Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng bắc trung bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 - Pdf 27

BÁO CÁO TỔNG HỢP
QHTT PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
1
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BẮC TRUNG BỘ
ĐẾN NĂM 2020, VÀ TẦM NHÌN ĐẾN 2030

MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết lập quy hoạch

Định hƣớng phát triển du lịch vùng của Chiến lƣợc phát triển du lịch Việt Nam
đến 2020, tầm nhìn đến năm 2030 mới đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt xác định
Vùng Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng
Trị và Thừa Thiên - Huế.

Diện tích tự nhiên của vùng: 52.534,2 km
2
; dân số: trên 10 triệu ngƣời; mật độ
dân số trung bình: 206 ngƣời/km
2
.

Thanh Hóa là tỉnh cực Bắc của vùng Bắc Trung Bộ, cũng là tỉnh đông dân nhất
với 3.407.000 ngƣời, trên diện tích 11.133,4km2. Thanh Hóa cũng là tỉnh có nhiều tài
nguyên du lịch và là một điểm đến rất có tiếng đối với thị trƣờng du lịch nội địa khu
vực miền Bắc. Các tài nguyên du lịch chủ yếu của tỉnh là bãi biển Sầm Sơn, Thành
nhà Hồ, Lam Kinh, cầu Hàm Rồng, Vƣờn Quốc gia Bến En, suối cá thần Cẩm
Lƣơng và nhiều tài nguyên du lịch có giá trị khác. Tuy nhiên, phần lớn các tài
nguyên du lịch sinh thái còn chƣa đƣợc đầu tƣ khai thác phát triển du lịch.

Tiếp giáp với Thanh Hóa là Nghệ An, có diện tích 16.490,7km2 và dân số gần

thời kỳ kháng chiến chống Mỹ chính là sự khác biệt lớn nhất, nổi trội nhất của vùng
Bắc Trung Bộ so với các vùng khác của nƣớc ta. Vị trí tự nhiên của Quảng Trị là điểm
hành lang Đông - Tây đi vào nƣớc ta. Đây là một lợi thế to lớn đồng thời khẳng định
vị trí quan trọng của Quảng Trị trong phát triển du lịch cũng nhƣ kinh tế - xã hội của
cả vùng.

Thừa Thiên - Huế là tỉnh cuối cùng của vùng Bắc Trung Bộ, nằm ở Bắc đèo
Hải Vân, cũng là tỉnh có nhiều tài nguyên và du lịch phát triển nhất cả vùng. Tỉnh có
diện tích 5062,6km2 và dân số trên 1 triệu ngƣời. Tài nguyên du lịch của Thừa Thiên -
Huế hết sức phong phú, từ các tài nguyên du lịch tự nhiên nổi trội nhƣ hệ thống bãi
biển, đầm phá nhƣ Tam Giang, Cầu Hai, Lăng Cô, Vƣờn Quốc gia Bạch Mã, đến các
tài nguyên du lịch lịch sử nhƣ cố đô Huế, các tài nguyên du lịch gắn với dân tộc thiểu
số cũng nhƣ lịch sử Cách mạng A Sầu, A Lƣới. Nét đặc sắc văn hóa, ẩm thực các giá
trị văn hóa phi vật thể cũng là những tiềm năng du lịch hết sức quan trọng của tỉnh.

Kết nối toàn bộ 6 tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ là ba tuyến quan trọng trên
trục giao thông Bắc - Nam là đƣờng quốc lộ 1A, đƣờng sắt Bắc - Nam và đƣờng Hồ
Chí Minh.

Trong tổ chức lãnh thổ phát triển du lịch Việt Nam, theo định hƣớng chiến lƣợc
mới đƣợc phê duyệt, vùng Bắc Trung Bộ là vùng tiếp giáp với các vùng trung du miền
núi Bắc Bộ, vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc và vùng duyên hải
Nam Trung Bộ, nằm ở khu vực hẹp nhất của đất nƣớc.

Đây là vùng có tài nguyên du lịch hết sức phong phú với dải bờ biển dài và dãy
Bắc Trƣờng Sơn, cố đô Huế, quê hƣơng Hồ Chủ tịch Thiên nhiên hoang sơ, nền văn
hóa đặc sắc là những tài nguyên du lịch vô giá của khu vực. Không chỉ có thế mạnh về
tài nguyên du lịch, vùng Bắc Trung Bộ còn có nhiều cửa khẩu với Lào, là nơi hành
lang Đông - Tây vào lãnh thổ Việt Nam, vùng Bắc Trung Bộ có vị trí đặc biệt quan
trọng trong phát phát triển du lịch Việt Nam cũng nhƣ phát triển kinh tế và du lịch trên


- Thứ nhất: Vùng Bắc Trung Bộ là một vùng còn nhiều khó khăn về nguồn lực
đầu tƣ cũng nhƣ phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc, tỷ lệ nghèo cao. Chuyển dịch
cơ cấu kinh tế còn chậm, chƣa phát huy hết lợi thế về tài nguyên cũng nhƣ vị trí địa lí
của vùng.

- Thứ hai: Điều kiện khí hậu khắc nghiệt là một thách thức không nhỏ đối với
phát triển du lịch. Vùng Bắc Trung Bộ là khu vực chịu ảnh hƣởng nặng nề nhất của
các yếu tố thời tiết bất lợi nhƣ bão, lũ lụt, hạn hán… cũng nhƣ của biến đổi khí hậu và
mực nƣớc biển dâng.

- Thứ ba: Điều kiện hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông còn nhiều bất cập, đặc
biệt là ở khu vực vùng núi phía Tây.

- Thứ tư: Sự suy thoái của nhiều loại tài nguyên trong đó có tài nguyên du lịch.
Một số khu vực còn chịu ảnh hƣởng nhiều bom mìn và chất độc hóa học còn lại từ
chiến tranh.

Trong giai đoạn phát triển mới, du lịch Bắc Trung Bộ đứng trƣớc những thuận
lợi và khó khăn mới, du lịch Bắc Trung Bộ cần đƣợc phát triển với chiến lƣợc lâu dài,
theo hƣớng bền vững, giải quyết đƣợc những khó khăn hiện tại và sẵn sàng cho những
thách thức trong tƣơng lai, góp phần ngày càng lớn vào sự nghiệp phát triển du lịch
nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung của cả nƣớc.

Để giải quyết những vấn đề trên, nhằm phát huy tối đa tiềm năng lợi thế của
vùng, việc xây dựng "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ đến
năm 2020, tầm nhìn 2030" là cần thiết và cấp bách. Đây sẽ là một bƣớc cụ thể hóa
quan trọng những định hƣớng chiến lƣợc của Chiến lƣợc phát triển du lịch Việt Nam
đến 2020, tầm nhìn đến 2030.


- Thông tƣ 01/2012/TT-BKHĐT ngày 9/2/2012 của Bộ KH-ĐT về hƣớng dẫn
xác định mức chi phí cho lập, thẩm định và công bố quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu;
- Thông tƣ 01/2007/TT – BKH ngày 07 tháng 2 năm 2007 của Bộ Kế hoạch và
Đầu tƣ hƣớng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ - CP ngày
07/9/2006 của Thủ tƣớng Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội;
- Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tƣớng Chính phủ phê
duyệt Chiến lƣợc phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
- Dự thảo Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm
nhìn đến năm 2030;
- Quyết định số 1057/QĐ-BVHTTDL ngày 22/3/2012 của Bộ trƣởng Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch về việc giao nhiệm vụ lập “Quy hoạch tổng thể phát triển du
lịch vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.
- Quyết định số 1694/QĐ-BVHTTDL ngày 07/5/2012 của Bộ trƣởng Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch về việc phê duyệt nội dung đề cƣơng “Quy hoạch tổng thể
phát triển du lịch Vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

2.2. Các căn cứ khác

- Định hƣớng phát triển kinh tế xã hội vùng Bắc Trung Bộ;
BÁO CÁO TỔNG HỢP
QHTT PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
5
- Các báo cáo quy hoạch các ngành kinh tế và sản phẩm chủ yếu có liên quan
trên địa bàn vùng;
- Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch vùng đến năm 2011; nhu cầu và xu
thế phát triển du lịch quốc tế, khu vực và trong nƣớc trong giai đoạn mới;
- Các số liệu thống kê và tài liệu khác liên quan.


4. Tổ chức không gian du lịch, kết cấu hạ tầng; định hƣớng phát triển thị trƣờng
và sản phẩm du lịch, các giá trị văn hóa trong vùng để phục vụ phát triển du lịch, cơ sở
vật chất kỹ thuật du lịch, nguồn nhân lực du lịch;
5. Xác định danh mục các khu vực, các dự án ƣu tiên đầu tƣ phát triển du lịch
vùng; nhu cầu sử dụng đất, vốn đầu tƣ phát triển du lịch vùng;
6. Đánh giá hiện trạng môi trƣờng, tài nguyên và đề xuất các giải pháp bảo vệ tài
nguyên du lịch và môi trƣờng;
7. Đề xuất cơ chế, chính sách; giải pháp, mô hình tổ chức quản lý, phát triển du
lịch vùng theo quy hoạch.

5. Giới hạn, phạm vi lập quy hoạch
5.1. Về không gian: Lãnh thổ vùng Bắc Trung Bộ gồm địa giới hành chính các tỉnh
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế. Diện
tích tự nhiên 52.534,2 km
2
; dân số trên 10 triệu ngƣời.
BÁO CÁO TỔNG HỢP
QHTT PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
6
5.2. Về thời gian
- Số liệu hiện trạng 2000 - 2010, cập nhật số liệu năm 2011.
- Quy hoạch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

6. Phƣơng pháp lập quy hoạch

 Phƣơng pháp thu thập tài liệu: Đƣợc sử dụng để lựa chọn những tài liệu, số
liệu, những thông tin có liên quan đến nội dung và đối tƣợng nghiên cứu trong
quy hoạch. Phƣơng pháp này rất quan trọng, là tiền đề giúp cho việc phân
tích, đánh giá tổng hợp các nội dung và đối tƣợng nghiên cứu một cách khách
quan và chính xác.

phân bố nguồn tài nguyên, sự phân bố của hệ thống kết cấu hạ tầng, các tuyến
điểm du lịch, các hạt nhân du lịch, các dự án ƣu tiên đầu tƣ phát triển ).
BÁO CÁO TỔNG HỢP
QHTT PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
7
PHẦN THỨ NHẤT

ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ NGUỒN LỰC
VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BẮC TRUNG BỘ

I. CÁC YẾU TỐ NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG

1. Đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung Bộ

1.1. Đặc điểm tự nhiên của vùng

1.1.1. Vị trí địa lí

Bắc Trung Bộ là dải đất hẹp ngang, kéo dài từ dãy Tam Điệp ở phía Bắc tới dãy
núi Bạch Mã ở phía Nam - là ranh giới tự nhiên giữa Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam
Trung Bộ, gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị,
Thừa Thiên - Huế.

Phía Tây là dãy núi Trƣờng Sơn Bắc giáp với nƣớc Cộng hòa Dân chủ Nhân
dân Lào, phía Bắc giáp với vùng núi Tây Bắc và Đồng bằng sông Hồng, phía Nam
giáp vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, phía Đông là Biển Đông.

- Về vị trí tiếp giáp cụ thể:

+ Phía Bắc giáp với Hòa Bình, Ninh Bình, Sơn La.

o
C. Nhiệt độ trung bình năm là 23-25
o
C,

tổng

lƣợng nhiệt 8.200 –
9.200
o
C, số giờ nắng 1.460 – 1.920 giờ. Tổng lƣợng mƣa lớn, 1.500-2.500mm/năm.
Vùng mƣa nhiều nhất là Thừa Thiên Huế. Độ ẩm không khí là 82-87%. Diễn biến của
khí hậu trong năm thƣờng gây nên những biến cố nhƣ gió phơn Tây Nam (gió Lào),
gây hạn hán, nóng bức (từ tháng 5 đến tháng 7). Tiếp đến là mƣa tập trung, cƣờng độ
lớn vào các tháng 8, 9. Mƣa kèm theo bão Thái Bình Dƣơng gây lũ lụt và phá hoại
mùa màng, tài sản của nhân dân. Lợi dụng quy luật hoạt động của khí hậu nói trên,
vùng Bắc Trung Bộ đã xây dựng lịch mùa vụ sớm hơn vùng đồng bằng Bắc Bộ từ 15
đến 30 ngày và tìm các biện pháp phòng tránh thiên tai.

1.1.3. Thủy văn

Tiềm năng nƣớc của vùng khá phong phú, nhƣng biến động phức tạp. Vùng có
21 lƣu vực sông, mật độ sông suối khá dày, đạt 9,75km/km
2
. Riêng vùng núi cao đạt
1km – 1,8km/km
2
. Nguồn nƣớc chủ yếu là do mƣa cung cấp, nên thủy chế sông cũng
theo mùa. Do địa hình dốc, lƣu vực nhỏ, nên sông ngắn, độ dốc lớn, dòng chảy nhỏ,
việc sử dụng nƣớc sông, suối có nhiều khó khăn. Muốn điều tiết nƣớc, cần có hệ thống

toàn vùng còn có 45,4 nghìn ha mặt nƣớc chƣa sử dụng. Đây là điều kiện để phát triển
nuôi trồng thủy sản nƣớc ngọt trong tƣơng lai.

* Tài nguyên nƣớc: Bắc Trung Bộ là vùng có hệ thống sông ngòi khá dày đặc,
nguồn cung cấp nƣớc dồi dào, với trữ lƣợng thủy sản và môi trƣờng thủy sản lớn, có
nhiều cửa sông đổ ra biển với mực nƣớc sâu thuận lợi để xây dựng cảng sông, cảng
biển, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Sông ngòi ở đây ngắn và dốc thuận lợi để phát
triển ngành công nghiệp thủy điện.

* Tài nguyên rừng: là một trong những thế mạnh to lớn để vùng phát triển
ngành lâm nghiệp. Tổng trữ lƣợng gỗ của Bắc Trung Bộ là 134.737 triệu m
3
và 1,5
triệu cây nứa, luồng, chiếm 17,9% trữ lƣợng gỗ và 25,4% trữ lƣợng tre nứa toàn quốc.
Tài nguyên rừng của vùng chỉ đứng sau Tây Nguyên và đây chính là nguồn cung quan
trọng về gỗ và lâm sản cho đồng bằng sông Hồng, cũng nhƣ đáp ứng một phần lĩnh
vực sản xuất gỗ ở nƣớc ta.

Ngoài cây luồng Thanh Hóa, Bắc Trung Bộ còn có nhiều đặc sản dƣới tán rừng
và tài nguyên động vật phong phú, có giá trị kinh tế (nhƣ song, trầm kì, các loại dƣợc
liệu quý, hƣơu, nai, khỉ…)

- Tính đa dạng sinh học của vùng còn khá cao so với các vùng khác: gần nhƣ
tỉnh nào cũng có vƣờn quốc gia nhƣ Bến En, Pù Mát, Vũ Quang, Phong Nha – Kẻ
Bàng, Bạch Mã.

* Về tài nguyên biển: Bắc Trung Bộ có bờ biển dài 670km với 23 cửa sông,
trong đó có nhiều cửa sông lớn có thể xây dựng cảng phục vụ cho vận tải, đánh bắt cá
nhƣ Nghi Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò, Cửa Hội (Nghệ An)… Điều tra cho thấy có 30-
40 loài cá kinh tế với trữ lƣợng 620.000 tấn, có khả năng khai thác 270.000 tấn, trong


Vùng Bắc Trung Bộ là vùng có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển, du lịch
nhƣng nhìn chung vẫn là vùng nghèo, cần đƣợc ƣu tiên đầu tƣ để tạo bƣớc đột phá về
phát triển kinh tế - xã hội và giảm nghèo.

Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của vùng đã có những chuyển biến tích
cực, những thành tựu đạt đƣợc là khá toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội và an
ninh quốc phòng. Năm 2010, tổng giá trị sản phẩm GDP của vùng Bắc Trung Bộ đạt
56.128 tỷ đồng (cả nƣớc là 1.980.914 tỷ đồng) tức là chỉ bằng khoảng 2,8% của cả
nƣớc. Tốc độ tăng trƣởng GDP trung bình cho giai đoạn 5 năm vừa qua đạt
10,78%/năm, cao hơn mức trung bình của cả nƣớc.

Tốc độ tăng trƣởng trung bình trong giai đoạn 5 năm qua của khối công nghiệp
xây dựng của Vùng BTB là 16,09%/năm, của khối nông nghiệp là 2,91%/năm và của
khối dịch vụ là 11,54%/năm. Cơ cấu kinh tế của vùng là: khối công nghiệp - xây dựng
(37,56%), khối nông - lâm - ngƣ nghiệp (25,11%) và khối thƣơng mại - dịch vụ
(37,33%). Cơ cấu thành phần kinh tế chuyển dịch theo hƣớng kinh tế thị trƣờng với sự
tăng trƣởng mạnh của tỷ trọng khối kinh tế tƣ nhân và kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài, tỷ trọng các thành phần kinh tế nhà nƣớc (trung ƣơng và địa phƣơng), kinh tế
tập thể giảm. Cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động cũng có
sự chuyển dịch tƣơng ứng. Tỷ trọng lao động khối nông - lâm - ngƣ nghiệp giảm mạnh
trong khi tỷ trọng lao động khối công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng nhanh chóng,
đặc biệt là khối thƣơng mại - dịch vụ.

Thu nhập bình quân đầu ngƣời tăng ổn định, tuy nhiên còn thấp so với mức
trung bình cả nƣớc.

Kinh tế phát triển còn thiếu bền vững, tích lũy nội bộ từ nền kinh tế thấp (đặc
biệt sau những khó khăn trong những năm vừa qua). Kết cấu hạ tầng chƣa đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Hạ tầng, đặc biệt là giao thông còn thiếu đồng bộ,

thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, quần thể di tích này bao gồm những di tích lịch sử - văn
hoá do triều Nguyễn xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu
thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xƣa (nay thuộc thành phố Huế - là trung tâm văn
hoá, chính trị, kinh tế của tỉnh), là kinh đô của triều đại phong kiến nhà Nguyễn. Quần
thể này đƣợc phân chia thành các cụm công trình gồm các cụm công trình ngoài Kinh
thành Huế và trong Kinh thành Huế. Trong đó, cụm di tích trong kinh thành Huế bao
gồm: Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử cấm thành. Hệ thống thành quách ở đây
là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và
Tây, đƣợc đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ thú với nhiều yếu tố biểu tƣợng
sẵn có tự nhiên. Các di tích ngoài kinh thành bao gồm hệ thống lăng tẩm, chùa chiền
và các di tích khác. Ngoài ra nhà vƣờn Huế cũng là một hình thức kiến trúc độc đáo,
hấp dẫn du lịch.

2.1.2. Nhã nhạc cung đình Huế

Theo đánh giá của UNESCO, "trong các thể loại nhạc cổ truyền ở Việt Nam,
chỉ có Nhã nhạc đạt tới tầm vóc quốc gia", "Nhã nhạc đã đƣợc phát triển từ thế kỷ 13
ở Việt Nam đến thời nhà Nguyễn thì Nhã nhạc cung đình Huế đạt độ chín muồi và
hoàn chỉnh nhất". Chính vì vậy, năm 2003 UNESCO đã công nhận Nhã nhạc cung
đình Huế là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. Đây là thể loại nhạc của
cung đình thời phong kiến, đƣợc biểu diễn vào các dịp trọng lễ trong năm của các triều
vua nhà Nguyễn của Việt Nam.

2.1.3. Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

Vƣờn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng thuộc huyện Bố Trạch và Minh Hóa, tỉnh
Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới khoảng 50 km về phía Tây Bắc, nằm ở một
BÁO CÁO TỔNG HỢP
QHTT PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
12

Ngày 30/7/2009, Mộc bản triều Nguyễn đã là tƣ liệu đầu tiên của Việt Nam
đƣợc công nhận là "Di sản tƣ liệu thế giới" thông qua tại kỳ họp từ ngày 29/7 đến ngày
31/7/2009 tại thành phố Bridgetown (Barbados) của Ủy ban Tƣ vấn Quốc tế (IAC)
thuộc UNESCO. Mộc bản triều Nguyễn đã chính thức đƣợc đƣa vào chƣơng trình "Ký
ức thế giới" (Memory of the World Programme) của UNESCO. Mộc bản triều Nguyễn
là loại hình tài liệu đặc biệt quý hiếm của Việt Nam cũng nhƣ thế giới.

2.1.5. Thành nhà Hồ

Ngày 27/6/2011, tại cuộc họp lần thứ 35 của Ủy ban Di sản Thế giới thuộc Tổ
chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) diễn ra từ ngày 19 -
29/6/2011 tại Paris (Pháp), di tích Thành nhà Hồ thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh
Hóa của Việt Nam đã đƣợc công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới.

Quần thể Di sản thế giới Thành nhà Hồ bao gồm tòa Hoàng thành đá, đàn tế
Nam Giao, La Thành, đƣợc Hồ Quý Ly xây dựng năm 1397 - 1402. Tòa thành thể
BÁO CÁO TỔNG HỢP
QHTT PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
13
hiện sự trao đổi, giao lƣu những giá trị nhân văn quan trọng giữa Việt Nam và các
nƣớc Đông Á, Đông Nam Á vào thời kỳ cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15.

Tính đến nay, Thành nhà Hồ đã có tồn tại hơn 600 năm. Điều đặc biệt và độc
đáo là tòa thành này đƣợc xây dựng từ những phiến đá lớn, có chiều dài trung bình lên
tới 1,5 m, có tấm tới 6 m, xếp chồng lên nhau mà không sử dụng vật liệu kết dính.

Công trình độc đáo này đã thể hiện bƣớc phát triển mới trong phong cách kiến
trúc và kỹ thuật xây dựng. Việc sử dụng kỹ thuật xây dựng đá khối lớn là một thành
tựu đột khởi trƣớc sau chƣa từng có ở Việt Nam, chứng minh quyết tâm mạnh mẽ của
vƣơng triều Hồ trong công cuộc cách tân xây dựng đất nƣớc.


2.2.2. Tài nguyên du lịch hang động

Hang động là một sản phẩm tự nhiên của quá trình phong hóa karst ở vùng núi
đá vôi. Ở Việt Nam, quá trình karst nhiệt đới đã tạo nên nhiều hang động kỳ vĩ, với
các nhũ đá, măng đá, sông suối ngầm. Trong số những hang động đã đƣợc phát triển ở
BÁO CÁO TỔNG HỢP
QHTT PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
14
vùng du lịch Bắc Trung Bộ có rất nhiều hang đẹp, rộng, có khả năng khai thác phục vụ
du lịch.

Thanh Hóa có vùng núi đá vôi với nhiều danh thắng hang động karst gắn với
các truyền thuyết, di tích lịch sử văn hóa nhƣ động Từ Thức (Nga Sơn) hấp dẫn du
khách, động Long Quang trên núi Hàm Rồng (TP. Thanh Hóa), động Hồ Công, động
Tiên Sơn (Vĩnh Lộc), quần thể hang động ở Tĩnh Gia, động Bàn Bù hay còn gọi là
Hang Ngán (Ngọc Lặc). Ngoài ra một số hang động khác nhƣ hang Con Moong
(Thạch Thành), động Cây Đăng (Cẩm Thủy), Lò Cao kháng chiến ở khu vực Bến En,
hang Phi (động Ma) thuộc huyện Quan Hóa…, là những điểm du lịch ngày càng hấp
dẫn du khách.

Hệ thống hang động tại núi Cồ Luồng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu,
huyện Quan Hóa: Hang Cồ Luồng thuộc địa bàn bản Khằm, cách quốc lộ 15A khoảng
500 mét, đƣờng lên hang không quá dốc, cửa hang quay về sông Mã, trong hang nhiều
nhũ đá với hình thù nhƣ đan vào nhau, những chiếc đàn đá độc đáo do thiên nhiên ban
tặng… Kết hợp với hệ thống hang động trong Huyện nhƣ: hang Ma (hang Phi), hang
Bà, hang chùa Ông Năm, hang chùa Bà Năm, hang Na (hang Tiên Nữ), tạo ra quần thể
du lịch cho khách trong và ngoài huyện, khách nƣớc ngoài đến thăm quan.

Tuy nhiên hang động nổi tiếng nhất vùng Bắc Trung Bộ cũng nhƣ cả nƣớc là hệ

thƣởng ngoạn tuyệt tác của tự nhiên.

2.2.3. Tài nguyên du lịch sông, hồ, suối nước nóng

Vùng Bắc Trung Bộ có nguồn tài nguyên sông, hồ, suối nƣớc nóng phong phú,
đƣợc khai thác phục vụ mục đích tham quan, nghỉ dƣỡng, thể dục thể thao, vui chơi
giải trí và chữa bệnh.

Các dòng sông lớn ở vùng này, đặc biệt là hệ thống sông Mã, sông Lam, sông
Thạch Hãn, sông La, sông Bến Hải, sông Gianh, sông Nhật Lệ, sông Hƣơng đã tạo
điều kiện hình thành các tuyến du lịch trên sông. Đặc biệt, trên sông Hƣơng đã phát
triển loại hình du lịch trên sông phục vụ du khách, vừa thƣởng lãm cảnh đẹp của sông
nƣớc, vừa nghe nhạc cung đình Huế, thả đèn hoa đăng. Đây cũng là một loại hình du
lịch hấp dẫn du khách, mang nét đặc trƣng của vùng. Các hồ chứa nƣớc lớn tự nhiên
cũng nhƣ nhân tạo của vùng ngoài việc mang những giá trị lớn về thủy lợi thì còn là
những điểm cảnh quan hấp dẫn. Trong vùng có nhiều điểm hồ có tiếng nhƣ hồ Tràng
Đẹn, hồ vực Mấu, đập bà Tùy (Nghệ An); hồ Kẻ Gỗ, hồ Thƣợng Tuy, hồ Cù Lây (Hà
Tĩnh); hồ nƣớc ngọt Bàu Sen tại Quảng Bình.

Tài nguyên suối nƣớc nóng ở vùng Bắc Trung Bộ khá phong phú và đang dạng
với độ khoáng hóa và nhiệt độ lý tƣởng để xây dựng thành khu du lịch điều dƣỡng,
chữa bệnh có giá đối cả khu vực. Qua phân tích của các nhà chuyên môn thì nƣớc
khoáng ở vùng này có giá trị tốt đối với sức khỏe con ngƣời và có nhiều tác dụng dƣợc
lý, đƣợc đánh giá là quý hiếm và rất tốt trong việc chữa trị một số bệnh nhƣ các bệnh
ngoài da, thấp khớp mãn tính, đƣờng ruột, đau thần kinh tọa, bệnh tim mạch, thấp
khớp, bệnh về đƣờng hô hấp Các suối nƣớc nóng nổi tiếng của vùng là: suối khoáng
nóng Giang Sơn, suối nƣớc Mọc ở Nghệ An; Khe Nƣớc Sốt ở địa bàn huyện Hƣơng
Sơn, Hà Tĩnh; suối nƣớc khoáng nóng Bang ở Quảng Bình; khu du lịch nƣớc khoáng
nóng Mỹ An, Thanh Tân ở Thừa Thiên Huế.


sinh ra nhiều danh nhân văn hóa, chính trị Việt Nam nhƣ: Hồ Chí Minh, Nguyễn Du,
Phan Bội Châu, Trần Phú, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn Với sự phong phú và đa dạng
về tài nguyên du lịch nhân văn, Bắc Trung Bộ là vùng đất có tiềm năng du lịch quan
trọng đặc biệt của cả nƣớc. Bởi vậy, khai thác tiềm năng văn hóa các tỉnh Bắc Trung
Bộ để phát triển du lịch có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc chuyển tải văn
hóa của vùng thành sản phẩm du lịch phục vụ du khách.

2.3.1. Di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng, khảo cổ

Ngoài địa hình độc đáo, hệ sinh thái biển đa dạng, tập trung nhiều vƣờn quốc
gia, khu bảo tồn thiên nhiên, Bắc Trung Bộ là vùng có nhiều tiềm năng du lịch với 5 di
sản thế giới đƣợc tổ chức UNESCO công nhận, 3 di tích đặc biệt cấp quốc gia cùng
536 di tích cấp quốc gia khác, đặc biệt có nhiều di tích lịch sử cách mạng có giá trị.
Đặc biệt phải kể đến: Khe Gát, hang Tám Thanh niên Xung phong, hệ thống di tích
lịch sử A.T.P, địa đạo Vịnh Mốc, Thành cổ Quảng Trị, sông Bến Hải - cầu Hiền
Lƣơng, Đƣờng 9 - Khe Sanh, Đƣờng mòn Hồ Chí Minh, chiến khu Dƣơng Hòa huyện
Hƣơng Trà và Chiến khu Hòa Mỹ huyện Phong Điền, địa đạo Khu ủy Trị Thiên Nổi
bật nhất là hệ thống di tích chiến tranh đồ sộ và độc đáo ở Quảng Trị, với nhiều di tích
đặc biệt quan trọng làm nên bảo tàng sinh động về chiến tranh, là một sa bàn đầy đủ
nhất để giới thiệu về chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong
thế kỷ 20. Với nhiều du khách quốc tế, một trong những lý do để họ tìm đến Quảng
Trị là để tìm hiểu và hồi tƣởng về quá khứ. Hệ thống di tích chiến tranh cùng với các
lễ hội cách mạng đặc sắc, có giá trị tinh thần lớn lao góp phần phát triển loại hình du
lịch tham quan - hồi tƣởng của vùng đất Bắc Trung Bộ.

Bắc Trung Bộ còn có rất nhiều di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng có giá trị cho
hoạt động du lịch, nổi bật nhƣ: Thành cổ Nghệ An, Truông Bồn, Ngã Ba Đồng Lộc,
khu di tích tƣởng niệm Nguyễn Du, thành Đồng Hới, Quảng Bình Quan, Lũy Thầy,
Thành Champa Ninh Viễn, thành quách thời Trịnh - Nguyễn, thƣ quán Thuận Hóa ở
Phú Hòa, làng Dƣơng Nỗ, cầu Tràng Tiền, nhà thờ Phủ Cam, chùa Báo Quốc Đặc

di tích. Ngoài những di tích lớn nổi tiếng, còn lại đa số các di tích chƣa đƣợc quan tâm
đúng mức, gây ảnh hƣởng đến hoạt động du lịch nói chung và hoạt động bảo vệ, trùng
tu, tôn tạo các di tích nói riêng.

2.3.2. Lễ hội và văn hóa dân gian

* Lễ hội: Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần
của ngƣời dân đƣợc hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử; là nét văn hóa đặc
trƣng riêng biệt, là linh hồn của mỗi vùng, địa phƣơng. Bắc Trung Bộ là vùng có nhiều
di tích lịch sử gắn với nhiều lễ hội truyền thống. Nhiều lễ hội có ý nghĩa lớn về mặt
lịch sử, văn hóa, có tác dụng tích cực trong việc giáo dục truyền thống yêu nƣớc và
khôi phục phát triển những nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cổ truyền. Lễ hội ở Bắc
Trung Bộ rất phong phú và đa dạng, mang nhiều màu sắc đặc trƣng của từng tập tục,
lề thói riêng biệt, hình thành và phát triển theo 3 loại hình nổi trội sau:

a. Lễ hội tín ngƣỡng: Thƣờng là tín ngƣỡng dân gian, thờ các thần thánh nhƣ
thờ thành hoàng, thờ mẫu, thờ các thần liên quan đến các hoạt động kinh tế nhƣ nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngƣ nghiệp… Những lễ hội tiêu biểu nhƣ: lễ hội xã Thiệu Trung,
tƣởng niệm ông tổ nghề đúc đồng Khổng Minh Không, lễ hội xã Quảng Cƣ ở Sầm
Sơn tƣởng niệm bà Triều – tổ sƣ nghề dệt săm xúc, lễ hội đình Phú Khê xã Hoằng Phú
– Hoằng Hóa – Tổ nghề hát, huyện Yên Thành – Nghệ An có lễ hội Đức Hoàng,
huyện Nam Đàn có lễ hội Vua Mai Thúc Loan, tục thờ thần và lễ cầu ngƣ ở Hội thống;
lễ hội Rằm tháng Ba Minh Hóa (Quảng Bình); lễ giỗ tổ nghề Kim hoàn, lễ húy kỵ ngài
Khai canh Thế Lại Thƣợng; lễ tổ nghề thêu ở Thừa Thiên Huế
BÁO CÁO TỔNG HỢP
QHTT PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
18

b. Các lễ hội văn hóa lịch sử: thƣờng gắn với việc tƣởng niệm các nhân vật lịch
sử của dân tộc đã có công trong việc đấu tranh, giữ gìn và bảo vệ tổ quốc nhƣ lễ hội

mang lại những xúc cảm đặc biệt cho ngƣời nghe. Chính vì thế, ngành du lịch ở một
số tỉnh Bắc Trung Bộ đã và đang đẩy mạnh khai thác đƣa lễ hội truyền thống cùng với
các hoạt động sinh hoạt văn hóa dân gian trong đó có ca múa nhạc truyền thống vào
phục vụ du khách, làm phong phú thêm hoạt động du lịch của du khách.

* Ẩm thực

Bắc Trung Bộ có những món ăn truyền thống dân dã, mang đậm hồn quê và
đặc trƣng của vùng: nem chua Thanh Hóa; cháo lƣơn Nghệ An; cam Xã Đoài - Nghệ
An; cu đơ Hà Tĩnh; bƣởi Phúc Trạch – Hà Tĩnh; bánh canh Quảng Bình; rƣợu Kim
Long; cháo vạt giƣờng và lòng thả (Quảng Trị); tôm chua, cơm hến, mè xửng, các loại
bánh xứ Huế… Đây là những đặc sản nổi tiếng của vùng mà bất cứ du khách nào đến
thăm cũng phải thƣởng thức và mua về làm quà.

BÁO CÁO TỔNG HỢP
QHTT PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
19
2.3.3. Làng nghề thủ công truyền thống

Cũng nhƣ các vùng khác trên cả nƣớc, Bắc Trung Bộ là nơi tập trung nhiều
làng nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm chất lƣợng. Thanh Hóa nổi tiếng
với nghề dệt chiếu cói ở Nga Sơn, nghề chế tác đá ở Đông Sơn; Nghệ An đƣợc biết
đến với nghề làm gốm gia dụng bằng tay và bàn xoay ở Viên Thành (Yên Thành),
nghề thêu đan của đồng bào các dân tộc Thái, Mƣờng, H'mông. Nói đến Hà Tĩnh thì
phải nhắc đến nghề chằm tơi ở Thạch Hƣơng, nghề trống Bắc Thai ở Thạch Hội, nghề
gốm đất nung ở Cổ Đạm. Vào Quảng Bình biết đến làng nghề làm nón lá Ba Đồn và
các làng mây tre đan truyền thống. Nghề nấu rƣợu ở Kim Long, nghề làm hƣơng Đông
Định, nghề bông vải sợi làng Lập Thạch,… là những nghề truyền thống nổi tiếng ở
Quảng Trị. Khác với các làng nghề thủ công ở các địa phƣơng khác, các làng nghề thủ
công truyền thống ở Huế gắn với nhu cầu của kinh đô triều Nguyễn với những sản

(124km), QL 46 (108km), QL 48C (123km), QL 49 (92km), đƣờng Hồ Chí Minh
Đông (582km) và đƣờng Hồ Chí Minh Tây 400km. Đa số các đƣờng này có kết cấu
mặt đƣờng bê tông nhựa, ngoại trừ tuyến QL 10, QL 45 và QL 49. Chất lƣợng mặt
đƣờng nhìn chung tốt.
BÁO CÁO TỔNG HỢP
QHTT PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
20

Ngoài ra trong vùng còn nhiều tuyến quốc lộ đƣợc trung ƣơng ủy thác nhƣ:

- Thanh Hóa: QL15A (86 km), QL 217 (196 km), QL 47 (61 km)
- Nghệ An: QL 15 A (135 km), QL48 (122km), QL 48 kéo dài (48km), QL
48C (25km)
- Hà Tĩnh: QL 8B (22km), QL 15A (75km)
- Quảng Bình: QL 12A (49km), QL 12C (51km + 18km), QL 15 (68km)
- Quảng Trị: tổng các đoạn lẻ trên các quốc lộ đƣợc trung ƣơng ủy thác là
377km
- Thừa Thiên - Huế: tổng các đoạn tuyến quốc lộ lẻ đƣợc trung ƣơng ủy thác
quản lí dài 105km.

Tổng chiều dài các tuyến đƣờng tỉnh trong vùng là: Thanh Hóa (1023km),
Nghệ An (739km), Hà Tĩnh (392km), Quảng Bình (317km), Quảng Trị (306km) và
Thừa Thiên - Huế (404km). Nhìn chung ở phần lớn các tỉnh chất lƣợng mặt đƣờng các
tuyến đƣờng tỉnh là trung bình và xấu, ngoại trừ Hà Tĩnh có tỷ lệ đƣờng có chất lƣợng
mặt đƣờng tốt tƣơng đối cao.

Những dự án giao thông đƣờng bộ lớn đã và đang đƣợc tích cực triển khai.
Đặc biệt dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 1 có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển
kinh tế - xã hội cũng nhƣ du lịch vùng Bắc Trung Bộ.


đƣờng sắt ở các địa phƣơng khác đều thuận lợi. Trong tƣơng lai, nếu đƣợc đầu tƣ nâng
cấp cả hạ tầng, toa xe và chất lƣợng dịch vụ thì đây sẽ là một phƣơng tiện giao thông
phục vụ du lịch hiệu quả và hấp dẫn.

* Đường thủy: Giao thông đƣờng thủy vùng Bắc Trung Bộ không phát triển
mạnh, do trong vùng các dòng sông thƣờng ngắn và không thuận lợi ngoại trừ sông
Hƣơng và sông Thạch Hãn. Chủ yếu các tuyến giao thông đƣờng thủy chỉ có thể phục
vụ khai thác các tuyến tham quan ngắn.

* Đường biển: Tuy có dải bờ biển dài, tuy nhiên giao thông đƣờng thủy vùng
Bắc Trung Bộ chƣa phát triển do thiếu đầu tƣ, đặc biệt hệ thống hạ tầng phục vụ phát
triển du lịch chƣa đƣợc đầu tƣ xây dựng. Ngoại trừ cảng Chân Mây có đón một số
chuyến tàu du lịch thì hoạt động này hoàn toàn chƣa có ở các điểm khác trong toàn
vùng. Một số cảng biển trong vùng có thể đƣợc nghiên cứu mở rộng khai thác phục vụ
du lịch nhƣ Vũng Áng, Nghi Sơn, Cửa Việt, tuy nhiên tiềm năng khai thác hiệu quả rõ
nhất, đặc biệt là đối với các tuyến quốc tế là cảng Chân Mây.

* Đường không: Vùng Bắc Trung Bộ có tƣơng đối nhiều sân bay dân dụng so
với các vùng khác trong cả nƣớc. Hiện trong vùng có 4 sân bay, trong đó có một sân
bay quốc tế Phú Bài (Thừa Thiên - Huế) và 3 sân bay nội địa là Thọ Xuân (Thanh
Hóa) Đồng Hới và Vinh. Tuy nhiên thực tế chƣa có các đƣờng bay quốc tế thƣờng
xuyên đến vùng, đặc biệt sân bay quốc tế Đà Nẵng vừa mới đƣợc nâng cấp hiện cũng
chƣa đƣợc khai thác hết công suất nên trong tƣơng lai gần việc phát triển các đƣờng
bay quốc tế trực tiếp tới Bắc Trung Bộ khó có khả năng trở thành hiện thực.

Hiện nay hàng tuần có 4 chuyến Thọ Xuân - TP Hồ Chí Minh, 21 chuyến Vinh
- TP Hồ Chí Minh và 14 chuyến Vinh - Hà Nội, 4 chuyến Hà Nội - Đồng Hới và 4
chuyến Đồng Hới - TP Hồ Chí Minh. Số chuyến bay đến Huế là nhiều nhất, hàng tuần
có 21 chuyến đến Huế từ Hà Nội và 28 chuyến đến từ TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên giờ
bay còn chƣa thuận lợi, hoặc là quá sớm hoặc quá muộn, nên không thực sự phù hợp

cũng có nhiều dự án nhà máy điện quy mô lớn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và du
lịch. Tuy nhiên mạng trung áp và hạ áp tới các hộ gia đình, cụm dân cƣ và các khu vực
phát triển du lịch còn khó khăn, đặc biệt tại các khu vực mới đƣa vào đầu tƣ khai thác.

Theo quy hoạch điện 7 đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt, mạng lƣới cấp
điện, ngoài các nhà máy điện nhỏ cấp địa phƣơng, trong vùng còn xây dựng các nhà
máy nhiệt điện quy mô trung bình và lớn là Nghi Sơn I và II và Vũng Áng I và II. Đây
là những dự án có quy mô lớn, bổ sung nguồn điện quan trọng cho cả nƣớc cũng nhƣ
vùng Bắc Trung Bộ. Dự kiến trong năm 2013 và 2014 những tổ máy đầu tiên của các
công trình này sẽ hòa mạng lƣới quốc gia.

Tuy nhiên những vấn đề then chốt với việc cấp điện cho khai thác phát triển du
lịch tại Bắc Trung Bộ liên quan chủ yếu tới mạng cấp trung, hạ áp và vấn đề thiếu hụt
nguồn điện chung của cả nƣớc vào mùa khô.

3.4. Hệ thống thoát nước thải và vệ sinh môi trường

Nhìn chung hầu hết các tỉnh trên địa bàn chƣa có nhà máy xử lý nƣớc thải tập
trung quy mô lớn, nƣớc thải sinh hoạt và nƣớc thải của các khu đô thị, làng nghề
không đƣợc gạn lọc, xử lí và đƣợc đổ xả trực tiếp ra môi trƣờng, gây ô nhiễm nguồn
nƣớc nghiêm trọng ở các thành phố lớn và các lƣu vực sông. Ở vùng nông thôn, tình
trạng môi trƣờng nƣớc thải còn phức tạp hơn. Một số khu vực phát triển du lịch truyền
thống từ hàng chục năm nay vẫn chƣa giải quyết dứt điểm đƣợc vấn đề này, gây ảnh
hƣởng nghiêm trọng tới môi trƣờng cũng nhƣ hình ảnh du lịch chung. Nguồn nƣớc
mặt bị ô nhiễm chất đạm, vi khuẩn, và thuốc trừ sâu rầy do sản xuất nông nghiệp và
chất thải của con ngƣời và thú vật. Việc sử dụng không đúng cách một số lƣợng to lớn
hóa chất và thuốc trừ sâu rầy trong việc sản xuất nông nghiệp đã gây ra tình trạng ô
nhiễm hóa chất nghiêm trọng trên cả nƣớc. Hóa chất độc hại kể cả POPs đƣợc tìm thấy
trong môi trƣờng. Hầu hết các khu đô thị xuất hiện hiện tƣợng ô nhiễm do nƣớc thải,
nhất là các vùng chung quanh khu sản xuất công nghiệp, làng nghề Vì không có hệ

Viễn thông là một trong những lĩnh vực phát triển mạnh và ổn định nhất của
Việt Nam trong những năm qua. Số lƣợng thuê bao điện thoại cố định và điện thoại di
động (trả sau) của vùng Bắc Trung Bộ đã đạt trên 2 triệu.

Hiện nay các mạng viễn thông hầu nhƣ đã phủ kín khu vực duyên hải ven biển,
bao gồm viễn thông hữu tuyến, di động, internet băng thông rộng. Tuy nhiên ở khu
vực phía Tây, với địa hình phức tạp, phát triển viễn thông còn nhiều khó khăn, ở nhiều
khu vực chỉ có sóng Viettel. Khả năng truy cập internet 3G cũng chƣa thật ổn định.
Mạng lƣới bƣu chính cho đến nay vẫn đƣợc duy trì hiệu quả tới từng thôn xã trong khu
vực.

Công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nƣớc đã đƣợc chú
trọng trong thời gian qua. Tất cả các địa phƣơng trong vùng đã có hệ thống thƣ điện tử
tên miền địa phƣơng, áp dụng phần mềm văn phòng điện tử trực tuyến, một số ngành
đã bƣớc đầu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử. Các phần mềm cơ bản đã bƣớc
đầu đƣợc xây dựng và thống nhất, tuy nhiên các phần mềm chuyên ngành mới chỉ
đƣợc xây dựng bƣớc đầu ở một số ngành đặc thù riêng. Các địa phƣơng đều đã có
cổng thông tin điện tử với các cổng thành viên và bƣớc đầu cung cấp dịch vụ công
trực tuyến. Công nghệ thông tin cũng đã đƣợc triển khai ứng dụng trong sản xuất kinh
doanh và văn hóa xã hội với mức độ khác nhau tùy thuộc vào đặc thù và điều kiện
riêng của từng địa phƣơng cũng nhƣ từng lĩnh vực.

BÁO CÁO TỔNG HỢP
QHTT PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
24
Tại các địa phƣơng, bên cạnh các báo chí, ấn phẩm trung ƣơng đều có các ấn
phẩm báo chí địa phƣơng, đài phát thanh truyền hình các tỉnh, huyện, thị thành. Ngoài
hệ thống truyền hình công nghệ analogue, thì truyền hình số vệ tinh và truyền hình cáp
đều đƣợc phát triển nhằm cung cấp dịch vụ phong phú, đa dạng cho ngƣời dân.


Trung là đào tạo chuyên sâu.

Bảng 1: Tổng hợp các cơ sở đào tạo có chuyên ngành du lịch trong vùng
STT
Tỉnh, thành phố
Cơ sở đào tạo
1
Thanh Hóa
+ Đại học Văn hóa - Thể thao - Du lịch Thanh Hóa
+ Trƣờng Đại học Hồng Đức
+ Trƣờng Cao đẳng nghề Lam Kinh
+ Trƣờng Trung cấp Thƣơng mại Trung ƣơng 5
+ Trƣờng dạy nghề Thƣơng mại và Du lịch Thanh Hóa
2
Nghệ An

+ Đại học Công nghiệp Vinh
+ Trƣờng Cao đẳng nghề Thƣơng mại Du lịch Nghệ
An
BÁO CÁO TỔNG HỢP
QHTT PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG BẮC TRUNG BỘ ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
25
+ Trƣờng Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Nghệ An
+ Trƣờng Trung cấp Du lịch miền Trung
+ Trƣờng Trung cấp Việt Anh
+ Trƣờng Trung cấp Kinh tế kỹ thuật Hồng Lam
3
Hà Tĩnh
+ Trƣờng Cao đẳng Văn hóa Thể thao Du lịch Nguyễn
Du

Huế có cơ sở vật chất và chƣơng trình đào tạo đƣợc đánh giá cao.

Chƣơng trình giảng dạy đã kết hợp cả lý thuyết và thực hành tuy nhiên vẫn còn
nặng về lý thuyết, chƣơng trình thực hành chiếm tỷ trọng thấp. Điều này dẫn đến việc
học viên sau khi tốt nghiệp vào làm việc tại các doanh nghiệp du lịch vẫn cần đào tạo
bổ sung. Một lý do của việc các học phần thực hành còn ít do cơ sở vật chất, kỹ thuật
của các trƣờng đào tạo còn yếu, chƣa chú trọng liên kết với các doanh nghiệp trong
công tác đào tạo. Nhiều cơ sở đào tạo cũng đã đƣợc đầu tƣ nhƣng trang thiết bị giảng
dạy nhìn chung còn thiếu và không đồng bộ, đặc biệt đối với các cơ sở mới. Nhiều
trƣờng chƣa có phòng thực hành cho các môn nghiệp vụ nhƣ buồng bàn, lễ tân

Các trƣờng phần lớn xây dựng giáo trình và áp dụng các phƣơng pháp đào tạo
riêng do hiện nay chƣa có chƣơng trình khung chung cho đào tạo các ngành khách sạn,
nhà hàng và du lịch. Công tác khảo thí, đánh giá trình độ của sinh viên tốt nghiệp ra
trƣờng vì thế cũng khó khăn do thiếu chuẩn đánh giá.

Trích đoạn Khách du lịch Các nhóm sản phẩm đặc trưng của vùng Cải thiện chất lượng dịch vụ và các điều kiện hình thành sản phẩm du lịch Định hƣớng xây dựng hình ảnh, phát triển thƣơng hiệu, xúc tiến quảng bá Hình ảnh và thương hiệu các dòng sản phẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status