khách. Du lịch còn đáp ứng được nhu cầu về vui chơi,
giải trí, tìm hiểu thiên nhiên, xã hội, nâng cao trình độ hiểu biết, khả năng học hỏi
của con người. Nhiều công trình nghiên cứu Y – Sinh học cho thấy: nhờ chế độ
nghỉ ngơi và du lịch tối ưu, bệnh tật của dân cư trung bình giảm 30%, bệnh hô hấp
giảm 40%, bệnh tim mạch giảm 50%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh về đường
tiêu hoá giảm 20% … Đồng thời, du lịch là cơ sở giúp người ta bảo tồn các nền
văn hoá, tôn tạo lại các di tích lịch sử, các công trình văn hoá, phục hồi các khu
phố cổ, phục chế các di phẩm văn hoá… Qua việc tiếp xúc với những thành tựu
văn hoá phong phú và lâu đời của các dân tộc, du lịch làm tăng thêm lòng yêu
nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành phẩm chất đạo đức tốt đẹp, góp phần
hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hội.
- Mặt khác, khi đi du lịch nảy sinh ra các nhu cầu như ăn, mặc, ở, đi lại, giao
tiếp, học tập, chữa bệnh, làm đẹp, quà lưu niệm… Nhờ đó, ngành kinh tế độc đáo
“dịch vụ du lịch” ra đời và phát triển rất mạnh, nó ảnh hưởng đến cơ cấu ngành và
cơ cấu lao động của nhiều ngành kinh tế. Nhiều quốc gia, khu vực thông qua việc
thoả mãn thị trường hàng hoá và dịch vụ du lịch đối với du khách đã có cơ hội làm
giàu. Vì vậy, du lịch đã kích thích sự phát triển của sản xuất, là nguồn thu ngoại tệ
lớn của nhiều quốc gia. Các quốc gia càng phát triển thì vai trò của ngành du lịch
càng lớn, chiếm tỷ trọng càng nhiều trong cơ cấu nền kinh tế.
- Du lịch còn có vai trò rất quan trọng mà các ngành kinh tế khác không thể
có đươc, đó là việc góp phần sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nhờ sự
phát triển của du lịch mà nhiều giá trị về tự nhiên, nhân văn được tái phát hiện,
được tôn tạo, được bảo tồn và phát triển, được biến thành các giá trị kinh tế. Rất
5
Tiểu luận: “ Tiềm năng, định hướng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ”
nhiều vùng núi, ven biển không thuận lợi cho phát triển và phân bố các ngành công
nghiệp hay nông nghệp, nhưng cảnh quan thiên nhiên lại rất độc đáo, môi trường
- Theo vị trí địa lý của các cơ sở du lịch: du lịch biển, du lịch núi.
- Theo thời gian cuộc hành trình: du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày.
- Theo hình thức tổ chức: du lịch có tổ chức, du lịch cá nhân.
- Theo phương tiện sử dụng: du lịch ô tô, du lịch xe đạp, du lịch máy bay, du
lịch tàu thuỷ…
7
Tiểu luận: “ Tiềm năng, định hướng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ”
CHƯƠNG II. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
VÙNG BẮC TRUNG BỘ
I. NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BẮC TRUNG BỘ
1. Vị trí địa lý
Vùng Bắc Trung Bộ bao gồm 6 tỉnh và thành phố tương đương cấp tỉnh:
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, TP. Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng
Ngãi.
Diện tích: 34,7 nghìn km2, chiếm 10,5% diện tích cả nước. Dân số năm 2007
là: 6,2 triệu người, chiếm 7,3% dân số cả nước.
Có thể nói Bắc Trung Bộ là vùng có vị trí địa lý hết sức đặc biệt. Đây chính là
cầu nối giữa miền Bắc và miền Nam, giữa nước bạn Lào, Cămphuchia với biển
Đông rộng lớn. Lại có các tuyến giao thông huyết mạch chạy qua nên vùng có điều
kiện thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng.
Đây là vùng mà tất cả các tỉnh đều giáp biển. Đây là lợi thế mà không phải
vùng nào cũng có được.
2. Tài nguyên du lịch
2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
2.1.1. Địa hình
biển Bắc Trung Bộ tương đối đơn giản, thường bằng phẳng. Có giá trị nhất đối với
du lịch là các bãi biển. Từ Bắc vào Nam, nổi tiếng hơn cả là bãi biển Đá Nhảy, Cửa
Tùng, Thuận An, Lăng Cô, Non Nước, Mỹ Khê - Đà Nẵng, Cù Lao Chàm, Mỹ Khê
9
Tiểu luận: “ Tiềm năng, định hướng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ”
- Quảng Ngãi, Sa Huỳnh v.v. Trên thực tế, nhiều bãi biển đã thu hút đông đảo du
khách và trở thành điểm du lịch đầy hấp dẫn.
Tiêu biểu là bãi biển Đà Nẵng, được lọt vào danh sách các bãi biển đẹp nhất
hành tinh do tạp chí Forbes bình chọn.
c. Địa hình karst
Mặc dù diện tích loại địa hình này ở Bắc Trung Bộ không nhiều nhưng vẻ đẹp
và giá trị hấp dẫn của nó thì không vùng nào có thể sánh kịp. Ở đây có động Phong
Nha - một kỳ quan của tạo hóa.
Ðộng nằm ở vùng núi đá vôi Kẻ Bàng, cách thị xã Ðồng Hới 50 km về phía
tây bắc. Phong Nha không giống như những điểm du lịch khác ở Việt Nam, động
nằm trong khu rừng nguyên sinh Kẻ Bảng dường như còn nguyên sơ và tinh khôi.
Ðiều này càng làm cho Phong Nha thêm hấp dẫn khách du lịch".
Tháng 4 - 1997, một cuộc hội thảo khoa học về di tích danh thắng Phong
Nha - Xuân Sơn được tổ chức tại Quảng Bình. Kết quả nghiên cứu khảo sát cho
biết Phong Nha có 7 cái nhất:
1. Hang nước dài nhất
2. Cửa hang cao và rộng nhất
3. Bãi cát và đá rộng đẹp nhất
4. Hồ ngầm đẹp nhất
5. Thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất
6. Dòng sông ngầm dài nhất Việt Nam (13.969 m)
10
Tiểu luận: “ Tiềm năng, định hướng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ”
trong các khu vực có nhiều hiện tượng thời tiết đặc biệt mang tính chất thiên tai
của nước ta và gây ra những khó khăn đáng kể cho hoạt động du lịch.
2.1.3. Nguồn nước
- Các dòng sông ở đây mang những đặc điểm cơ bản như: ngắn, dốc, thủy chế
theo mùa. Tiềm năng du lịch cũng khá lớn. Tiêu biểu là sông Hương, sông Hàn,
sông Thu Bồn…
- Nhiều dòng sông vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị về du lịch: sông Bến
Hải, sông Gianh…
- Trong vùng có nhiều hồ, đầm phá: phá Tam Giang…
- Vùng còn có nhiều điểm nước khoáng, nước nóng có giá trị trong du lịch
nghĩ dưỡng và chữa bệnh. Tiêu biểu là: Bang, Mỹ An, Bàn Thạch - Quảng Nam…
Bắc Trung Bộ có nguồn nước dưới đất tương đối phong phú. Theo tài liệu
điều tra (liên đoàn 2 địa chất - thuỷ văn), trữ lượng của tầng chứa nước Q 3IV là
677,5 x 106m3, của tầng chứa nước Q I-III là 1050,3 x 106m3.
Nước khoáng và nước nóng ở Bắc Trung Bộ tương đối đa dạng.
Cho đến nay đã phát hiện hàng chục nguồn lộ thiên và lỗ khoan gặp nước
khoáng - nước nóng: Bang (Lệ Thuỷ, Quảng Bình), Troóc (Bố Trạch, Quảng Bình),
động Nghèn (Phúc Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình), Nô Bồ (Ngư Hoá, Quảng Trạch,
Quảng Bình), Tân Lâm (Quảng Trị), Kim Cương (Quảng Trị), Hương Hoá (Quảng
Trị), Thanh Tân (Phong sơn, Phong Điền, Thừa Thiên - Huế , Hương Bình (Hương
Phú, Thừa Thiên – Huế, Lỗ khoáng 314 – Mĩ An ( Hương Phú, Thừa Thiên - Huế)
2.1.4. Sinh vật
12
Tiểu luận: “ Tiềm năng, định hướng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ”
trị
Khả
năn
g
Bảo tàng
Giá
Khả
năn
trị
g
-
Quảng Trị
Cao
Thấp
-
-
Huế
Cao
Cao
-
-
Cao Vừa
Vừa
Mĩ Sơn
Khu phố cổ
Vừa
Hội An
Di tích Mĩ Sơn
Cao
Vừa
Vừa -
-
-
-
-
-
-
Cao
Cao
2.2.1. Dân cư, dân tộc
Bảng: Diện tích, dân số và mật độ dân số của các tỉnh Bắc Trung Bộ năm
2007.
Dân
số
trung
bình
Diện
tích
Mật độ dân số
(Km2)
805,4
1257,3
641
Quảng Nam
1484,3
10438,3
142
Quảng Ngãi
1288,9
5152,7
250
Bắc Trung Bộ cũng là nơi cư trú của một số tộc người thiểu số với nhiều
phong tục, tập quán có sức thu hút khách du lịch. Đó là người Pakô, Vân Kiều, Gié
Triêng, Xơ Đăng, Tà Ôi, Kà Tu… sinh sống chủ yếu ở vùng núi phía của các tỉnh.
Trong số này, một số tộc người như người Chứt (Tây Quảng Bình) đang là đối
tượng thu hút sự chú ý nghiên cứu của các nhà dân tộc học.
2.2.2. Di tích văn hóa - lịch sử
Đây là vùng có các di tích lịch sử vào loại dày đặc nhất ở nước ta. Mật độ
trung bình vào khoảng 2 di tích trên một cây số vuông. Tuy nhiên mật độ di tích và
Tiểu luận: “ Tiềm năng, định hướng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ”
và mới lạ là lễ hội pháo hoa quốc tế ở Đà Nẵng (tháng 3- 2008, thu hút 30 nghìn
khách). Các lễ hội ở đây thường có quy mô nhỏ, thời gian diễn ra ngắn
Các lễ hội truyền thống ở hầu hết các địa phương thường tập trung vào tháng
12 đến tháng 1 âm lịch năm sau. Ngoài 10 lễ hội trên quan đến tết nguyên đán, lễ
Trùng Thập (10 - 10) và lễ Hạ Nguyên (lễ cơm mới từ 10 - 15/10) là những lễ hội
chung cho cả nước, các lễ hội truyền thống của các địa phương tập trung nhiều ở
Thừa Thiên - Huế.
Lễ tế Nam Giao
Lễ cầu ngư
2.2.4. Các tài nguyên nhân văn khác
- Các làng ngề thủ công truyền thống
Trong số các tài nguyên nhân văn khác cần phải kể đến các làng nghề với các
sản phẩm thủ công truyền thống, âm nhạc, ca múa, các món ăn độc đáo của mỗi địa
phương. Có thể nói vùng Bắc Trung Bộ tập trung nhiều làng nghề cổ truyền, trong
đó đáng lưu ý nhất là cố đô Huế. (Phường Đúc, nghề sơn son Tiên Nộn, dệt...).
Các làng nghề ở đây rất có giá trị trong việc thu hút du khách và thường
được du khách mua rất nhiều. Điển hình là nón Huế, điêu khắc đá ở Ngũ Hành
Sơn, đúc đồng ở Quảng Nam…
- Dân ca, âm nhạc, ẩm thực: Đây là những vùng quê rất nổi tiếng với những
điệu hò câu ví sâu đắm lòng người. Tiêu biểu là các làn điệu dân ca xứ Huế. Trong
vùng có Nhã nhạc cung đình Huế - di sản phi vật thể của nhân loại.
16
Tiểu luận: “ Tiềm năng, định hướng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ”
Thiên - Huế và đến Quảng Nam - Đà Nẵng vẫn chiếm xấp xỉ 90% khách quốc tế
đến vùng Bắc Trung Bộ.
Thị trường khách du lịch quốc tế đến vùng du lịch Bắc Trung Bộ cũng hoàn
toàn thay đổi. Nếu như trước đây, thị trường khách du lịch chính của vùng Bắc
Trung Bộ là khách từ các nước Đông Âu và Liên Xô cũ, thì ngày nay khách đến từ
các thị trường này là không đáng kể. Thay vào đó là khách du lịch đến từ các nước
Tây Âu như Pháp, Đức,...; các nước Bắc Mỹ; các nước châu Á - Thái Bình Dương
như Nhật Bản, và các nước ASIAN. Mục đích của khách du lịch quốc tế đến vùng
Bắc Trung Bộ cũng rất đa dạng, nhưng chủ yếu là tham quan du lịch thuần túy,
khách du lịch có mục đích thương mại và các mục đích khác là không đáng kể.
Hiện nay, vùng Bắc Trung Bộ mỗi năm đón trung bình khoảng 1 triệu lượt
khách quốc tế.
1.1.2. Khách du lịch nội địa
Khách du lịch nội địa đến vùng du lịch Bắc Trung Bộ trong thời gian qua
cũng tăng nhanh đáng kể, thời kỳ 2000 - 2007 trung bình đạt khoảng 12 13%/năm. Tuy nhiên so với 2 vùng còn lại thì tốc độ tăng trưởng khách nội địa
đến vùng Bắc Trung Bộ thấp hơn.
Tốc độ tăng trưởng nhanh của khách du lịch nội địa chứng tỏ đời sống vật
chất tinh thần của người lao động ngày càng được nâng cao. Nhu cầu nghỉ ngơi vui chơi giải trí, nhu cầu nâng cao dân trí, tìm đến cái mới, cái lạ của người dân là
một nhu cầu khách quan. Mục đích đi du lịch của khách nội địa cũng rất đa dạng,
nhưng chủ yếu là thăm quan các di tích triều Nguyễn ở cố đô Huế, thăm đô thị cổ
Hội An, bảo tàng Chàm Đà Nẵng, thánh địa Mỹ Sơn, động Phong Nha... Ngoài ra
khách du lịch nội địa còn có mục đích lễ hội - tín ngưỡng, tắm biển, tham quan,
nghỉ dưỡng, du lịch công vụ...
18
Tiểu luận: “ Tiềm năng, định hướng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ”
Các cơ sở vui chơi giải trí và các dịch vụ phụ hiện nay là khâu yếu kém của
vùng du lịch Bắc Trung Bộ. Ở các tỉnh, thành phố trong vùng, kể cả Huế và Đà
Nẵng hầu như chưa có một khu vui chơi giải trí nào đáng kể đáp ứng nhu cầu cho
khách du lịch cũng như người dân địa phương. Ở các điểm du lịch chính, hình thức
vui chơi giải trí còn đơn điệu, quy mô nhỏ, chủ yếu chỉ có ở các khách sạn lớn.
Chính điều này làm hạn chế thời gian lưu trú của khách cũng như hiệu quả kinh
doanh du lịch. Khách du lịch đến vùng Bắc Trung Bộ, ngoài tắm biển, tham quan
ra còn nhiều thời gian nhàn rỗi nhưng khó có thể tìm thấy điểm vui chơi, giải trí.
Các vũ trường - sàn nhảy tuy có phát triển ở nhiều nơi, song giá cả còn cao và chỉ
đáp ứng được cho một phần thanh thiếu niên và khách du lịch trẻ tuổi. Các hình
thức vui chơi giải trí khác mang tính chất quần chúng hầu như không có. Các cơ sở
dịch vụ như phòng luyện tập thể thao, vật lý trị liệu, xông hơi, xoa bóp... gần đây
tuy có phát triển ở một số nơi, nhưng phần lớn chất lượng còn kém, chưa đáp ứng
được nhu cầu. Việc đầu tư xây dựng các khu vui chơi, giải trí tổng hợp là một đòi
hỏi cấp bách của du lịch ở các địa phương trong vùng để có thể phát triển và cạnh
tranh được với các trung tâm du lịch khác của cả nước.
1.3. Lao động ngành du lịch
Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, nhân viên du lịch vùng Bắc Trung Bộ chưa
được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ một cách có hệ thống. Theo thống kê gần đây,
khoảng 70% lao động gián tiếp ngành du lịch của vùng chưa qua đào tạo. Điều đó
đã ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả kinh doanh trong du lịch. Cùng với sự
gia tăng nhanh của khách du lịch, lực lượng lao động phục vụ trong ngành du lịch
vùng du lịch Bắc Trung Bộ cũng gia tăng nhanh. Tốc độ tăng trưởng bình quân trên
15%/năm, hiện nay lao động trong vùng chiếm khoảng 8% lao động du lịch của cả
nước.
20
Tiểu luận: “ Tiềm năng, định hướng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ”
du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật ngành... Là Tp. Huế và Tp. Đà
Nẵng. Hai thành phố này là trung tâm đồng vị của vùng, có vai trò và vị trí quan
trọng, bổ sung cho nhau trong việc hình thành và phát triển hoạt động du lịch của
vùng.
2.3. Các điểm, tuyến vùng du lịch Bắc Trung Bộ
2.3.1. Điểm du lịch
Vùng Bắc Trung Bộ có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa
và các tài nguyên du lịch khác. Điều đó tạo cho vùng có nhiều điểm du lịch hấp
dẫn. Mỗi điểm mang những nét đặc sắc riêng và có giá trị nhất định đối với hoạt
động du lịch.
Có thể chia các điểm du lịch ở Bắc Trung Bộ thành hai nhóm chủ yếu:
+ Nhóm điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia - quốc tế: Đặc trưng của nhóm này
là sự độc đáo về tài nguyên du lịch và sự thu hút khách cao độ.
+ Nhóm điểm du lịch có ý nghĩa địa phương: Tài nguyên du lịch ở các điểm
này hoặc không thật đặc sắc, hoặc cách xa đường giao thông nên sức hấp dẫn
khách du lịch từ phương xa tới không nhiều. Tuy vậy có thể khai thác chúng một
cách có hiệu quả nếu biết kết hợp với các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia - quốc
tế trên một tuyến du lịch nhất định.
2.3.1.1. Các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia - quốc tế
Điểm DL
1 Động Phong Nha
Vị trí
Quảng Bình
10
Điểm DL
Vị trí
Huế
Đèo Hải Vân
Huế
Sơn
–
-
Đà
Nẵng
4 Địa đạo Vĩnh Mốc
Quảng Trị
13
Cù Lao Chàm
Quảng
Nam
5 Khe Sanh
Quảng Trị
TT – Huế
16
17
Thánh Địa Mỹ
Quảng
Sơn
Nam
BT Chàm
Quảng
Dương
9 A Lưới
Nam
TT – Huế
18
Sơn Mỹ
Quảng
Tiểu luận: “ Tiềm năng, định hướng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ”
2
Bãi biển Đá Nhảy
Q.Bình 19
Suối khoáng Mỹ TT
An
3
Đèo Lý Hóa
Q.Bình 20
P.viện
Huế
bảo
tàng TT
HCM
4
5
Huế
6
Đ. Hòn La, Hòn Gió
Q.Bình 23
Núi và chùa Túy TT
Vân
7
Bãi biển Cửa Tùng
Quảng
24
Trị
8
Đảo Cồn Cỏ
Quảng
Phật
-
Trị
1
0
Làng Vân Kiều
Quảng
Trị
24
Tiểu luận: “ Tiềm năng, định hướng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ”
11 Hệ thống giếng cổ
Quảng
28
Hồ Phú Ninh
29
Bãi
Q.Nam
Trị
Bãi biển Sa Huỳnh
Q. Ngãi
32
Ba
Trị
Suối khoáng Đakrong
4
Quảng
Trị
1
Suối nước nóng Tân Quảng
5
Lân
Trị
1
Hàng rào Macnamara
- 34
Huế
2.3.2. Tuyến du lịch
Việc xác định tuyến du lịch phải căn cứ vào một số tiêu chuẩn nhất định. Để
xác định các tuyến du lịch ở vùng Bắc Trung Bộ, các tiêu chuẩn chủ yếu làm căn
cứ bao gồm: Định hướng tổ chức không gian du lịch chính của toàn vùng; Tài
nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn) và khả năng thu hút khách của chúng; Khả
25