QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐBSH&DHĐB ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH – 58,KIM MÃ - HÀ NỘI: TEL.37343131. FAX.8240407
1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết lập quy hoạch
Vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc (ĐBSH&DHĐB) theo định
hướng phát triển du lịch vùng của Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch
Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 bao gồm Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải
Phòng và các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Ninh Bình,
Nam Định, Thái Bình và Quảng Ninh.
Trong tổ chức lãnh thổ phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030
vùng ĐBSH&DHĐB tiếp giáp vùng Trung du miền núi Bắc Bộ ở phía Bắc, Tây và
Tây Bắc và vùng Bắc Trung Bộ ở phía Tây Nam, vịnh Bắc Bộ ở phía Đông Nam.
Vùng bao gồm toàn bộ lãnh thổ vùng Kinh tế trọng điểm phía Bắc với 2 trung tâm
kinh tế lớn là Hà Nội và Hải Phòng và vùng Nam sông Hồng. Mặt khác vùng cũng là
lãnh thổ bao gồm vùng Thủ đô và vùng Duyên hải Bắc Bộ.
Có thể nhận thấy, vùng ĐBSH&DHĐB là một khu vực trải dài từ Tây sang Đông
với các miền địa hình khác nhau như rừng núi, trung du, đồng bằng, biển và hải đảo…
Vùng cũng là nơi có lịch sử khai phá lâu đời, nôi của nền văn minh lúa nước, tập trung
nhiều di tích, lễ hội, làng nghề truyền thống, làng Việt cổ đặc trưng… Do đó vùng
ĐBSH&DHĐB là khu vực chứa đựng nguồn tài nguyên du lịch khá toàn diện.
Những đặc điểm địa lý tự nhiên và tài nguyên tạo điều kiện để vùng ĐBSH&
DHĐB có thể phát triển một nền kinh tế mở đa dạng với định hướng chủ đạo là phát
triển công nghiệp công nghệ cao, sản xuất và chế biến lương thực, đồng thời nâng cao
tỷ lệ các ngành dịch vụ trong đó có du lịch.
Đứng về góc độ du lịch, vùng ĐBSH&DHĐB có Hà Nội là trung tâm du lịch cả
nước và trục tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh với cửa mở ra biển Đông,
đến với các nước trong khu vực và quốc tế, chính vì vậy phát triển du lịch vùng có ý
nghĩa động lực đối với phát triển du lịch Việt Nam.
thi hành một số điều của Luật Du lịch;
- Nghị định số 98/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Di sản văn hóa;
- Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/1/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về lập,
phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội;
- Quyết định số 191/2006/QĐ-TTg ngày17/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ
triển khai thực hiện Chương trình Hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số
54-NQ/TW ngày 14/9/2005 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm
quốc phòng, an ninh vùng ĐBSH và vùng Kinh tế trọng điểm đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020;
- Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
- Quyết định 201/QĐ-TTg ngày 22/1/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030;
- Thông tư 01/2007/TT-BKHĐT ngày 07 tháng 2 năm 2007 của Bộ Kế hoạch và
Đầu tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày
07/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội;
- Thông tư 01/2012/TT-BKHĐT ngày 9/2/2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về
hướng dẫn xác định mức chi phí cho lập, thẩm định và công bố quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu;
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐBSH&DHĐB ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH – 58,KIM MÃ - HÀ NỘI: TEL.37343131. FAX.8240407
3
- Quyết định số 1059/QĐ-BVHTTDL ngày 22/3/2012 của Bộ trưởng Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch về việc giao nhiệm vụ lập “Quy hoạch tổng thể phát triển du
hoạch phát triển du lịch cụ thể khác theo hướng Chiến lược và quy hoạch phát triển
ngành Du lịch cả nước.
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐBSH&DHĐB ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH – 58,KIM MÃ - HÀ NỘI: TEL.37343131. FAX.8240407
4
4. Nội dung và nhiệm vụ quy hoạch
1. Xác định vị trí, vai trò và lợi thế của ngành Du lịch vùng.
2. Phân tích, đánh giá các yếu tố nguồn lực và hiện trạng phát triển du lịch vùng.
3. Xác định quan điểm, mục tiêu; dự báo chỉ tiêu và luận chứng các phương án
phát triển du lịch vùng.
4. Tổ chức không gian, kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch vùng.
5. Xác định danh mục các khu vực, các dự án đầu tư, vốn đầu tư, nguồn nhân lực;
thị trường và sản phẩm du lịch vùng.
6. Đánh giá tác động môi trường, các giải pháp bảo vệ tài nguyên và môi trường.
7. Đề xuất giải pháp thực hiện quy hoạch.
5. Phƣơng pháp lập quy hoạch
5.1. Phương pháp thu thập tài liệu: Được sử dụng để lựa chọn những tài liệu, số
liệu, những thông tin có liên quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu trong quy
hoạch. Phương pháp này là tiền đề giúp cho việc phân tích, đánh giá tổng hợp các nội
dung và đối tượng nghiên cứu một cách khách quan và chính xác.
5.2. Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích, đánh giá toàn diện các nội
dung, các đối tượng nghiên cứu trong quy hoạch như: thực trạng tiềm năng tài nguyên
du lịch; thực trạng công tác tổ chức quản lý và khai thác tài nguyên du lịch; thực trạng
phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch; thực trạng biến động
của môi trường du lịch; thực trạng phát triển của các chỉ tiêu kinh tế du lịch
5.3. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Điều tra, kiểm tra chứng các tư
liệu và số liệu trên thực tế. Thông qua phương pháp này cho phép xác định cụ thể hơn
25' đến 108
0
05' kinh độ Đông. Phía Bắc vùng giáp Lạng Sơn, Thái
Nguyên, Tuyên Quang; phía Tây giáp với Phú Thọ, Hoà Bình (thuộc vùng Trung du
miền núi Bắc Bộ); phía Đông và Đông Bắc giáp với Trung Quốc và biển Đông; phía
Nam giáp với Thanh Hoá (thuộc vùng Bắc Trung Bộ). Tổng diện tích tự nhiên toàn
vùng xấp xỉ 21.063,1 km
2
(nguồn: Niên giám Thống kê 2010).
Có thể nhận thấy, vùng ĐBSH&DHĐB là một khu vực trải dài từ Tây sang Đông
với các miền địa hình khác nhau như rừng núi, trung du, đồng bằng, biển và hải
đảo…Do đó vùng ĐBSH&DHĐB cũng là một khu vực chứa đựng nguồn tài nguyên
du lịch đa dạng, phong phú là yếu tố thuận lợi phát triển du lịch.
1.1.2. Khí hậu: Vùng ĐBSH&DHĐB có đặc điểm khí hậu và thời tiết đa dạng,
độc đáo và có nhiều biến động nhất ở nước ta với đầy đủ các tính chất của khí hậu
vùng. Vùng chịu ảnh hưởng sâu sắc của chế độ gió mùa tạo nên một mùa hè nóng ẩm,
mưa nhiều với hướng gió chủ yếu là gió Đông Nam và đặc biệt là có mùa đông lạnh, ít
mưa với hướng gió chính là hướng Bắc và Đông Bắc. Đặc điểm này đã chi phối mạnh
mẽ đến tính chất thời vụ của hoạt động du lịch. Thêm vào đó, khí hậu, thời tiết của
vùng có nhiều biến động với những diễn biến phức tạp.
Mặc dù nằm trong cùng một vùng lãnh thổ nhưng do sự phân hoá của đặc điểm
địa hình, khí hậu của vùng ĐBSH&DHĐB thuận lợi hơn cho hoạt động du lịch so với
các khu vực khác. Khí hậu của vùng ĐBSH&DHĐB so với các nơi khác ấm áp hơn
với nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23
0
C - 24
0
C, lượng mưa trung bình từ 1.600 -
1.900 mm và mùa mưa thường từ tháng 5 đến tháng 10. Các tháng cuối năm và đầu
năm thời tiết đẹp, trời ấm áp, khô ráo, dễ chịu rất thích hợp với các hoạt động lễ hội,
3
và tổng lượng phù sa trung bình là 100 triệu
tấn/năm. Về tới khu vực vùng ĐBSH&DHĐB, sông phân thành nhiều nhánh nên mới
kịp thoát nước khi mùa lũ ập đến.
So với sông Hồng sông Thái Bình nhỏ hơn nhiều. Sông Thái Bình do sông Cầu,
sông Thương và sụng Lục Nam hợp lại. Nước sông trong và ít phù sa. Sông Hồng và
sông Thái Bình đều chịu ảnh hưởng của nhịp điệu gió mùa nên thủy chế thất thường,
mùa mưa nước quá nhiều trong khi mùa khô rất ít nước.
Nhìn chung toàn vùng ĐBSH&DHĐB, do rừng đầu nguồn bị khai thác bừa bãi
nên gây ra tình trạng lũ, lụt triền miên vào mùa mưa và hạn hạn nặng nề vào mùa khô
ảnh hưởng đến đời sống người dân.
Hoàn lưu gió mùa mùa hạ nóng ẩm tạo ra mùa mưa, chiếm 80 - 85% lượng mưa
của cả năm. Trùng hợp với mùa mưa là mùa lũ, mực nước các sông dâng cao. Ở vùng
ĐBSH&DHĐB mùa lũ thường kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10. Tuy mùa lũ ngắn hơn
mùa cạn, nhưng lượng dòng chảy mùa lũ chiếm 60 - 90% cả năm. Nhìn chung thời
điểm bắt đầu và kết thúc mùa lũ cũng biến động mạnh, phụ thuộc vào chế độ gió mùa
hàng năm. Đây là những yếu tố thời tiết bất lợi cho họat động du lịch.
Vùng ĐBSH&DHĐB còn có một diện tích khá lớn các hồ chứa nước tự nhiên và
nhân tạo. Đáng chú ý là các hồ chứa nước lớn có nhiều phong cảnh đẹp, khí hậu tốt có
thể khai thác phục vụ du lịch như các hồ chứa nước nhân tạo Suối Hai, Đồng Mô,
Quan Sơn (Hà Nội), Đại Lải (Vĩnh Phúc), Tam Chúc (Hà Nam), Yên Lập (Quảng
Ninh) và hồ tự nhiên như Hồ Tây (Hà Nội)
Tài nguyên nước ngầm trên địa bàn vùng cũng khá phong phú. Trong tài nguyên
nước ngầm, các mỏ nước khoáng có tác dụng sinh lý tốt đối với cơ thể con người do
có chứa những thành phần đặc biệt có hàm lượng cao và nhiệt độ thích hợp là tài
nguyên du lịch chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ, sắc đẹp.v.v… Một số mỏ nước khoáng
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐBSH&DHĐB ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH – 58,KIM MÃ - HÀ NỘI: TEL.37343131. FAX.8240407
7
2
). Mặc dù tỷ lệ gia
tăng tự nhiên của dân số trong vùng giảm mạnh nhưng mật độ dân số vẫn cao, gấp 3,5
lần mật độ trung bình cả nước. Đây là một thuận lợi về nguồn lực lao động. Tuy nhiên,
dân số đông cũng đem đến những khó khăn nhất định gây sức ép lên sự phát triển kinh
tế - xã hội của vùng.
Những nơi đông dân cư nhất vùng là Hà Nội (1.962 người/km
2
), Bắc Ninh (1.257
người/km
2
), Hải Phòng (1.221 người/km
2
), Hưng Yên (1.226 người/km
2
), Thái Bình
(1.140 người/km
2
), Nam Định (1.107 người/km
2
). Ở những nơi khác, chủ yếu thuộc rìa
phía Bắc và Đông Bắc nên mật độ dân cư thưa hơn.
Đa số dân số là người Kinh, một bộ phận nhỏ là các dân tộc thiểu số như dân tộc
Mường (Ba Vì-Hà Nội, Nho Quan-Ninh Bình, Quảng Ninh), các dân tộc Dao, Tày,
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐBSH&DHĐB ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH – 58,KIM MÃ - HÀ NỘI: TEL.37343131. FAX.8240407
8
Sán Dìu, Hoa (Vĩnh Phúc, Quảng Ninh), dân tộc Cao Lan, Ngái (Vĩnh Phúc), dân tộc
Sán Chỉ, Nùng (Quảng Ninh). Yếu tố dân tộc không phải là tiềm năng du lịch nội bật
khắc, các sản phẩm từ cói….thỏa mãn nhu cầu của du khách và xuất khẩu.
* Nông nghiệp: Về diện tích và tổng sản lượng lương thực, vùng chỉ đứng sau
đồng bằng sông Cửu Long, nhưng là vùng có trình độ thâm canh cao nên năng suất lúa
rất cao. Sự phát triển kinh tế cùng với hàng loạt các chính sách mới cũng góp phần
quan trọng cho việc giải quyết lương thực, thực phẩm của vùng.
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, ngành trồng cây lương thực luôn giữ vị trí
hàng đầu. Sản lượng lương thực chiếm xấp xỉ 20% cả nước. Trong các cây lương thực,
lúa có ý nghĩa quan trọng nhất cả về diện tích và sản lượng. Hàng năm, khu vực có
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐBSH&DHĐB ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH – 58,KIM MÃ - HÀ NỘI: TEL.37343131. FAX.8240407
9
hơn 1 triệu ha đất gieo trồng lúa. Năm 2011, năng suất lúa của vùng tăng 4,1% so với
năm trước. Cây lúa có mặt ở hầu hết mọi nơi, tập trung nhất và đạt năng suất cao nhất
ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình, trong đó Thái
Bình là tỉnh dẫn đầu cả nước về năng suất lúa. Ngành trồng cây lương thực đặc biệt là
trồng lúa ở đây đã có từ lâu đời và được thâm canh với trình độ cao nhất cả nước. Tuy
vậy, việc đảm bảo lương thực cho con người và các nhu cầu khác (phục vụ chăn nuôi,
công nghiệp chế biến v.v…) còn bị hạn chế.
Ngoài sản xuất lương thực vùng còn trồng các loại cây nông sản khác, nuôi trồng
thủy sản… phục vụ đời sống và có ý nghĩa đối với hoạt động du lịch.
Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch là giảm tỉ trọng trồng
trọt, tăng tỉ trọng chăn nuôi và thủy sản, riêng trồng trọt thì giảm tỉ trọng lương thực,
tăng tỉ trọng cây công nghiệp và cây thực phẩm.
* Các trung tâm kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm: Vùng có hai trung tâm kinh
tế lớn là Hà Nội và Hải Phòng. Các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long
(Quảng Ninh) tạo thành tam giác kinh tế phát triển mạnh của vùng và có sự lan tỏa,
thu hút lớn đối với các vùng, tỉnh lân cận. Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ bao gồm 7
tỉnh Bắc sông Hồng tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động của vùng và
Vừng, Quan Lạn (Quảng Ninh), Cát Bà, Bạch Long Vĩ (Hải Phòng) có những bãi
tắm đẹp, môi trường trong lành là tài nguyên du lịch tắm biển, thể thao và khám phá.
Các đặc sản từ biển gồm những loại thực phẩm cao cấp như bào ngư, tôm hùm,
mực.v.v…ở khu vực này rất sẵn và rẻ. Bên cạnh đó, các sản phẩm khác từ biển như
hàng hàng mỹ nghệ, đồ lưu niệm cũng rất có giá trị đối với du lịch.
2.1.2. Tài nguyên du lịch hang động: Trong số rất nhiều hang động đã được phát
hiện ở vùng ĐBSH&DHĐB có rất nhiều hang đẹp, rộng có khả năng khai thác phục vụ
mục đích du lịch tham quan, nghiên cứu như Tràng an - Tam Cốc - Bích Động, Địch
Lộng (Ninh Bình), Hương Tích (Hà Nội); Bồ Nâu, Sửng Sốt (Quảng Ninh).v.v…
3.1.3. Tài nguyên du lịch thuộc sông, hồ, suối nước nóng, nước khoáng: Sông,
hồ, suối nước nóng, nước khoáng là những tài nguyên du lịch rất phong phú ở vùng
ĐBSH&DHĐB. Những tài nguyên này được khai thác phục vụ mục đích tham quan,
nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, thể dục thể thao và chữa bệnh. Điển hình có hồ Đại Lải,
Đầm Vạc (Vĩnh Phúc); Đồng Mô, hồ Tây, Quan Sơn, Suối Hai (Hà Nội); Tam Chúc
(Hà Nam) v.v…; các suối nước nóng Kênh Gà (Ninh Bình), Quang Hanh (Quảng
Ninh), Tiền Hải (Thái Bình) và các sông thuộc hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình.
2.1.4. Tài nguyên du lịch thuộc các khu rừng đặc dụng: Vùng ĐBSH&DHĐB có
32 khu bảo tồn chiếm xấp xỉ 29%, trong đó có 6 vườn quốc gia; 14 khu dự trữ động
thực vật và 12 khu rừng văn hóa - môi trường. Đặc biệt trên lãnh thổ có một số khu
bảo tồn đất ngập nước có giá trị du lịch cao như Xuân Thủy (Nam Định) và Vân Long
(Ninh Bình) trong đó Xuân Thủy là 1 trong 4 khu Ramsar của cả nước, 2 khu dữ trữ
sinh quyển là đảo Cát Bà (Hải Phòng) và vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng (gồm
vùng ven biển cửa sông Đáy thuộc huyện Kim Sơn, Ninh Bình và Nghĩa Hưng, Nam
Định; vùng ven biển cửa cửa Ba Lạt thuộc huyện Giao Thủy, Nam Định và Tiền Hải,
Thái Bình và vùng ven biển cửa cửa Thái Bình thuộc huyện Thái Thụy, Thái Bình).
Các vườn quốc gia Bái Tử Long (Quảng Ninh); Cát Bà (Hải Phòng); Cúc
Phương (Ninh Bình); Tam Đảo (Vĩnh Phúc); Ba Vì (Hà Nội) và Xuân Thủy (Nam
Định) còn bảo tồn được nhiều diện tích rừng nguyên sinh với nhiều loại thực, động vật
nhiệt đới điển hình. Đây là nơi lưu giữ tốt nhất nguồn gen động thực vật, bảo tồn sinh
thái và đa dạng sinh học vì thế có ý nghĩa rất lớn về khoa học, về kinh tế, giáo dục và
thành lập ở nước ta, nơi còn bảo tồn và gìn giữ được một kho sưu tập đặc sắc về thế
giới thực, động vật điển hình của thiên nhiên nhiệt đới ẩm, khu bảo tồn đất ngập nước
Vân Long, nước khoàng nóng Kênh Gà.v.v…Tuy nhiên, nổi bật là di tích danh thắng
Tràng An - Tam Cốc - Bích Động được công nhận di tích quốc gia đặc biệt, trở thành
tài nguyên du lịch hấp dẫn.
2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
Là nôi của văn minh sông Hồng vì vậy vùng ĐBSH&DHĐB có hệ thống tài
nguyên du lịch nhân văn nổi bật thể hiện qua các Di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc
nghệ thuật, khảo cổ; Lễ hội văn hóa dân gian; Ca múa nhạc; Ẩm thực; Làng nghề thủ
công truyền thống, làng Việt cổ; Các bảo tàng và cơ sở văn hóa nghệ thuật; Yếu tố con
người và bản sắc văn hóa dân tộc đều gắn liền với các giá trị của văn minh sông Hồng.
Đây là cơ sở để phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch du lịch đặc trưng mang
thương hiệu vùng và có sức hấp dẫn khách du lịch cao.
2.2.1. Các di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ: Vùng
ĐBSH&DHĐB là nôi của nền văn minh sông Hồng nên tập trung nhiều di tích lịch sử
- văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ gắn với các giá trị văn minh sông Hồng. Toàn
vùng có 2.232 di tích cấp quốc gia so với cả nước có 3.125 di tích trong đó có 12 di
tích cấp quốc gia đặc biệt với 2 Di sản văn hóa vật thể (Di sản văn hóa và các danh
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐBSH&DHĐB ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH – 58,KIM MÃ - HÀ NỘI: TEL.37343131. FAX.8240407
12
hiệu khác được UNESCO vinh danh). Đây là hệ thống tài nguyên đặc biệt giá trị phục
vụ du lịch của vùng.
Hà Nội, Thủ đô nghìn năm văn hiến, trung tâm của vùng với hơn 1.000 di tích
văn hóa-lịch sử cấp quốc gia có nguồn tài nguyên nổi bật. Những di tích nổi tiếng
trong và ngoài nước như Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu Quốc Tử Giám, Cổ
Loa, chùa Trấn Quốc, chùa Một Cột, phủ Tây Hồ, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, phố cổ
Hà Nội.v.v… kết hợp văn hóa ẩm thức, văn hóa phi vật thể luôn thu hút khách du lịch.
Các di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc nghệ thuật khác của vùng như cố đô Hoa
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐBSH&DHĐB ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH – 58,KIM MÃ - HÀ NỘI: TEL.37343131. FAX.8240407
13
Ca trù sau này phát triển thành lối hát thính phòng, một thú chơi tao nhã của đất
kinh thành. Ngày nay ca trù vẫn được ưa chuộng, đặc biệt là khách nước ngoài. Ca trù
được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp
(2009). Đây là tài nguyên du lịch đặc biệt giá trị.
- Hát Quan họ có thể hát tại nhà trong các dịp cưới hỏi, giỗ, khao; hay sau khi hát
ở hội đình, hội chùa mời nhau về nhà. Hát quan họ được UNESCO công nhận là di
sản phi vật thể đại diện cho nhân loại (2009), trở thành tài nguyên du lịch hấp dẫn.
- Chèo là loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam được xuất phát từ
kinh dô Hoa Lư và phát triển mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ. Chèo là loại hình nghệ thuật
giàu tính dân tộc, mang tính quần chúng và được coi là một loại hình sân khấu của hội
hè với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu
tính tự sự, trữ tình… là đại diện tiêu biểu nhất của sân khấu truyền thống Việt Nam.
- Hát xẩm, một loại hình dân ca đặc trưng của miền Bắc Việt Nam, phổ biến ở
đồng bằng sông Hồng, thường được thể hiện bằng những người khiếm thị đi hát rong.
Hiện nay, tỉnh Ninh Bình, nơi có nghệ nhân hát xẩm nổi tiếng cuối cùng đang đệ trình
UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới cần được bảo vệ khẩn cấp. Đây cũng là
tiềm năng phát triển du lịch gắn với các giá trị văn minh sông Hồng.
Ngoài ra vùng ĐBSH&DHĐB còn rất giàu các làn điệu dân ca khác gắn với dàn
nhạc cụ dân tộc với đàn bầu, đàn nguyệt, đàn chanh, nhị, sáo trúc, trống thường có sức
hấp dẫn rất lớn đối với du khách. Hát dân ca Bắc Bộ đặc biệt phát triển và đã trở thành
một hình thức sinh hoạt cộng đồng, trở thành các ngày hội phổ biến trong năm.
Vùng ĐBSH&DHĐB cũng nổi tiếng về các điệu múa dân gian, múa rối nước,
múa rồng, múa lân, múa cung kiếm. Có nhiều phường múa đã hình thành và nổi danh
từ thời nhà Lý như phường múa rối cổ truyền ở làng Nguyễn, Nguyên Xá, Đông Hưng
(Thái Bình), phường rối Nam Chấn (Nam Hà), Tế Tiêu (Hà Đông)
Nhìn chung ca múa nhạc dân tộc thường gắn với lễ hội truyền thống và các di
Bên cạnh làng nghề truyền thống, các làng Việt cổ là sự thể hiện sinh động bản
sắc văn hóa của nền văn minh lúa nước sông Hồng. Đây là nguồn tài nguyên du lịch
nhân văn độc đáo, hấp dẫn khách du lịch. Điển hình, có thể kể đến làng Đường Lâm,
làng Láng, Đông Ngạc (Hà Nội), Trường Yên (Ninh Bình), Mạn Xuyên (Hưng Yên)…
2.2.6. Các bảo tàng và cơ sở văn hóa nghệ thuật
a) Bảo tàng: Vùng ĐBSH&DHĐB là nơi có những trung tâm kinh tế và văn hóa
lớn, đặc biệt là thủ đô Hà Nội. Có thể nói Hà Nội là nơi tập trung đầy đủ nhất những
tinh hoa văn hóa nghệ thuật của cả nước.
Ở Thủ đô Hà Nội có những bảo tàng thuộc loại lớn nhất nước: Bảo tàng Hồ Chí
Minh, Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Quân đội, Bảo tàng Phụ nữ, Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo
tàng Địa chất, Bảo tàng Dân tộc học, Làng văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt
Nam Khách du lịch đặc biệt là khách nội địa khi đến Hà Nội thường không quên đến
thăm khu lưu niệm về Bác Hồ, một quần thể gồm Lăng, nơi ở và làm việc của Người
và Bảo tàng. Ngoài ý nghĩa là một khu di tích lịch sử có tầm quan trọng bậc nhất, đây
còn là một quần thể kiến trúc nghệ thuật đặc sắc của Thủ đô.
Bảo tàng Dân tộc học là bảo tàng khá hiện đại của cả nước về dân tộc học, nơi
trưng bầy đầy đủ hình ảnh của 54 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt
Nam hiện đang rất được du khách khen ngợi.
Bên cạnh đó, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam mới được khánh
thành và đưa vào sử dụng, là nơi tập trung tái hiện, gìn giữ, phát huy và khai thác các
di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam. Đây là nơi được Nhà nước đặc
biệt đầu tư cơ sở hạ tầng, khu các làng dân tộc Việt Nam, tái hiện cuộc sống của các
dân tộc với mục tiêu xây dựng một trung tâm du lịch, dịch vụ, nghỉ ngơi, vui chơi giải
trí có quy mô lớn, đồng bộ tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, khai thác các lợi thế sẵn có
về tài nguyên văn hóa, thiên nhiên tạo động lực cho sự phát triển bền vững, phục vụ
nhu cầu tham quan, nghiên cứu của nhân dân trong nước và du khách quốc tế.
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐBSH&DHĐB ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH – 58,KIM MÃ - HÀ NỘI: TEL.37343131. FAX.8240407
15
bờ tre, rặng trúc. Và cho dù mỗi làng có những lệ riêng của mình, nhưng cũng không
vượt ra khỏi những quan niệm chung nhất về ý thức hệ. Các tư tưởng chung được thể
hiện trong một loạt quan niệm cơ bản như: uống nước nhớ nguồn; đất lề quê thói; tôn
sư trọng đạo; tiên học lễ, hậu học văn; đói cho sạch, rách cho thơm Chính tất cả điều
đó đã tạo nên bản sắc văn hóa đặc trưng của người Việt, là điểm hấp dẫn du khách.
Ngày nay, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, những quan niệm về giá trị
trong quan hệ kinh tế hàng hóa đã và đang xâm nhập vào các góc độ khác nhau của đời
sống xã hội và có nguy cơ làm mai một đi những nét đẹp truyền thống của nền văn hóa
dân tộc. Thêm vào đó sự mở cửa đã tạo điều kiện để phát triển giao lưu văn hóa, cùng
với nó là sự xâm nhập của những lối sống hiện đại, trong đó không ít những điều xa lạ
và độc hại, gây ảnh hưởng không tốt, nhất là đối với lớp trẻ.
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐBSH&DHĐB ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH – 58,KIM MÃ - HÀ NỘI: TEL.37343131. FAX.8240407
16
2.3. Hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch
2.3.1. Hiện trạng khai thác: Sự phát triển du lịch của vùng ĐBSH&DHĐB trong
thời gian qua ngoài các yếu tố về cơ chế chính sách, về sự cải thiện các điều kiện hạ
tầng cơ sở, cơ sở vật chất kỹ thuật và sự lớn mạnh của đội ngũ cán bộ, công nhân lao
động ngành, luôn gắn liền với việc khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch hết sức đa
dạng và phong phú của vùng.
Ngoài việc khai thác tài nguyên tại các điểm du lịch truyền thống như Hạ Long,
Đồ Sơn, Ba Vì, Tam Đảo nhiều tiềm năng du lịch của vùng ĐBSH&DHĐB đang
được tiếp tục mở rộng khai thác như vườn quốc gia Cát Bà, cố đô Hoa Lư, Tam Cốc-
Bích Động, cụm di tích thắng cảnh Tràng An, hồ Đồng Mô, Ao Vua, Ba Vì - Suối Hai,
hồ Đại Lải, hồ Tam Chúc.v.v Có thể nói, trong những năm gần đây tiềm năng tài
nguyên du lịch của vùng đang thu hút sự quan tâm không chỉ của các nhà du lịch mà
còn của các nhà hoạch định kinh tế nói chung. Điều này đã thúc đẩy sự phát triển của
vùng ĐBSH&DHĐB, góp phần tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển
kinh tế - xã hội vùng.
2.3.2. Các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình khai thác tài nguyên: Trong quá
trình khai thác tài nguyên du lịch hiện nay trên địa bàn vùng đã nảy sinh những vấn đề
phức tạp mâu thuẫn nhau giữa các ngành:
- Mối quan hệ giữa ngành Du lịch và ngành Lâm nghiệp trong việc khai thác các
tài nguyên sinh vật, đặc biệt tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên.
- Mối quan hệ giữa ngành Du lịch và ngành Công nghiệp trong khai thác tài
nguyên khoáng sản, vật liệu xây dựng. Việc khai thác đá tại các khu vực núi karst có
hang động (Ninh Bình, Hà Nam, Hạ Long ) hoặc có cảnh quan đẹp (hệ thống đảo ven
bờ Hạ Long) khai thác than tại Hòn Gai, khai thác san hô tại các đảo ven bờ, vịnh Hạ
Long vừa huỷ hoại tài nguyên du lịch, vừa ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, làm
giảm đi đáng kể sức hấp dẫn của những khu vực có tiềm năng du lịch lớn, thậm chí rất
lớn như vịnh Hạ Long.
- Mối quan hệ giữa ngành Du lịch và ngành Thủy lợi thể hiện trong việc khai
thác các hồ chứa nước lớn. Phần lớn các hồ nước trên địa bàn vùng đều là hồ thuỷ lợi,
vì vậy có những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình khai thác du lịch trên mặt hồ.
- Mối quan hệ giữa ngành Du lịch và ngành Văn hóa thể hiện trong khai thác
phát triển du lịch với công tác bảo tồn các giá trị văn hoá, các di tích.
Những vấn đề nảy sinh trong quá trình khai thác tài nguyên du lịch giữa ngành
Du lịch và một số ngành kinh tế khác là tất yếu vì thường trong quy hoạch phát triển
ngành trong phạm vi lãnh thổ tỉnh, khu vực hoặc vùng, lợi ích của ngành sẽ được đặt
lên trên, mặc dù trong một số trường hợp các dự án chưa được nghiên cứu một cách
toàn diện với sự tham gia của các ngành có liên quan. Vấn đề này sẽ chỉ được giải
quyết khi có được một quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội trên quan điểm
khai thác tối ưu tiềm năng tài nguyên, đảm bảo sự phát triển bền vững gắn với cảnh
quan môi trường và bảo vệ những di sản thiên nhiên, lịch sử văn hóa của đất nước.
3. Hệ thống kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
3.1. Hệ thống giao thông
Vùng ĐBSH&DHĐB có hệ thống giao thông phát triển thuộc diện nhất nước và
hội tụ đầy đủ các loại hình giao thông đường bộ, đường thủy (sông và biển), đường sắt
và đường không, thuận lợi cho việc liên kết phát triển du lịch.
đường ô-tô cao tốc loại A dài 105,5 km từ Thủ đô Hà Nội qua Hưng Yên, Hải
Dương tới thành phố cảng Hải Phòng.
Quốc lộ 2, Quốc lộ 5A (AH 14) là trục xuyên Á thuộc hành lang kinh tế Hải
Phòng-Hà Nội-Lào Cai-Côn Minh, một trong hai hành lang kinh tế quan trọng giữa
Việt Nam và Trung Quốc có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển du lịch vùng. Trên
cơ sở không gian hành lang kinh tế các địa phương trong vùng có thể hợp tác phát
triển du lịch với các địa phương của Trung Quốc thông qua hệ thống giao thông, cửa
khẩu đường bộ, hệ thống sân bay, cảng biển.v.v
- Đường nối thành phố Hạ Long với đường cao tốc 5B Hà Nội - Hải Phòng:
Đường nối Hạ Long với đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng có tổng chiều dài tuyến
hơn 25 km, điểm đầu tại Km 0+000 giao với Km 102+400 Quốc lộ 18 thuộc phường
Đại Yên (Hạ Long) và điểm cuối tại Km 25+214 giao với dự án đường cao tốc Hà Nội
- Hải Phòng, chiều rộng đường 4 làn xe.
- Quốc lộ 6 (AH13): Nối Hà Nội với các tỉnh vùng núi Tây Bắc là Hòa Bình, Sơn
La và Điện Biên.
- Quốc lộ 10: Là tuyến đường chạy dọc theo vùng duyên hải qua 6 tỉnh và thành
phố: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và Thanh Hóa, tổng
chiều dài 228 km. Mặt đường rộng 12 m, chất lượng tốt, bảo đảm lưu thông thuận tiện.
- Quốc lộ 18: Nối 2 cực của tam giác tăng trưởng kinh tế phía Bắc là Hà Nội và
Quảng Ninh, đây là một tuyến quan trọng nối sân bay quốc tế Nội Bài và khu công
nghiệp tập trung Nội Bài với khu du lịch nổi tiếng Hạ Long và cảng nước sâu Cái Lân,
cửa khẩu quốc tế đường bộ Móng Cái (Quảng Ninh).
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐBSH&DHĐB ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH – 58,KIM MÃ - HÀ NỘI: TEL.37343131. FAX.8240407
19
- Quốc lộ 21: Nối Nam Định - Hà Nam - Hà Nội (nối với đường Hồ Chí Minh);
Quốc lộ 21B, trục đường nối trung tâm thủ đô (tiếp giáp quốc lộ 6) với khu thắng cảnh
Hương Sơn (Mỹ Đức).
- Quốc lộ 32: Nối Hà Nội với vùng Tây Bắc qua Phú Thọ, từ đó có thể kết nối
Giao thông đường sắt là phương tiện vận chuyển quan trọng, một trong những
điều kiện để liên kết vùng và liên kết quốc tế phát triển du lịch. Đặc biệt là tuyến
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐBSH&DHĐB ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH – 58,KIM MÃ - HÀ NỘI: TEL.37343131. FAX.8240407
20
đường sắt xuyên Á, với định hướng phát triển mới sẽ tạo điều kiện thuận lợi để kết nối
du lịch vùng ĐBSH&DHĐB với các nước trong khối ASEAN và Trung Quốc.
3.1.3. Đường không: Hiện nay ở vùng ĐBSH&DHĐB có các sân bay sau:
- Sân bay quốc tế Nội Bài (Hà Nội) cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 30 km
với khả năng chuyên chở 2 - 3 triệu hành khách và 20.000 tấn hàng hóa/năm.
- Sân bay Gia Lâm cách trung tâm Hà Nội khoảng 4 km, dùng cho máy bay vận
tải và máy bay nhỏ.
- Sân bay Cát Bi (Hải Phòng) hiện đã đi vào hoạt động và tháng 8/2006 đã được
phép tổ chức các chuyến bay quốc tế nối Hải Phòng với Ma Cao (Trung Quốc) đang
tiếp tục được đầu tư nâng cấp đón các chuyến bay quốc tế.
Ngành hàng không nói chung và các sân bay ở vùng ĐBSH&DHĐB nói riêng đã
có những bước tiến bộ và phát triển đáng kể. Các tuyến bay trong nước và quốc tế
được mở rộng, các chuyến bay được tăng cường. Những tiến bộ nói trên đã đáp ứng
kịp thời yêu cầu phát triển du lịch của vùng và tạo ra tiền đề mở rộng khai thác các
nguồn khách du lịch quốc tế đến Việt Nam.v.v
Tuy nhiên, đến nay nhìn chung hạ tầng kỹ thuật hàng không còn lạc hậu so với
các nước trong khu vực và chưa đáp ứng được những nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội
nói chung và du lịch nói riêng trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.
Việc mở rộng Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, đủ khả năng phục vụ 25 triệu
hành khách mỗi năm vào năm 2020; hoàn thành nâng cấp sân bay Cát Bi theo quy
hoạch, đến năm 2015, Cảng hàng không quốc tế Cát Bi sẽ đón 2 triệu hành khách một
năm và xây dựng mới sân bay Vân Đồn năm 2015 với năng lực vận chuyển khoảng 6
triệu khách/ năm là những cơ hội đối với phát triển du lịch vùng.
3.1.4. Đường thủy: Vùng ĐBSH&DHĐB có hai loại hình giao thông thủy là giao
Thực tế trong những năm qua Việt Nam đã đón nhiều tàu du lịch lớn cập các cảng Hạ
Long, Hải Phòng.
Các cảng biển quan trọng bao gồm cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân, cảng Hòn
Gai, trong đó cảng Hải Phòng và cảng Cái Lân là cảng biển nước sâu, quốc tế, có khả
năng cấp được tàu trọng tải lớn. Cảng tàu du lịch Hòn Gai (Hạ Long) hiện đã quá tải
và đang được nâng cấp. Cảng tàu du lịch Tuần Châu hiện đón được 100 tàu thuyền
cùng một lúc và đã được quy hoạch thành cảng tàu hiện đại nhất thế giới.
Như vậy, giao thông đường biển qua cảng Hải Phòng và Hạ Long đang phát huy
được vai trò đón khách du lịch đến vùng ĐBSH&DHĐB bằng đường biển. Tuy nhiên
so với tiềm năng và nhu cầu hạ tầng du lịch đường biển của vùng ĐBSH&DHĐB còn
chưa đáp ứng nhiều.
3.1.5. Hệ thống cửa khẩu: Vùng ĐBSH&DHĐB có thuận lợi lớn có nhiều cửa
khẩu quan trọng để đưa đón khách du lịch nước ngoài. Sân bay quốc tế Nội Bài (Hà
Nội) là cửa khẩu hàng không quốc tế đã được xây dựng hiện đại, quy mô có thể vận
chuyển 2 - 3 triệu lượt khách/năm. Cảng Hải Phòng là cảng lớn thứ hai trong cả nước,
sau cảng Sài Gòn, dư sức tiếp nhận và tiễn đưa hàng chục ngàn khách du lịch vận
chuyển bằng đường biển. Cửa khẩu biên giới đường bộ Móng Cái nằm trên tuyến
đường liên vận quốc tế (AH14) nối liền giữa Viêt Nam và Trung Quốc.
Bên cạnh đó, do tiếp giáp với vùng Trung du miền núi Bắc Bộ nên vùng có sự
ảnh hưởng của hệ thống cửa khẩu biên giới đường bộ với Trung Quốc, trong đó có hai
cửa khẩu quan trọng là Lào Cai (Lào Cai) và Hữu Nghị (Lạng Sơn).
3.2. Cung cấp điện
Đây là vùng tập trung các nhà máy điện lớn như nhiệt điện Phả Lại, nhà máy
nhiệt điện Ninh Bình, Những năm gần đây sản lượng điện được tăng lên không
ngừng và chất lượng điện cung cấp cũng tốt hơn, cùng với việc phát triển mạng lưới
điện rộng khắp đã đảm bảo vững chắc nguồn điện phục vu cho các ngành và các địa
phương trong vùng, trong đó có hoạt động du lịch
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐBSH&DHĐB ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH – 58,KIM MÃ - HÀ NỘI: TEL.37343131. FAX.8240407
- Vùng Đông Triều, Uông Bí nguồn nước ngầm phong phú.
Chỉ có một số vùng như Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên trữ lượng nước ngầm
ít, phải sử dụng chủ yếu nguồn nước mặt.
Xét về nguồn nước cung cấp vùng ĐBSH&DHĐB có thể sử dụng cả hai nguồn
nước mặt và nước ngầm, trữ lượng và chất lượng đủ khả năng cung cấp lâu dài cho
nhu cầu sinh hoạt của dân cư, khách du lịch và sản xuất.
3.3.2. Hiện trạng cung cấp nước sạch
a) Khả năng cung cấp nước sạch: Nước sạch đang là một vấn đề lớn đang được
quan tâm nghiên cứu trên toàn lãnh thổ vùng ĐBSH&DHĐB.
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG ĐBSH&DHĐB ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH – 58,KIM MÃ - HÀ NỘI: TEL.37343131. FAX.8240407
23
Nguồn cung cấp nước chủ yếu là dùng nguồn nước mặt, chỉ có thành phố Hà Nội
chủ yếu là dựng nguồn nước ngầm. Khoảng 80% dân cư vùng nông thôn và đô thị nhỏ
dùng nguồn nước sông, hồ tự nhiên và giếng đào.
Thủ đô Hà Nội có 9 nhà máy nước trong đó có 8 nhà máy lớn công suất từ
25.000 m
3
/ngày đêm đến 60.000 m
3
/ngày đêm với công nghệ tương đối đảm bảo
(giếng khoan - dàn mưa - bể lọc - bể chứa - khử trùng). Tổng công suất cung cấp nước
sạch gần 400.000 m
3
/ngày đêm. Tình hình cung cấp nước sạch đã được cải thiện nhiều
so với vài năm trước đây.
Khả năng cấp nước sinh hoạt các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng mới đạt
100-120 lít/người/ngày, còn các thành phố khác trung bình từ 60 - 80 lít/người/ngày
v.v Với tốc độ đô thị hóa và phát triển kinh tế hiện nay việc cung cấp cho nhu cầu
VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH – 58,KIM MÃ - HÀ NỘI: TEL.37343131. FAX.8240407
24
- Thiết lập mạng VSAT, qua đó tạo điều kiện cho khách hàng có thể sử dụng
thông tin vệ tinh ở bất kỳ địa điểm nào trên lãnh thổ Việt Nam.
- Nâng cấp hệ thống cáp quang biển, nâng số kênh khai thác lên nhiều lần.
- Cải thiện các bưu cục, nâng số máy bình quân trên 100 dân.
- Đa dạng hóa các dịch vụ bưu chính viễn thông.
4. Các nguồn lực khác
4.1. Nguồn nhân lực
Dân số vùng ĐBSH&DHĐB đông nhất so với các vùng khác trên cả nước. Năm
2011, ước cả vùng có hơn 20 triệu dân, trong đó có trên 60% ở tuổi lao động. Đây là
nguồn lực rất quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và cho phát triển du
lịch nói riêng của. Trình độ dân trí vùng khá cao, ngoài nguồn nhân lực dồi dào vùng
cũng là khu vực lao động có trình độ tay nghề cao nhất trên cả nước. Đây cũng là khu
vực có thế mạnh nhất về phát triển nguồn nhân lực, với hàng trăm viện nghiên cứu
chuyên ngành, các trường đại học, cao đẳng, các trường dạy nghề, đã tạo nên thế mạnh
đối với việc phát triển các sản phẩm chủ lực trong các lĩnh vực nông nghiệp, công
nghiệp như: sản phẩm lúa gạo, cây ăn quả, thủy sản, gia cầm; cơ khí chế tạo, điện tử,
công nghiệp hóa chất và chế biến khoáng sản.
Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ, vì vậy nhu cầu về nhân lực là rất cần thiết. Căn
cứ Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực du lịch đã được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt, dự báo nhu cầu nguồn nhân lực du lịch đến năm 2020 khoảng trên 4 triệu, trong
đó khoảng 1,5 triệu là lao động trực tiếp. Nhu cầu này được phân bổ không đồng đều
theo lãnh thổ mà sẽ tập trung ở các trọng điểm du lịch như ở vùng ĐBSH&DHĐB.
Kết quả điều tra dân số cho thấy ở những trọng điểm du lịch gắn với các đô thị
lớn như thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh.v.v…tập trung dân số cao, các tỉnh
vùng sâu vùng xa dân số ít và mật độ thấp. Sự phân bố này khá phù hợp với nhu cầu
nhân lực cho phát triển du lịch và đây là nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch
thời gian qua và cho giai đoạn tới đến năm 2020.
4.2. Hệ thống cơ chế, chính sách
TRIỂN DU LỊCH VÙNG (2000 - 2011)
1. Vị trí, vai trò của du lịch vùng ĐBSH&DHĐB
Thời gian qua, du lịch vùng ĐBSH&DHĐB phát triển và ngày càng khẳng định
vị trí quan trong đối với phát triển kinh tế-xã hội của các tỉnh trong vùng và vai trò
động lực đối với du lịch cả nước, thể hiện qua các mặt sau:
1.1. Vị trí, vai trò du lịch vùng đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng
1.1.1. Vị trí của ngành du lịch: Nhờ có tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng và
nổi trội thời gian qua du lịch các địa phương trong vùng phát triển phát triển với tốc độ
nhanh. Du lịch phát triển và ngày càng khẳng định là ngành kinh tế có vị trí quan trọng
trong cơ cấu kinh tế chung của địa phương. Các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Quảng
Ninh, Ninh Bình, Hải Phòng, Vĩnh Phúc tỷ trọng ngành du lịch trong khối dịch vụ và
trong cơ cấu kinh tế chung đạt cao. Các địa phương khác, tuy mức độ đóng góp so với
GDP toàn tỉnh còn khiêm tốn những đã có bước chuyển dịch và đang từng bước được
tăng lên.
1.1.2. Vai trò của ngành du lịch
- Du lịch vùng ĐBSH&DHĐB phát triển góp phần tăng trưởng và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế cho các tỉnh trong vùng: Phát triển du lịch sẽ thu hút khách du lịch đến
vùng, tăng nguồn thu từ khách du lịch, tăng giá trị GDP du lịch trong cơ cấu kinh tế
của các tỉnh. Thực tế hiện nay, GDP du lịch tăng nhanh, từng bước được khẳng định là
ngành có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của mỗi địa phương trong vùng.
- Du lịch vùng ĐBSH&DHĐB phát triển góp phần giải quyết việc làm, nâng cao
đời sống vật chất cho cộng đồng dân cư và công tác xoá đói giảm nghèo: Phát triển du
lịch vùng, ngoài việc thu hút lực lượng lao động trực tiếp, sẽ lôi kéo theo một lượng
lớn lao động gián tiếp ngoài xã hội nhờ sự xuất hiện những ngành nghề phục vụ du