LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho em được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Thạc sỹ
Phạm Thị Dương. Cô đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành bài
luận văn tốt nghiệp này.
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo ngành Kỹ thuật
môi trường và toàn thể các thầy, cô của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã
dìu dắt, dạy dỗ em suốt những năm học ở trường.
Em xin trân trọng cám ơn các lãnh đạo cùng toàn thể các anh chị phòng
Tài nguyên Môi trường huyện Vĩnh Bảo đã tạo điều kiện và giúp em rất nhiều
trong việc thu thập thông tin, số liệu để em hoàn thành bài luận văn.
Hải Phòng, ngày…. tháng…. năm
2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Hoài Phương
1
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
CTR
Chất thải rắn
ĐTM
Đánh giá tác động môi trường
EPD
Bảng 2.1. Thành phần chất thải sinh hoạt tại
huyện Vĩnh Bảo năm 2010
Bảng 2.2. Khối lượng rác thải sinh hoạt tại huyện
Vĩnh Bảo
Bảng 2.3. Mô hình hoạt động và phương tiện thu
gom rác thải
4
3
4
5
21
23
27
DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hình
Tên hình
3
Trang
1
2
Hình 1.1. Sơ đồ hệ thống tổ chức quản lý chất thải
dịch vụ của huyện tương đối phát triển. Các chợ, quán ăn, dịch vụ phục vụ
người dân ngày càng phong phú đa dạng. Cùng với quá trình đó là sự phát sinh
rác thải sinh hoạt ngày càng nhiều. Trong khi đó, biện pháp quản lý rác thải tại
địa phương chưa được quan tâm đúng mức, nguồn kinh phí đầu tư cho công tác
thu gom và xử lý chưa cao.
Để có thể tìm hiểu thực trạng quản lý chất thải rắn và đưa ra các giải pháp
quản lý chất thải rắn hiệu quả cao hơn, vì vậy em xin chọn đề tài:
“Đánh giá hiện trạng quản lý và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng”.
2.
Mục đích nghiên cứu
• Điều tra số lượng, thành phần của chất thải rắn thải sinh hoạt trên địa
•
bàn huyện Vĩnh Bảo.
Điều tra công tác quản lý, thu gom, vận chuyển.
5
•
3.
4.
Đề xuất một số biện pháp quản lý rác thải sinh hoạt nhằm góp phần
giảm thiểu môi trường.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6
5.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Đề tài đã cung cấp một cơ sở khoa học phục vụ cho
công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt huyện Vĩnh Bảo trong giai
đoạn hiện nay.
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài đưa ra giải pháp nhằm :
- Thu gom hiệu quả triệt để chất thải rắn sinh hoạt hàng ngày, đồng thời
phân loại chất thải rắn tại nguồn.
- Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương, góp
phần cải thiện môi trường và sức khỏe cộng đồng.
7
1.1.
1.1.1.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
Khái quát về chất thải rắn sinh hoạt
Khái niệm chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt là CTR liên quan đến hoạt động sinh hoạt của con
người, nguồn gốc tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học,
trung tâm dịch vụ, thương mại. CTR sinh hoạt có thành phần bao gồm thực
phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, vỏ, rau, quả, kim loại, sành sứ, thủy tinh,
lượng
Độ ẩm (%)
Trọng lượng
riêng
(kg/m3)
T
Chất thải thực phẩm
Khoảng Trung
KGT TB
giá trị
bình
6 - 25
15
50 - 80 70
12 - 80
28
Giấy
24 - 45
40
2
32 - 128
64
Vải vụn
0-4
2
6 - 15
10
32 - 96
64
Cao su
Da vụn
0-2
0-2
0,5
0,5
1-4
15 - 40
20
128- 1120
240
Thủy tinh
4 - 16
8
1- 4
2
160 - 480
193,6
Can hộp
2-8
6
2-4
128- 1120
320
Bụi, tro, gạch
0 - 10
4
6 - 12
8
320 - 960
480
100
15 - 40
20
180 - 420
300
Tổng
tình trạng phân hủy của chất thải. Giá trị khả năng giữ ẩm của chất thải
sinh hoạt chưa nén 50 – 60 % thể tích [3].
d) Độ thấm của chất thải
- Độ thấm của chất thải ảnh hưởng tới sự chuyển động của lỏng và khí
trong bãi chôn lấp [3].
1.1.1.1.4.2.
Tính chất hóa học
-
Các nguyên tố cơ bản trong thành phần CTR sinh hoạt bao gồm: cacbon
(C), hidro (H), oxi (O), nitơ (N), lưu huỳnh (S) và tro. Các nguyên tố thuộc
nhóm halogen cũng được xác định do các dẫn xuất của clo (Cl) thường tồn tại
trong thành phần khí thải khi đốt rác.
Bảng 1.2. Thành phần hóa học của các hợp phần cháy được của
chất thải rắn [2]
Phần trăm khối lượng khô (%)
Hợp phần
cacbon
hidro
Chất thải thực
phẩm
Giấy
48,0
Chất hữu cơ
5,0
44,0
0,3
0,2
6,0
44,6
22,8
0,3
-
0,2
-
5,0
10,0
Phần trăm khối lượng khô (%)
Hợp phần
cacbon
hidro
8,0
6
11,6
38,0
Gỗ
49,5
6
42,7
lưu
huỳnh
0,15
tro
2,5
-
10,0
10,0
3,4
0,4
0,3
4,3
< 0,1
-
90,5
Bụi, tro
26,3
3,0
2,0
0,5
0,2
68
Tính chất sinh học
Ngoại trừ nhựa, cao su và da, các chất hữu cơ trong CTR sinh hoạt có
thể phân loại như sau:
• Các chất hòa tan trong nước như: đường, tinh bột, amino axit và các
1.1.2.1.4.3.
-
thái trong ao hồ bị phá hủy. Dẫn đến môi trường nước bị ô nhiễm [3].
1.2.2.
-
1.2.3.
Ảnh hưởng đến môi trường không khí
Khí thoát ra từ các hố hoặc các bãi làm phân, bãi chôn lấp rác, khí từ các
lò thiêu gây ô nhiễm môi trường không khí và gây mùi khó chịu. Chất thải
rắn sinh hoạt chứa một lượng lớn các chất hữu cơ, khi phân hủy sẽ tạo ra
các chất nguy hại như: H2S, NH3, CH4, CO2….[3]
Bụi sinh ra trong quá trình thu gom, vận chuyển, chôn lấp rác chứa các vi
trùng, các chất độc hại lẫn trong rác [3].
Ảnh hưởng đến môi trường đất
Chất thải rắn sinh hoạt vứt bừa ra đất hoặc chôn vào đất chứa các chất
độc hại và chứa một lượng lớn các chất hữu cơ, khi phân hủy chúng sẽ làm cho
đất bị đổi màu, xói mòn, thay đổi thành phần của đất, làm cho đất bị xói mòn và
làm giảm chất lượng đất. Ngoài ra, chúng còn làm hạn chế quá trình phân hủy,
tổng hợp các chất dinh dưỡng, làm giảm độ phì nhiêu của đất. Các loại chất thải
khó phân hủy hay hoàn toàn không bị phân hủy sẽ tồn tại lâu trong đất, làm
lượng vi sinh vật có trong đất giảm đi, dẫn đến đất bị bạc màu và không canh tác
được [3].
Bãi rác còn là nơi sinh sống của các loài côn trùng gặm nhấm, các loài
này di động mang các vi trùng gây bệnh truyền cho cộng đồng.
-
-
1.2.4. Ảnh hưởng tới cảnh quan và sức khỏe cộng đồng
dụng các sản phẩm tái chế bằng cách xác định rõ trách nhiệm của các bên liên
quan. Hiện nay, tại các thành phố của Nhật Bản chủ yếu sử dụng công nghệ đốt
để xử lý nguồn phân rác khó phân hủy. Các hộ gia đình được yêu cầu phân chia
rác thành: rác hữu cơ dễ phân hủy, được thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy
sản xuất phân compost, góp phần cải tạo đất, giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập
khẩu phân bón, loại rác không cháy được như các loại vỏ chai, hộp… được đưa
đến nhà máy phân loại để tái chế, loại rác khó tái chế hoặc hiệu quả không cao,
nhưng cháy được sẽ đưa đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng. Các loại rác
này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắc khác nhau và các hộ
gia đình phải tự mang ra điểm tập kết rác của cụm dân cư vào giờ quy định. Đối
với những loại rác có kích thước lớn như tủ lạnh, máy điều hòa, ti vi,…thì phải
đăng kí trước và đúng ngày quy định sẽ có xe của Công ty môi trường đến
chuyên chở [7].
Ngoài ra, chính quyền tại các địa phương Nhật Bản còn tổ chức các chiến
dịch “ xanh, sạch, đẹp ” tại các phố, phường, nhằm nâng cao nhận thức của
người dân, chương trình này đã được đưa vào trường học hiệu quả [7].
b)
Hồng Kông
Hồng Kông là thành phố đông đúc và náo nhiệt với dân số 6,9 triệu
người, là một trong những khu vực có mật độ dân cư lớn nhất thế giới, mỗi ngày
13
thải ra khoảng 7.700 tấn chất thải. Cơ quan bảo vệ môi trường Hồng Kông
(EPD) đã phân các chất thải thành nhiều loại khác nhau, mỗi loại chất thải đòi
hỏi phải có phương pháp xử lý riêng. Ở Hồng Kông, EPD quản lý các phương
tiện thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy các loại chất thải. Mô hình quản lý
chất thải này dựa trên điều kiện môi trường đô thị đặc trưng với khoảng không
14
Xử lý chất thải
Những thành phố tự chịu trách nhiệm thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt
và các loại chất thải tương tự. Trừ các chất thải sinh hoạt mà các nhà sản xuất
chịu trách nhiệm (như bao bì đóng gói, giấy báo, lốp xe, ô tô và chất thải từ các
sản phẩm điện và điện tử). Đối với chất thải khác, trách nhiệm tùy thuộc vào cơ
sở sản xuất, kinh doanh, nơi chất thải phát sinh [5].
Chôn lấp
Lượng chất thải sinh hoạt được đem đi chôn lấp giảm xuống rõ rệt và năm
2014 là 0,38 triệu tấn. Cho đến thời hiện nay, lần đầu tiên lượng chất thải được
đưa đi chôn lấp chiếm gần 10% [5].
Xử lý sinh học
Trong năm 2014, 10,4% (0,43 triệu tấn) chất thải sinh hoạt phải qua quá
trình xử lý sinh học. Lượng chất thải được phân loại tại nguồn gồm: 0,11 triệu
tấn chất thải thực phẩm, 0,14 triệu tấn chất thải xanh (ở các công viên và các
khu vườn), 18.000 tấn chất thải sinh hoạt được tách tại nguồn và ước tính có
70.000 tấn chất thải sinh hoạt được ủ phân tại nhà. Có khoảng 48 kg chất thải
sinh học/người (gồm chất thải xanh và chất thải thực phẩm) được xử lý [5].
Hiện nay, 110 thành phố tự trị cho phép công dân của họ phân loại chất
thải thực phẩm để sử lý tập trung. Trong đó, 20–30% lượng chất thải trong thùng
và túi đựng từ các hộ gia đình được phân loại. Khoảng 43% chất thải của các hộ
gia đình gồm cả chất thải thực phẩm và 7% chất thải vườn. Hệ thống thu gom
phổ biến nhất cho những ngôi nhà riêng là hai thùng rác khác nhau, một thùng
dùng để đựng chất thải sinh học và một thùng dùng để đựng các loại chất thải
khác. Hệ thống thu gom phổ biến tiếp theo là phân loại bằng trực quan, các túi
nilon có màu sắc khác nhau được đặt trong thùng rác tương tự, thường đặt trong
ba thùng khác nhau [5].
Biến chất thải thành năng lượng
pháp luật bảo vệ môi trường, và các quy định có liên quan đến công
nghiệp (trong đó bao gồm cả vấn đề chất thải rắn công nghiệp). Thực
hiện chức năng quản lý Nhà nước về phát triển công nghiệp – tiểu thủ
công nghiệp, hoạt động “ khuyến công ” khu – cụm – điểm công
nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ ở các địa phương.
Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý
và bảo vệ môi trường nói chung. Chịu trách nhiệm quản lý chất thải
nguy hại và phối hợp với các bộ, ban ngành hướng dẫn quy định, quy
chuẩn về quản lý chất thải rắn, xây dựng kế hoạch quản lý chất thải rắn
hàng năm và dài hạn, xây dựng chính sách và chiến lược kế hoạch và
phân bổ ngân sách, nghiên cứu và phát triển các dự án xử lý chất thải
và phê duyệt các báo cáo ĐTM (Đánh giá tác động môi trường).
Các bộ, ban ngành khác có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ trong công tác
đầu tư tài chính, xây dựng các cơ chế ưu đãi về kinh tế thúc đẩy hoạt
động quản lý chất thải (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính) hướng
dẫn tuyên truyền phổ cập về quản lý chất thải rắn (Bộ Thông tin và
Truyền thông) hay phối hợp với Bộ Xây dựng thẩm định công nghệ xử
lý chất thải rắn mới được triển khai (Bộ Khoa học và Công nghệ).
Ngoài ra, các bộ quản lý chuyên ngành còn có trách nhiệm xây dựng
định hướng xã hội hóa công tác quản lý chất thải rắn, hướng dẫn các
tiêu chí về quy mô tổ chức, tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động của các
cơ sở thực hiện xã hội hóa.
16
Bộ Công thương
Bộ TN & MT
Bộ Xây dựng
nghiệp
và nông
thôn
CTR
làng
nghề
: Quan hệ trực tiếp
: Quan hệ gián tiếp
: Quan hệ tài chính
Hình 1.1. Sơ đồ hệ thống tổ chức quản lý chất thải rắn Trung ương
[4]
b)
Cấp địa phương
17
Các hợp phần chức năng quản lý quản lý chất thải rắn ở một số đô thị lớn
tại Việt Nam được thể hiện như sau [4]:
Bộ Tài Nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm vạch chiến lược cải thiện
môi trường chung cho cả nước. Tham mưu cho Chính phủ trong việc đề xuất
luật lệ chính sách quản lý môi trường quốc gia.
Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường, các
quận huyện, Sở Giao thông vận tải thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường đô
thị. Chấp hành nghiêm chỉnh quy định chung và luật pháp chung về bảo vệ môi
trường của thành phố.
Công ty Môi trường đô thị là cơ quan trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ xử lý
thiên từ 1 đến 2 m so với mặt nước biển. Nhìn chung địa hình nghiêng từ Tây Tây Bắc đến Đông - Đông Nam nhưng có những khu vực thấp trũng hay gò cao
hơn so với địa hình chung. Có thể chia địa hình toàn huyện thành 3 dạng chính:
- Địa hình có độ cao lớn với độ cao từ 1,5 - 2,2 m, tập trung ở các xã phía
Tây và Tây Bắc của huyện.
- Địa hình có độ cao trung bình tuyện đối từ 1 - 1,5 m, tập trung ở các xã
phía Đông - Đông Nam của huyện.
- Địa hình trũng có độ cao tuyệt đối 1 m phân bổ rải rác ở các khu vực
ngoài đê sông Thái Bình, sông Hóa từ xã Giang Biên đến các xã Trấn Dương,
Cộng Hiền.
Huyện Vĩnh Bảo nằm trong vùng có nền địa chất công trình thuộc loại
yếu của thành phố Hải Phòng. Cấu tạo địa chất điển hình là lớp trầm tích sông
lắng động. Cơ cấu của đất trẻ, chủ yếu là sét, bùn, cát, cường độ chịu tải kém.
Nhìn chung việc xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như xây dựng các công trình khác
ở Vĩnh Bảo không được thuận lợi do phải đầu tư, gia cố nền móng làm tăng giá
thành công trình.
2.1.3. Các nguồn tài
a) Tài nguyên đất
nguyên
Theo nguồn gốc phát sinh thì có thể phân chia đất của huyện thành các
loại chính sau:
+ Đất phù sa (của sông Thái Bình) không được bồi hàng năm có tầng
loang lổ.
+ Đất phù sa (sông Thái Bình) không được bồi hàng năm bị glây.
+ Đất đã bị biến đổi do bị mặn hóa, phèn hóa thành đất chua mặn ở các
mức độ khác nhau.
+ Đất còn lại là diện tích vườn cao tưới nước ở các kênh và ao hồ.
19
Mực nước thủy triều có ảnh hưởng tới mực nước và chất lượng nước
ngầm vùng ven bờ. Nước ngầm ở huyện Vĩnh Bảo nằm ở địa bàn gần cửa sông,
gây ảnh hưởng ít nhiều đến nước ngầm của huyện, nước ngầm có nhiều ion ở
dạng tự do gây ăn mòn và phá hoại công trình.
2.2. Đặc điểm kinh tế 2.2.1. Đặc điểm kinh tế
xã hội
20
Sản xuất nông nghiệp phát triển khá toàn diện, xuất hiện một số mô hình,
cách làm mới, có hiệu quả như: chuyển đổi vùng cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi
trồng thủy sản tập trung theo hướng bán công nghiệp, công nghiệp (điển hình ở
các xã Trấn Dương và Hòa Bình); mô hình liên kết sản xuất tiêu thụ rau màu tập
trung tại các xã phía Bắc huyện.
•
Trồng trọt
Tổng diện tích gieo trồng cây lương thực cả năm 2014 thực hiện được
21.775,1 ha. Được sự đầu tư về giống cũng như kỹ thuật gieo trồng nên sản
lượng lương thực (quy ra thóc) của năm 2014 đạt khá cao là 131.212 tấn. Cơ cấu
giống lúa, mùa vụ có chuyển biến tích cực, chú trọng ứng dụng các tiến bộ khoa
học công nghệ, cơ giới hóa vào sản xuất, năng suất lúa của huyện liên tục đứng
đầu thành phố Hải Phòng.
Việc trồng rau màu đã được nhân dân thực hiện rất tốt, luân canh nhiều
cây trồng đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao như dưa hấu, rau cải các loại,
ngò rí lấy hạt… Rau màu cũng là thế mạnh của nông nghiệp huyện, năm 2014
diện tích trồng rau đậu thực hiện được 3.517,3 ha, sản lượng thu được đạt
76.040 tấn. Các sản phẩm nông nghiệp như ngô, khoai lang, sắn cũng đạt mức
Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp năm 2014 đạt
309.000 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 20,33%; doanh
thu tăng bình quân 34,12%/năm. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có bước
phát triển mới, các khu, cụm công nghiệp đã được phê duyệt quy hoạch với diện
tích trên 1450 ha, đó là các khu, cụm công nghiệp Tân Liên, Giang Biên II, An
Hòa, Vinh Quang; trong đó cụm công nghiệp Tân Liên và điểm công nghiệp tập
trung ở một số xã, thị trấn đã thu hút một số doanh nghiệp đầu tư phát triển sản
xuất kinh doanh; 3 điểm công nghiệp gắn với khu dân cư: Giang Biên - Dũng
Tiến, Vĩnh An, Cầu Nghìn và 1 cơ sở ngành nghề Bảo Hà - Đồng Minh. Cụm
công nghiệp Tân Liên đang hoàn thiện xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu A, hiện đã
có 10 doanh nghiệp đăng ký đầu tư sản xuất kinh doanh, trong đó có 3 doanh
nghiệp đang sản xuất kinh doanh, hiện thu hút khoảng 3.000 công nhân. Một số
điểm công nghiệp tập trung đã đầu tư đi vào sản xuất ở một số địa phương như
thị trấn Vĩnh Bảo và các xã Tam Cường, Trung Lập, An Hòa, Lý Học.
Trên địa bàn huyện xuất hiện thêm nhiều cơ sở sản xuất tập trung quy mô
nhỏ của các gia đình, chủ yếu là dệt, may mũ giày, gia công quần áo, yêu cầu
không cao về vốn đầu tư và trình độ tay nghề của công nhân, thu hút và tạo việc
làm cho người lao động tại địa phương. Tính đến nay, tổng số lao động sản xuất
công nghiệp, thủ công nghiệp tại huyện là trên 18.000 người.
•
Xây dựng
Cơ bảnnăm 2014, huyện đã triển khai thi công 147 hạng mục công trình,
trong đó có 52 công trình chuyển tiếp, 95 công trình khởi công mới, có 92 công
trình hoàn thành đưa vào sử dụng. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn năm
2014 đạt 350.467 triệu đồng (theo giá hiện hành). Nguồn vốn đầu tư xây dựng
cơ bản vẫn tập trung vào xây lắp (190.726 triệu đồng), tiếp đến là thiết bị
- Quốc lộ 10 chạy qua huyện Vĩnh Bảo với chiều dài 14,5 km qua 09 xã
và 01 thị trấn (từ cầu Quý Cao Km 60 + 500 đến Cầu Nghìn). Hiện đã được đầu
tư cải tạo thành đường cấp III đồng bằng và xây dựng hoàn thành các cầu thay
thế cho phà Quý Cao, phà Tiên Cựu. Từ khi hoàn thành dự án cải tạo Quốc lộ
10, địa thế huyện Vĩnh Bảo đã thay đổi căn bản từ chỗ là một ốc đảo đã chuyển
thành cửa ngõ của trục giao thông chính từ các tỉnh phía Nam qua Thái Bình đi
thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh.
* Tỉnh lộ:
- Đường 17A: là đường chính của huyện chạy theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam, dài 24 km chạy qua 50% số xã trong huyện. Phía Bắc tiếp giáp với tỉnh
Hải Dương qua phà Chanh Chử - Ninh Giang; phía Nam đối với huyện Thái
23
Thụy của tỉnh Thái Bình qua cống Một - xã Trấn Dương. Đây là tuyến huyết
mạch quan trọng nhất nối liền các xã trong huyện, giao lưu nối liền tỉnh Thái
Bình với thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương.
- Đường Hàn - Hóa: là trục đường nối liền quận Kiến An qua cầu phao
sông Hàn chạy qua cầu Hòa Bình đến cầu phao sông Hóa sang huyện Thái Thụy
nối với cảng Diêm Điền. Phần đường Hàn Hóa chạy qua huyện Vĩnh Bảo dài 5,8
km song nó lại có vai trò hết sức quan trọng. Nếu như đường 17 là tuyến huyết
mạch giao thông chạy dọc các xã trong huyện thì đường Hàn - Hóa là huyết
mạch giao lưu kinh tế vùng phía Nam của huyện Vĩnh Bảo với tỉnh Thái Bình và
thành phố Hải Phòng. Đường Hàn - Hóa hiện có chất lượng mặt đường cải tạo
tốt, tương đương đường cấp V đồng bằng.
- Đường Tam Đa - Nhân Mục: là đường nối liền trung tâm huyện Vĩnh
Bảo với huyện Tiên Lãng qua cầu phao Đăng. Tuyến đường qua huyện dài 4 km,
mặt đường đã trải nhựa rộng 3,5 km, tương đương đường cấp V đồng bằng.
* Đường huyện
2, cống Đồng Ngừ lấy nước sông vào hệ thống kênh chính cung cấp nước tưới
cho sản xuất thông qua một hệ thống các kênh mương trục chính như kênh
Chanh Dương chạy dọc huyện dài 25,5 km; kênh Ba Đồng dài 7,5 km và kênh
Đợn dài 3,5 km (Thượng Đồng - Cống Đợn) chạy từ Đông sang Tây huyện nối
từ sông Hóa sang sông Thái Bình; kênh Bạch Đà dài 6,5 km; kênh Chanh Chử
dài 7 km; kênh An Ninh dài 8 km.
Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có hệ thống kênh cấp I gồm 17 tuyến với
tổng chiều dài 85,4 km và hệ thống kênh mương nội đồng phục vụ cấp thoát
nước (tổng cộng có 141 trạm bơm nhỏ nội đồng phục vụ tưới cục bộ). Một số
cống tiêu nước như cống Trấn Dương (xây dựng năm 1985), cống Bích Động
(xây dựng năm 1968), cống Đợn (xây dựng năm 1964) và 3 trạm bơm tiêu lớn là
tại 3 vùng: trạm bơm Thượng Đồng ở phía Tây (14 máy, công suất 4000 m 3/h,
xây dựng năm 1982), trạm bơm Cộng Hiền ở phía Nam (12 máy 4000 m 3/h, năm
2000) và trạm bơm Xi Phông Gò Công ở phía Đông (công suất 5,6 m 3/s) vừa
phục vụ tưới tiêu cho Vĩnh Bảo, vừa phục vụ tưới cho Tiên Lãng.
Trong thời gian tới huyện cần tập trung cải tạo, nạo vét hạ thấp độ sâu và
làm lưu thông dòng chảy của hệ thống kênh (kể cả nội đồng và kênh cấp I).
Đồng thời cứng hóa kênh mương nội đồng nhất là vùng phía Nam và vùng giữa.
Xây dựng thêm 1 - 2 trạm bơm tiêu nước phục vụ cho tiêu nước các xã Vĩnh
Phong, Tiền Phong, Cao Minh và Trung Lập.
•
Giáo dục và đào tạo
Toàn huyện có:
-
Khối mầm non: có 31 trường, 232 lớp, 7.145 cháu, 514 giáo viên.
25