BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
NGUYỄN VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU
QUẢ BIỆN PHÁP PHUN HÓA CHẤT TỒN LƯU ĐỐI VỚI LOÀI MUỖI
Aedes aegypti Linnaeus, 1762 TẠI TỈNH TIỀN GIANG VÀ TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Hà Nội – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
NGUYỄN VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU
QUẢ BIỆN PHÁP PHUN HÓA CHẤT TỒN LƯU ĐỐI VỚI LOÀI MUỖI
Aedes aegypti Linnaeus, 1762 TẠI TỈNH TIỀN GIANG VÀ TỈNH PHÚ YÊN
học tập và hoàn thành luận văn.
TS. Vũ Đức Chính, Trưởng khoa Côn trùng, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng
- Côn trùng Trung ương, người thầ y kính mế n đã hế t lòng giúp đỡ, đôn ̣g viên
và tao ̣ điề u kiên ̣ thuân ̣ lợi cho tôi trong suố t quá trình học tập và hoàn thành
luận văn tốt nghiệp.
Ban Lãnh đạo Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng TP Hồ Chí Minh, Viện
Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn và các Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh,
Trung tâm Y tế huyện, Ủy ban Nhân dân và các Trạm Y tế các xã/phường nơi thực
hiện đề tài đã hỗ trợ chúng tôi khi triển khai thực hiện nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn./.
Hà Nội,
tháng 8 năm 2017
Học viên
Nguyễn Văn Tuấn
MỤC LỤC
Mục
Nội dung
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
4
véc tơ SXHD.
1.2.
Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
9
1.2.1.
Những nghiên cứu về các véc tơ truyền bệnh SXHD
9
1.2.2.
Tình hình sử sụng hóa chất và các biện pháp phòng chống
11
véc tơ SXHD.
1.3.
Một số đặc điểm của khu vực nghiên cứu
14
1.3.1.
2.4.
Thiết kế nghiên cứu
17
2.4.1.
Mục tiêu 1: Mô tả một số đặc điểm sinh thái học loài muỗi
17
Ae. aegypti tại điểm nghiên cứu.
2.4.2.
Mục tiêu 2: Xác định hiệu quả và sự chấp nhận của cộng
19
đồng của biện pháp phun hóa chất tồn lưu đối với loài muỗi
Ae. aegypti tại điểm nghiên cứu.
2.4.2.1
Đánh giá hiệu quả biện pháp phun hóa chất tồn lưu đối với
19
loài muỗi Ae. aegypti
27
3.1.2.
Giá thể đậu muỗi Ae. aegypti
27
3.1.3.
Độ cao trú đậu của muỗi Ae. aegypti
28
3.1.4.
Nơi trú đậu muỗi Ae. aegypti
29
3.1.5.
Đặc điểm sinh thái của bọ gậy muỗi Ae. aegypti
29
3.2.
Hiệu lực tồn lưu của một số hóa chất diệt côn trùng với Ae.
Hiệu quả can thiệp của phun tồn lưu Fendona 10SC liều
30mg/m2 tại Tiền Giang
36
3.3.4.1. Hiệu quả can thiệp với chỉ số mật độ muỗi
36
3.3.4.2. Hiệu quả can thiệp với chỉ số nhà có muỗi
37
3.3.4.3. Hiệu quả can thiệp với chỉ số BI
38
3.3.4.4. Hiệu quả can thiệp với chỉ số nhà có bọ gậy
39
3.3.4.5. Hiệu quả can thiệp của chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy
40
3.4.
Kết quả nghiên cứu tại khu vực đô thị tỉnh Phú Yên
45
3.4.4.3. Hiệu quả can thiệp với chỉ số Breateu
47
3.4.4.4. Hiệu quả can thiệp với chỉ số nhà có bọ gậy
48
3.4.4.5. Hiệu quả can thiệp với chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy
48
3.5.
3.5.1.
3.5.2.
3.5.3.
3.6.
3.6.1.
3.6.2.
4.1.
4.2.
4.3.
4.4.
Tác dụng không mong muốn của hóa chất và sự chấp nhận
của cộng đồng
Tác dụng không mong muốn của hóa chất đối với người trực
52
52
52
53
54
55
58
60
62
DANH MỤC BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1.
Địa điểm nghiên cứu
16
Bảng 2.2.
Tóm tắt các bước chính thực hiện tại điểm nghiên cứu
24
Kết quả thử hiệu lực tồn lưu của 3 hóa chất điệt côn trùng đối
31
với muỗi Ae. aegypti trong phòng thí nghiệm
Bảng 3.6.
Độ nhạy cảm của muỗi Ae. aegypti chủng phòng thí nghiệm
32
với một số hóa chất hóa chất diệt côn trùng
Bảng 3.7.
Kết quả nhạy cảm của Ae. aegypti thu thập tại thực địa với
33
alphacypermethrin 30mg/m2
Bảng 3.8.
Chỉ số muỗi, bọ gậy Ae. aegypti ở điểm nghiên cứu tại Tiền
35
Giang
Bảng 3.9.
Hiệu quả can thiệp phương pháp phun tồn lưu với chỉ số
42
Bảng 3.14.
Các chỉ số muỗi, bọ gậy Ae. aegypti tại điểm nghiên cứu tại
45
Phú Yên
Bảng 3.15. Hiệu quả can thiệp phương pháp phun tồn lưu với chỉ số
46
mật độ muỗi tại Phú Yên
Bảng 3.16
Hiệu quả can thiệp phương pháp phun tồn lưu với chỉ số nhà
47
có muỗi tại Phú Yên
Bảng 3.17. Hiệu quả can thiệp phương pháp phun tồn lưu với chỉ số BI
48
tại Phú Yên
Bảng 3.18. Kết quả phỏng vấn tác dụng không mong muốn cho người
50
DANH MỤC HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
Hình 1.1 Địa điểm nghiên cứu
16
Hình 3.1. Tỷ lệ (%) các giá thể đậu loài muỗi Ae. aegypti tại các
28
điểm nghiên cứu
Hình 3.2. Hình 3.2. Tỷ lệ (%) các độ cao trú đậu trong nhà của muỗi
28
Ae. Aegypti tại các điểm nghiên cứu.
Hình 3.3
Hình 3.3. Tỷ lệ (%) chết của muỗi Ae. aegypti sau khi tiếp xúc
34
với tường phun hóa chất
Hình 3.4
Hình 3.9
Tỷ lệ (%) chết của muỗi Ae. aegypti sau khi tiếp xúc với tường
43
phun hóa chất tại Phú Yên
Hình 3.10 Diễn biến của chỉ số mật độ (DI) muỗi Ae. aegypti tại Phú
44
Yên
Hình 3.11 Diễn biến của chỉ số nhà có muỗi tại Phú Yên
46
Hình 3.12 Diễn biến của chỉ số Bretaeu (BI) tại Phú Yên
47
Hình 3.13 Diễn biến của chỉ số nhà có bọ gậy tại Phú Yên
48
Hình 3.14 Diễn biến của chỉ số DCCN có bọ gậy tại Phú Yên
49
iii
CSMDM:
Chỉ số mật độ muỗi
CSNCM:
Chỉ số nhà có muỗi
CSNBG:
Chỉ số nhà có bọ gậy
CSDCBG:
Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy
CSHQ:
Chỉ số hiệu quả
CSHQ PCh: Chỉ số hiệu quả của nhóm chứng
CSHQ PCT: Chỉ số hiệu quả can thiệp của nhóm can thiệp.
SD:
Sốt Dengue
SXH:
Sốt xuất huyết
trú đậu trong nhà, rình đốt mồi trong nhà là chủ yếu. Tuy rằng cũng có
những nghiên cứu thấy loài muỗi này chủ yếu đậu trên quần áo và các vật
dụng treo trong nhà, ít đậu trên tường vách, nhưng cũng chưa thấy có
nghiên cứu nào xác định trung bình một cá thể muỗi bao nhiêu lần muỗi
đậu trên vật dụng thì có một lần đậu lên tường vách, và nếu như trong đời
một cá thể muỗi trung bình khoảng 30 ngày chỉ một lần đậu lên tường thì
con muỗi đó có thể bị tiêu diệt nếu trên tường có hóa chất phun tồn lưu.
Trong những năm gần đây, mặc dù có nhiều nỗ lực trong công tác
phòng chống dịch chủ động bằng phương pháp phun không gian như ULV
(Ultra Low Volume), vệ sinh môi trường… nhưng Việt Nam vẫn ghi nhận
ca mắc SXHD ở mức cao. Do những yếu tố tác động khác nhau như sự biến
đổi khí hậu, sử dụng hóa chất diệt côn trùng rộng rãi trong nông nghiệp và
y tế có thể tác động đến tập tính của muỗi truyền bệnh làm cho việc phòng
chống muỗi gặp nhiều khó khăn. Để kiểm soát véc tơ tốt hơn, Bộ Y tế
hướng dẫn phun ULV phòng chống SXHD chủ động nhằm làm giảm mật
độ muỗi ở những khu vực có nguy cơ cao. Tuy nhiên, biện pháp phun ULV
tỏ ra còn nhiều hạn chế, biện pháp này chỉ có tác dụng tức thời trong một
thời gian rất ngắn, các chỉ số muỗi và bọ gậy lại trở lại bình thường sau khi
phun hóa chất 1 - 2 tuần ngày. Việc làm cho các chỉ số muỗi và bọ gậy
Aedes giảm xuống dưới mức độ nguy hiểm là việc rất khó khăn, đòi hỏi
phải kết hợp với một số biện pháp khác hoặc tìm biện pháp hữu hiệu hơn.
Ở nước ta, nhất là các khu vực đông dân cư là trọng điểm của bệnh
SXHD như tỉnh Phú Yên và tỉnh Tiền Giang, là 2 trong 10 tỉnh lưu hành
SXHD cao nhất trong cả nước, những nỗ lực phòng chống của hệ thống y
tế dự phòng những năm gần đây cũng chưa làm cho bệnh giảm mạnh và
1
nhất là các chỉ số về véc tơ vẫn ở mức nguy hiểm. Việc tìm giải pháp mới
cho phòng chống véc tơ SXHD có hiệu quả hơn là vô cùng cấp bách để chủ
công trình của Hopkin, 1952; Christopher, 1960; Belkin, 1970; Harison, 1973.
Các tác giả đã mô tả chi tiết hình thái bên ngoài, bên trong của ấu trùng và muỗi
trưởng thành. Đặc biệt công trình nghiên cứu của Christopher, 1960 đã mô tả chi
tiết và đầy đủ các đặc điểm về hình thái, phân loại, di truyền, sinh lý, sinh thái,
phân bố, các pha phát triển của Ae. aegypti (trứng, bọ gậy, quăng và muỗi
trưởng thành) và vai trò truyền bệnh của chúng. Các tác giả đã chỉ ra rằng, ngoài
những đặc điểm chung của loài thì giữa các vùng địa lý khác nhau còn có một số
khác nhau về hính thái như kích thước, màu sắc.
Nghiên cứu về phân bố của Ae. aegypti đã được nhiều tác giả quan tâm và
cập nhật tương đối đầy đủ. Cho đến nay loài Ae. aegypti đã được phát hiện hầu
khắp thế giới, ở tất cả các vùng địa động vật và các vùng khí hậu khác nhau ở
142 nước. Các tác giả đã xác định Ae. aegypti phân bố từ khoảng 350 vĩ độ Bắc
đến 350 vĩ độ Nam và ở độ cao dưới 1.000 mét so với mực nước biển [39].
Phân bố của Ae. albopictus: loài muỗi này vốn là loài bản địa ở châu Á,
có khí hậu nhiệt đới, nhưng hiện nay vùng phân bố của chúng đã mở rộng và
hiện diện ở 78 nước thuộc châu Mỹ, châu Phi và cả những vùng thuộc khí hậu
ôn đới như châu Âu.
Tập tính hút máu của hai loài Ae. aegypti và Ae. albopictus đã được nhiều
tác giả nhận định chúng thường đốt người vào ban ngày, đặc biệt là vào buổi
sáng sớm và chiều tối [38]. Một nghiên cứu bằng cách sử dụng máy phân tích
3
quang phổ, nhiệt và sự tương phản màu trắng đen cho thấy cường độ ánh sáng tăng lên
thì Ae. aegypti có khả năng tìm kiếm vật chủ tốt hơn Ae. albopictus [36].
Bệnh sốt xuất huyết Dengue do virus Dengue thuộc họ Flaviviridae, chi
Flavivirus gây nên, bệnh này được biết cách đây trên 3 thế kỷ ở các khu vực khí
hậu nhiệt đới và á nhiệt đới. Những vụ dịch đầu tiên xảy ra vào những năm 1778
– 1780 ở châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ. Tỷ lệ mắc bệnh trên toàn thế giới đã tăng
nhanh trong những năm gần đây. Bệnh SXHD lưu hành trên 100 quốc gia ở
đồng chuyên gia của WHO về phòng chống véc tơ bằng sinh học đưa ra 3 hình
thức quản lý môi trường bao gồm: Thay đổi môi trường, loại bỏ lâu dài nơi sinh
sống của véc tơ; quản lý dụng cụ chứa nước (DCCN); phòng muỗi sinh sản
trong các DCCN [41].
Đối với các biện pháp sử dụng hóa chất để phòng chống muỗi trưởng thành
chủ yếu sử dụng biện pháp phun ULV. Tuy nhiên một số nghiên cứu cũng quan
tâm đến biện pháp phun tồn lưu sau khi đã có những nghiên cứu kỹ lưỡng về các
đặc điểm sinh học và sinh thái học của muỗi.
Kết quả nghiên cứu của Chadee (2013), xác định tập tính của Ae. aegypti ở
St Augustine, Trinidad, thấy đa số muỗi cái thu thập từ phòng ngủ (81,9%),
phòng sinh hoạt (8,7%) và bếp (6,9%) và hầu hết muỗi được thu thập từ bề mặt
tường tối gần sàn chứ không phải trên bề mặt phía trên cao của bức tường.
Những kết quả này tương tự như quan sát thấy của một số tác giả ở Cộng hòa
Dominica năm 1990, Puerto Rico năm 1994, Panama năm 2000, Costa Rica năm
2003…
Một nghiên cứu khác của Rozilawati và cộng sự (2005) ở Kuala Lumpur,
Malaysia cho thấy Deltamethrin WG được phun tồn lưu ngoài nhà liều 25mg/m2
thấy có hiệu lực tồn lưu trong 6 tuần sau khi phun, nhưng không có hiệu quả làm
giảm mật độ quần thể muỗi Aedes trong khu vực nghiên cứu [45].
Gần đây, vật liệu tẩm hóa chất diệt côn trùng (ITMs), được nghiên cứu và
cho thấy có khả năng làm giảm mật độ véc tơ sốt xuất huyết trong các hộ gia
đình. Vật liệu tẩm hóa chất diệt côn trùng có tác dụng diệt muỗi trưởng thành,
5
giai đoạn quan trọng nhất trong việc truyền bệnh của muỗi. Muỗi trưởng thành
sẽ tiếp xúc trực tiếp với ITMs trong quá trình tìm kiếm vật chủ đề đốt mồi, làm
giảm tuổi thọ của chúng, có hiệu quả làm thay đổi cấu trúc tuổi của quần thể véc
tơ. Như vậy, tuổi đời của muỗi sẽ sống ngắn hơn, không đủ lâu để có thể truyền
bệnh. Hơn nữa, vật liệu tẩm hóa chất diệt côn trùng tồn lưu có hiệu lực kéo dài
trong vùng nội thành và 75,2% ở vùng ngoại thành, nhưng lại giảm còn 32,3%
và 39,0% sau 18 tháng. Các con số tương ứng cho tỷ lệ dụng cụ chứa nước sử
dụng nắp đậy ITMs là 34,0% và 50,8% tại vùng nghiên cứu và 17,0% và 21,0%
sau 18 tháng. Trước khi can thiệp, chỉ số Breateu (Breateu Index-BI) = 8,5 ở các
cụm trong vùng đô thị và 42,4 ở các cụm trong vùng ngoại thành, và chỉ số
quăng trên người (Pupae per Person Index- PPI) tương ứng sau can thiệp là 0,2
và 0,9. Với các cụm nghiên cứu trong cả hai vùng đô thị và ngoại thành, chỉ số
BI cho thấy duy trì giảm 55% [39].
Nghiên cứu tại Haiti từ tháng 7/2003 đến tháng 7/2004, sử dụng màn tẩm
hóa chất diệt côn trùng trong phòng chống véc tơ truyền truyền bệnh sốt xuất
huyết. Khu vực nghiên cứu (1017 nhà) được chia thành 18 cụm: 9 cụm sử dụng
màn Olyset® tẩm hóa chất diệt côn trùng tồn lưu lâu và 9 cụm đối chứng không
sử dụng màn này. Điều tra các chỉ số BI, chỉ số nhà có muỗi (House Index - HI),
chỉ số dụng cụ chứa nước (Container Index - CI) và chỉ số quăng trên người PPI
và hoạt động đẻ trứng của muỗi được thực hiện ở các mốc: trước can thiệp, sau
khi can thiệp 1 tháng và 5 tháng. Tất cả các hộ tham gia nghiên cứu được đo tọa
độ để phân tích không gian. Những cụm nghiên cứu nhận màn sử dụng trong
vòng 6 tháng, và tiến hành 1 cuộc điều tra côn trùng và thái độ của người dân
được thực hiện vào tháng 12 sau cuộc điều tra đầu tiên. Đánh giá tỷ lệ bệnh nhân
mắc sốt xuất huyết ở thời điểm bắt đầu nghiên cứu và sau 12 tháng. Hiệu quả
của màn tẩm hóa chất đánh giá bằng phương pháp thử sinh học theo quy trình
của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Kết quả, sau 1 tháng can thiệp, các chỉ số
côn trùng giảm trong tất cả các cụm nghiên cứu, với HI và BI trong vùng có màn
tẩm hóa chất giảm trung bình tương ứng là 6,7 (95% CI - 10,6, - 2,7; P
đến các loài côn trùng gây bệnh khác (67,9-85,7%, P
10
Ở các tỉnh phía Nam, năm 1998 là năm có dịch lớn với 445 trường hợp
mắc/100 000 dân và 1,27 trường hợp chết/100 000 dân, chủng virus DEN-III
chiếm ưu thế. Ngược lại, năm 1999 số trường hợp mắc và chết thấp (80,7 trường
hợp/100 000 dân và 0,23 trường hợp chết/100 000 dân), tuýp DEN-IV mới xuất
hiện và tăng dần (Nguyễn Thị Kim Tiến và ctv., 2000).
Năm 2012 cả nước ghi nhận 87 202 trường hợp mắc, 79 trường hợp tử vong
[1], năm 2013 tuy có giảm hơn nhưng cũng ghi nhận 66 138 trường hợp mắc và
42 trường hợp tử vong. Hàng năm số ca mắc tăng dần từ tháng 5 có đỉnh vào các
tháng tháng 7,8,9,10 và giảm thấp nhất vào các tháng 2,3,4 [19].
Theo báo cáo Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế. Năm 2014, trên cả nước ghi
nhận 31.848 trường hợp mắc: miền Bắc 2.302, miền Trung 3.941, miền Nam
24.788, Tây Nguyên 817. Có 20 trường hợp tử vong, số mắc và tử vong năm
2014 giảm so với năm 2013 và TB 5 năm 2006 - 2010.
1.2.2. Tình hình sử sụng hóa chất và các biện pháp phòng chống véc tơ SXHD.
Hiện nay các hoá chất diệt côn trùng thuộc nhóm hữu cơ tổng hợp thường
được sử dụng ở 4 nhóm chính: nhóm Clo hữu cơ, nhóm Phốt pho hữu cơ, nhóm
Carbamat và nhóm Pyrethroid. Bộ Y tế Việt Nam đã có hướng dẫn sử dụng từng
loại hoá chất như độc lực, liều hoạt tính, kỹ thuật sủ dụng... để các địa phương áp
dụng [8]. Biện pháp sử dụng hoá chất diệt côn trùng cũng rấ t phong phú, từ máy
phun thô sơ tới các máy phun có động cơ, từ việc sử dụng người đến phun bằng ô
tô,... Có thể phun tồn lưu diệt muỗi bằng tiếp xúc, phun không gian dưới dạng khí
dung thể tích cực nhỏ (ULV), dạng khói nóng để tăng hiệu quả tức thời và tiết
kiệm hoá chất. Ưu điểm cơ bản của phương pháp sử dụng các hoá chất diệt côn
trùng là có tác dụng nhanh, có thể triển khai trên một diện rộng trong một thời
gian ngắn rất có hiệu quả trong công tác dập dịch SXHD bằng cách hạ nhanh mật
độ quần thể muỗi Aedes trong các ổ dịch.
Tuy nhiên, biện pháp hoá học phun ULV diệt Ae. aegypti cũng như nhiều
trữ nước ở vùng nghiên cứu là thấp hơn đối với vùng đối chứng ở hầu hết các
vùng nghiên cứu ở những cuộc điều tra côn trùng. Số lượng bọ gậy trong bể
chứa nước mới là thấp hơn đối với dụng cụ phế thải trong vùng can thiệp có ý
12
nghĩa thống kê từ lần điều tra thứ 2 đến làn thứ 5. Tuy nhiên, với số dụng cụ trữ
nước cũ hiện có, các chỉ số bọ gậy không thay đổi ở vùng can thiệp. Trên 94%
các hộ gia đình đậy kín dụng cụ trữ nước của họ với hai lớp màn và dùng các
dụng cụ mới được sử dụng vòi ở tất cả các vùng nghiên cứu. Thời gian trung
bình cọ rửa dụng cụ trữ nước mới trong suốt ba tháng là thấp, dao động từ 0,4
đến 0,8 lần. Số lượng bình đựng nước cũ được giảm đều đặn trung bình từ 5,3
đến 2,24 giữa các đợt điều tra và số lượng trong đợt điều tra thứ 5 là thấp hơn
hẳn so với đợt điều tra thứ 2. 100% số hộ chấp nhận dụng cụ trữ nước mới và
96% số hộ nói họ có khả năng sửa chữa lại những nắp đậy bị hỏng [30].
Năm 2006, một nghiên cứu về sự phổ biến của việc sử dụng màn và làm
sáng tỏ hiệu quả việc ngủ màn ban ngày để phòng chống sốt xuất huyết dengue
(DHF) ở trẻ em tại Khánh Hòa. Một cuộc điều tra cắt ngang dân số và nghiên
cứu các trường hợp mắc và các đối tượng tham gia nghiên cứu nhóm đối chứng
trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa nơi mà không chỉ có một số trẻ nhỏ mà còn có một
số học sinh bậc trung học, người có một giấc ngủ ngắn vào buổi trưa trước khi
trở lại trường, được sử dụng màn chống muỗi ban ngày. Trong số 36.901 trẻ em
từ 2-10 tuổi, hầu hết sử dụng màn không tẩm hóa chất vào ban đêm (98,3%) so
với 8,4% ban ngày. Kết quả nghiên cứu các trường hợp mắc và các đối tượng
tham gia nghiên cứu nhóm đối chứng, xác định 151 trường hợp phải nhập viện
do SXHD trong các bệnh viện tỉnh và 604 thuộc nhóm đối chứng, đã không hỗ
trợ cho giả thuyết rằng trẻ em sử dụng màn không tẩm hóa chất ban ngày ít có
khả năng phải nhập viện do SXHD [36].
Năm 2013, Takashi và CS. đã nghiên cứu thử nghiệm sử dụng màn tồn lưu
lâu Olyset và hóa chất diệt bọ gậy pyriproxyfen trên thực địa để phòng chống
cao tầng được xây bằng gạch, lợp ngói hoặc tôn được chia phòng khách, phòng
ngủ, khu vệ sinh, khu bếp. Xung quanh nhà ít có vườn cây, ao xung quanh.
Dụng cụ chứa nước đa số là các xô, thùng có dung tích trên dưới 10 lít, ngoài ra
còn có các dụng cụ phế thải, chậu cây cảnh, rất ít có các chum vại lớn (>100 lít).
Theo báo cáo của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Phú Yên. Tổng số nhân
khẩu thành phố Tuy Hòa là 202.030 nhân khẩu. Số ca mắc sốt xuất huyết năm
2014: 34 ca.
14