Đặt vấn đề
NÊm da là mét bệnh tương đối phổ biÕn tại các nước trên thÕ giíi, đặc
biệt hay gặp ở những nước nhiệt đới. Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt
đới giã mùa nãng Èm, điều kiện vệ sinh còn nhiều hạn chế rÊt thuận lợi cho
nÊm phát triÓn và lây lan. Trong nhân dân, bệnh có tỉ lệ cao hàng thứ hai sau
bệnh chàm. Trong Quân đội, nấm da chiếm tỉ lệ cao nhất trong các bệnh da,
trung bình từ 7 đến 10%, có thể tăng cao tới 30% đến 40%. Tỉ lệ tăng cao vào
mùa hè, trong điều kiện luyện tập chiến đấu lao động vất vả [10], [22].
Bệnh nấm da tuy không ảnh hưởng tới tính mạng nhưng là bệnh thường
mãn tính dai dẳng, gây ngứa ngáy khó chịu, ảnh hưởng tới sinh hoạt, học tập
rèn luyện và công tác của bộ đội [11]. Vì vậy việc phòng chống nấm da là
một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các tuyến quân y đơn vị [23].
BiÓu hiện lâm sàng rất đa dạng tùy vào chủng loại nấm và vị trí tổn
thương [68], như nấm lông tóc, nấm móng, nấm da vùng khe kẽ, da thân
mình, da tay chân.
Hiện nay cã nhiÒu loại thuèc chèng nÊm cã hiệu quả cao như các nhóm
Azole, nhóm Allilamine nhưng giá thành còn cao và phải nhập khÈu [49].
Việc nghiên cứu các thuèc víi nguyên liệu sẵn cã trong nước vÉn luôn là mét
đòi hái của công tác phòng và điều trị nấm trên ngưêi nói chung và nấm da
nói riêng.
Trong dân gian, chóng ta đã có kinh nghiệm điều trị nấm da bằng rễ cây
kiến cò, lá hoặc rễ cây muồng trâu, lá cây chút chít, cao săng lẻ [14].
Xuất phát từ kinh nghiệm điều trị một số bệnh ngoài da của đồng bào
dân tộc Ýt người ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta bằng cây Mác miều
[35].
1
Qua các kết quả nghiên cứu trên invo và invtro đối với một số chủng
nấm da bằng dịch chiết từ hạt quả Mác miều.
Qua khảo sát, cho thấy đây là loại cây khá phổ biến, dễ trồng, dễ chăm
sóc, thu hái, năng suất cao, có thể gieo trồng trên diện rộng.
Vì vậy, chúng tôi thấy việc nghiên cứu tác dụng điều trị nấm da của dịch
một số sinh sắc tố đỏ, vàng, nâu đen, xanh đen lan tỏa vào môi trường.
* Hình ảnh vi thể :
Nấm có hai bộ phận chính là bộ phận dinh dưỡng và bộ phận sinh sản.
3
+ Bộ phận sinh dưỡng : những sợi nấm có vách ngăn, không màu, có
thể có một số hình dạng đặc biệt như sợi nấm xoắn, sợi hình lược, hình sõng
nai, thể cục.
+ Hình thể bộ phận sinh sản: nấm sinh nhiều loại bào tử có hình thể
và kích thước khác nhau. Hình thể, kích thước và cách sắp xếp bào tử của nấm có
giá trị lớn trong định loại nấm, những bào tử vô tính có giá trị định loại nấm
như bào tử nấm nhỏ, bào tử nấm lớn, ngoài ra còn có bào tử đốt, bào tử màng dầy.
Một số loại nấm da có khả năng tạo bào tử hữu tính là những thể quả
kín, khi đó nấm thuộc nấm túi (Ascomycetes) và có tên là Athroderrma (khi
giai đoạn vô tính là Trichophyton) và Nannizia (khi giai đoạn vô tính là
Microsporum).
1.2. Đặc điểm sinh học của nấm da [44], [36]
1.2.1. Đặc điểm sinh lý, dinh dưỡng, chuyển hóa :
Nấm da gây bệnh ở da người và động vật, không gây bệnh ở nội tạng.
Mức độ tổn thương phụ thuộc vào đáp ứng của vật chủ và độc lực của nấm.
Bệnh nấm da là nhiễm nấm ở mô keratin hóa do một nhóm nấm ưa
keratin (nấm da) gây ra.
Nấm da tuy ký sinh ở những mô keratin hóa nhưng vẫn có thể mọc ở
môi trường không có keratin như môi trường Sabouraud. Một số loại nấm da
chỉ mọc tốt khi môi trường có insitol, axit nicotinic, vitamin B1, L-
histidin. Đặc điểm này được sử dụng trong chẩn đóan định loại nấm.
Các nấm da đề kháng các kháng sinh thông thường và Cycloheximid, kháng
sinh này thường được pha vào trong môi trường nuôi cấy, phân lập nấm da.
4
1.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình gây bệnh của nấm :
* Nhiệt độ và độ Èm :
thường tự khỏi khi trẻ em đến tuổi dậy thì khi đó các tuyến bã đã tăng cường
hoạt động, do đó tuổi nhỏ thì pH da còn axit hơn, còn tuổi thanh thiếu niên thì
pH kiềm hơn, dao động trong khoảng 6.1- 6.4.
Trên cơ thể độ pH thay đổi tùy từng vùng da khác nhau như da ở vùng
đầu, ngực, tay độ pH từ 4.5-5.9, vùng bẹn, nách từ 6.0- 6.9 . Do vậy nấm dễ
dàng phát triển ở vùng bẹn, nách.
Mồ hôi cũng có tác dụng điều tiết độ pH của da, tuy nhiên mô hôi ra
nhiều hoặc những vùng Èm ướt (các kẽ như nách, bẹn, kẽ chân) lượng
Amoniac tăng làm cho pH của da chuyển hướng kiềm tạo điều kiện cho nấm
phát triển, do đó bệnh hay gặp ở những vùng này.
* Ánh sáng :
Nấm phát triển không cần ánh sáng nhưng trong quá trình tạo bào tử thì
nấm lại cần ánh sáng.
* Oxy :
- Oxy rất cần cho quá trình hô hấp của nấm vì nấm là sinh vật hiếu khí.
Nhưng nếu nồng độ oxy cao quá nấm sẽ không phát triển được (sự phát triển
của các loài Microsporum bị hạn chế ở nồng độ 98% oxy).
- Khí Cacbonic cũng ngăn cản sự phát triển của nấm (M.audouinii và
M.canis không mọc được ở nồng độ 60% CO2).
6
* Rối loạn chuyển hóa đường: Sự phát triển gây bệnh của nấm có vai
trò của rối lọan nội tiết, rối loạn chuyển hóa đường đã được các tác giả trong
nước và nước ngoài nghiên cứu.
1.3. Phân loại nấm da [36], [44]
Nấm da thuộc lớp nấm bát toàn(Fungi Imperfecti), có khoảng 30 loài
thuộc ba chi :
- Microsporum.
- Trichophyton.
- Epiderphyton.
Theo C.W.Emmons, có thể dựa vào đặc điểm bào tử lớn của nấm để
lệ bệnh nấm nông trong tổng số các bệnh da tương đối cao (9,71%) [15] [17].
Theo một nghiên cứu của Trần Liên Hương, tỷ lệ nấm nông ở các tỉnh phía
Bắc là 32.19%, trong đó tỷ lệ nam/nữ bị bệnh là 1.5/1. Thường gặp nhất là
nấm da nhẵn 38.44%, nấm bẹn 22.84% sau đó là nấm kẽ 3.9%, nấm móng
10.17%, nấm tóc 4.04%, Kerion de Celssa 1.95%. Các tác nhân nấm gây
bệnh đã phân lập được bao gồm: T.rubrum 62.71%, T.mentagrophytes
9.75%, C.albicans 8.87%, T.violaceum 5.82%, E.floccosum 3.93%, M.canis
2.53%. Bệnh xảy ra chủ yếu từ tháng 4 đến tháng 11 [26]. Theo Nguyễn Cảnh
Cầu (1994), khám 5663 quân nhân có 2634 người bị bệnh ngoài da, trong đó
bệnh nấm da chiếm 37.31%, bệnh lang ben chiếm 14.12%, ghẻ chiếm
13.17%, viêm da liên cầu và các bệnh ngoài da khác chiếm 15,86% [10]
8
Nguyễn Thị Đào (năm 1984), trong sè 2268 trường hợp bệnh nấm da, tỷ
lệ T.rubrum 77,4%, T.violaceum 6,9%, M.gypseum 3,6%, T.mentagrophytes
3,5%, E.floccosum 3,8%, M.canis 1,8%, M.ferrugineum 1,5%,
T.concentrium1,5% [18]
Trần Xuân Mai (1981), tại thành phố Hồ Chí Minh, cấy 490 bệnh
phẩm, kết quả mọc nấm 324 (66,12%) với cơ cấu chủng loại nấm nuôi cấy
được như sau: T.rubrum 80,26%, T.mentagrophytes 4,72%, T.tonsurans
4,63%, T.violaceum 0,86%, T.verrucosum 0,43%, T.concentrium 2,15%,
M.canis 5,60%, M.gypseum 0,86%, E.floccosum 1,72% [32]
Năm 1989, Nguyễn Cảnh Cầu và cộng sự điều tra cơ cấu chủng loại
nấm gây bệnh ngoài da ở 512 bệnh nhân thì thấy kết quả cấy nấm mọc
29,68%, trong đó: T.rubrum chiếm 54%, T.mentagrophytes 26%,
T.verrucosum 11/152T.violaceum 2/152, E.floccosum 6%, M.gypseum 2/152,
M.canis 2/152, M.ferrugineum 1/152, C.albicans 9,4% [10]
Trong quân đội, do điều kiện ăn ở, sinh hoạt tập trung, vệ sinh còn
hạn chế là những điều kiện thuận lợi cho bệnh nấm da phát sinh, phát triển và
lây lan trong đơn vị. Năm 1988, tại viện Quân Y 103, trong số các bệnh da
thường gặp thì bệnh nấm nông chiếm tỉ lệ 23.06%. Trong sè bệnh nhân bị
1.4.3.1. Tricophyton rubrum.
+ Tên khác: T.purpureum, T.rubidum, T.marginatum, E.perneti,
T.spadix E.salmonum, T.lanoroseum, T.coccineum, T.kagawaense,
T.plurizoniforme.
10
+ Hình dạng đại thể: Nấm phát triển tốt trên môi trường Sabouraud, bề
mặt khuẩn lạc giống như nhung nhưng không xốp mà sít lại với nhau, hoặc có
dạng như len hơi mịn. Màu trắng tuyết, sau một thời gian có màu rượu hồng,
ở xung quanh thỉnh thoảng có màu hồng tím. Mặt dưới thỉnh thoảng có màu
hồng tối.
+ Hình dạng vi thể:
- Bào tử lớn có hình bút chì, hình chùy, kích thước 60-100 × 3 - 5µm.
- Bào tử nhỏ hình quả lê, hình giọt nước, một số có hình cầu, hình thành
xung quanh những sợi nấm không khí, Ýt khi tạo thành chùm, không tạo dạng
chùm nho như T. mentagrophytes.
- Có thể thấy bào tử áo, sợi nấm hình vợt, dạng cuộn do các sợi nấm
quấn vào nhau.
+ Đặc điểm riêng:
- Tạo bào tử lớn trên môi trường Sabouraund.
- Trên môi trường Triptoz, Triptikaz và môi trường thạch máu có chứa
dịch tiết tim bò thì bào tử lớn được hình thành với số lượng nhiều.
- Trên môi trường Clauberg, môi trường xanh - brillan bào tử cũng hình
thành nhiều. Tạo màu hồng và khuyếch tán vào môi trường nuôi cấy trên môi
trường glucoza - bột ngô, môi trường glucoza - khoai tây và môi trường
glucoza - dịch chiết nấm men; không tạo màu trên môi trường glucoza - bột
ngô có chứa axit ascorbic.
- Khác với những loài thuộc nhóm T.mentagrophytes, trong in vitro
T. rubrum không tạo cơ quan “đâm chọc” trên tóc, một số chủng có tạo
nhưng rất yếu, chỉ có khả năng làm thủy phân keratin làm mòn sợi tóc.
11
của thể quả mà người ta xác định các dạng sinh sản của các loài thuộc chủng
Arthroderma.
+ Nơi cư trú và khả năng gây bệnh.
- Thường ký sinh gây bệnh nấm da ở người và động vật có vú.
- Ở người, loài nấm này thường gây bệnh ở da, mãng tay, kẽ chân. Khi
soi trực tiếp bệnh phẩm có thể thấy những bào tử đốt. Loài này có thể gây
bệnh ở đầu (Tinea corporis), ở cằm (Tinea barbae), ở bẹn (Tinea crusis), đặc
biệt có thể gây bệnh ở kẽ chân.
+ Dạng sinh sản hữu tính: có hai loại là Arthroderma benhamiae và
Arthroderma vanbreuseghemii.
1.4.3.3. Tricophyton violaceum :
+ Tên khác : T.Glabrum, T.Grourvile, Achorion violaceum.
+ Hình dạng khuẩn lạc : NÊm phát triển chậm, khuẩn lạc hơi nhô lên
trên mặt môi trường nhưng bám sâu vào môi trường, có dạng như sáp ong.
Khuẩn lạc trụi, hình dạng quanh co, rất Ýt khi có dạng như lông.
Trên môi trường nuôi cấy tạo ra màu tím đen nhưng không khuyếch tán,
sự tạo màu giảm đi khi cấy sang các môi trường mới.
+ Hình dạng vi thể :
- Trên môi trường không có chất bổ sung thường chỉ có những sợi nấm
và bào tử áo dạng chuỗi, thường xuất hiện những sợi nấm phân nhánh quanh
co, có chỗ phình lên.
- Bào tử áo chỉ hình thành trên những môi trường có thiamine. Bào tử
lớn hình côn hơi kéo dài. Bào tử nhỏ trên môi trường trên cũng nhiều.
+ Đặc điểm riêng: Loài này yêu cầu nguồn thiamin cho sự phát triển.
Trong in vitro không tạo cơ quan “đâm chọc” trên sợi tóc.
13
+ Nơi cư trú và khả năng gây bệnh: Không sống trong đất, chỉ phân lập
được từ người, khi gây bệnh ở tóc, lông tạo bào tử đốt. Thường gây bệnh ở
da, mãng tay. Khi soi bệnh phẩm thường thấy sợi nấm và bào tử đốt.
1.4.3.4. Epidermophyton floccosum:
gặp nhất là C. albicans, có thể gặp các loài khác như C. tropicalis, C.
parapsilopsis, C. glabrata
- Trong trạng thái hoại sinh, số lượng tế bào nấm rất Ýt, thường chỉ xét
nghiệm thấy một hai tế bào hạt men nảy búp, nấm giữ cân bằng với các loại vi
sinh vật hội sinh khác. Trong một số điều kiện nhất định, nấm Candida
chuyển sang trạng thái ký sinh gây bệnh, số lượng tế bào tăng lên nhiều, xuất
hiện những sợi tơ nấm giả cho phép nấm len lỏi giữa những tế bào và xâm
nhập sâu hơn vào cơ thể. Loài gây bệnh hay gặp nhất là C. albicans [19].
- Khả năng gây bệnh: bệnh ở da và cơ quan phụ cận ( viêm móng và
quanh móng, bệnh da mãn tính, hăm), bệnh ở niêm mạc (viêm âm hộ, âm
đạo,chốc mép), bệnh ở nội tạng (bệnh ở dạ dày ruột, viêm thực quản, bệnh ở
phổi, bệnh ở hệ tiết niệu, nhiễm nấm máu) [19].
1.5. Tổng quan về bệnh nấm da:
Bệnh nấm da (Dermatophytosis) là nhiễm nấm ở mô Keratin hóa (da,
lông, tóc, móng ) do một nhóm nấm ưa Keratin- nấm da (Dermatophytes)
gây ra.
15
Nấm da gây bệnh ở da của người và động vật, không gây bệnh ở các
cơ quan nội tạng. Mức độ tổn thương tùy thuộc vào đáp ứng của vật chủ và
độc lực của nấm gây bệnh.
1.5.1. Căn nguyên:
Tất cả giống nấm sợi đều có thể gây bệnh nấm da, nhưng đặc biệt hay
gặp là do các chủng T.rubrum, T.mentagrophytes, M.canis [16], [59]
1.5.2. Bệnh sinh [6],[23]
Các bào tử hay sợi nấm bám vào trên da người ở những vùng da Èm
ướt, nhiều mồ hôi như nách, vú, kẽ mông, chân tay và từ đó phát triển lan
rộng ra, len lỏi vào lớp sừng.
Sợi nấm phát triển theo hướng ly tâm từ tổn thương ban đầu và tiết ra
các độc tố kích thích các đầu dây thần kinh gây cảm giác khó chịu, ngứa
ngáy. Đáp ứng miễn dịch xảy ra sau khoảng 1- 3 tuần ở nhiều mức độ khác
+ Ở mặt: dát đỏ, bề mặt phủ vảy, không có mụn nước, đối xứng hai bên,
dễ nhầm với bệnh Lupus ban đỏ.
+ Tổn thương gò cao, ranh giới rõ, có một vài sẩn xung quanh giống với
phong thể cùi.
+ Tổn thương nhiều mụn nước dễ nhầm với chàm, mày đay [63].
+ Tổn thương do M.canis thường đỏ, có nhiều vảy ở bề mặt dễ nhầm với
bệnh vảy nến [60]
+ Cá biệt trường hợp nấm thân do T.rubrum có biểu hiện giống đỏ da
toàn thân.
17
+ Có trường hợp thương tổn là bọng nước lớn ở chân do M.canis rất khó
chẩn đoán [72]
+ Tổn thương do T.concentrium, thường bắt đầu bằng những chấm màu
nâu trên nền da bình thường, lớn dần và bong vảy với bờ trong tù do, bờ ngoài
dính vào da tạo thành những vòng vảy đồng tâm. Tổn thương càng ngày càng
lớn liên kết với nhau tạo thành đám lớn có khi lan lên da đầu nhưng không tổn
thương tóc, lan đến lòng bàn tay, bàn chân, ở các mónglàm cho da bàn tay,
bàn chân dày và móng cũng dày lên [59].
1.5.4. Triệu chứng cận lâm sàng.
* Soi tươi:
- Lấy vảy da ở tổn thương vào lam kín, nhỏ một hai giọt dung dịch
KOH 20% lên vảy da, hơ lamen trên đèn cồn, để nguội, rồi đặt lamen lên và
hơ lam kính trên đèn cồn cho nóng (không để dung dịch KOH bị sôi). Sau đó
để nguội và soi, nếu không hơ nóng lam kính thì để lam kính có bệnh phẩm
15- 20 phút ở nhiệt độ phòng rồi soi dưới kinh hiển vi. Khi soi sẽ thấy sợi
nấm hoặc đoạn sợi nấm, bên trong bào tương hơi đục. Trong một số trường
hợp có thể thấy bào tử đốt của nấm [19]
- Khi soi tùy theo chủng nấm chúng ta có thể phân biệt được sợi nấm da
(Dermatophytes), sợi nấm giả của nấm men (Yeast) và sợi nấm của nấm mốc
(Mould), nhưng không thể xác định được loài nấm gây bệnh. Vì vậy, cần kết
19
* Các thuốc dạng cồn hay dung dịch để bôi.
- Dung dịch BSI 1 - 3%, dung dịch ASA, mì Salicylic 5%, mì Whitfield,
mỡ lưu huỳnh 10%, ung dịch Castellani
Đây là những thuốc đã được sử dụng trước khi có các thuốc kháng nấm
tổng hợp, nhưng trong những năm gần đây, một số tác giả như Phạm Văn Sơn
(1995) và Phạm Hoàng Khâm (1997) nghiên cứu và cho thấy kết quả điều trị
tương đối tốt.
- Các thuốc dạng kem của nhóm Azole và nhóm Allylamine,
Clotrimazol, Econazol, Ketoconazol, Miconazol, Itraconazol, Bioconazol và
Terbinafine.
Đây là những thuốc tác động vào quá trình tổng hợp thành tế bào nấm,
nên có hiệu quả cao. Thường dùng liều bôi 1- 2 lần/ngày trong thời gian 2
tuần là đạt hiệu quả cao.
1.5.5.2. Điều trị toàn thân [11], [23]
Từ năm 1950 đến nay, hàng loạt thuốc kháng nấm được tổng hợp. Việc
điều trị nấm da trở nên dễ dàng hơn và thời gian điều trị cũng giảm đáng kể.
Năm 1958, Griseofulvin được sử dụng để điều trị các bệnh nấm nông.
Thuốc có tác dụng làm giảm tổng hợp chitin của màng tế bào nấm. Mặc dù có
một số chủng nấm kháng Griseofulvin nhưng thuốc này được sử dụng rộng
rãi trong một thời gian dài do phù hợp với điều kiện kinh tế của bệnh nhân.
Những năm sau đó, nhiều loại kháng sinh kháng nấm ra đời như: nhóm
Imidazoles (Clotrimazole, Ketoconazole, Econazole ), nhóm Triazoles
(Itraconazole, Terconazole, luconazole), nhóm Allyamine (Erbinafine).
- Liều điều trị dạng uống (dành cho nấm da không có thương tổn móng)
[9].
20
+ Griseofulvin: 10mg/kg/ngày × 10 – 15 ngày.
+ Itraconazole: 3 - 4mg/kg/ngày × 10 – 15 ngày.
+ Fluconazole: 8mg/kg/tuần × 4 tuần.
+ Nhiễm vi nấm ở da, tóc, móng do các chủng nấm ngoài da và nấm men.
+ Nhiễm vi nấm men ở đường tiêu hóa, âm đạo.
+ Nhiễm vi nấm hệ thống.
- Chống chỉ định:
+ Người bệnh lý gan cấp hay mãn.
+ Quá mẫn với thuốc.
+ Không dùng kèm với Astemizole,Terfenadine vì tăng nguy cơ xoắn
đỉnh.
- Thận trọng khi dùng:
+ Bệnh nhân điều trị dài ngày trên 2 tuần bằng Nizoral viên phải
được cảnh báo về các triệu chứng của bệnh gan như mệt mỏi bất thường kèm
theo sốt, nước tiểu vàng, phân nhạt màu hoặc vàng da, vàng mắt. Vì vậy nên
làm các xét nghiệm chức năng gan trước, sau điều trị và tiếp tục sau đó mỗi
tháng một lần. Và sau khi các thử nghiệm này xác nhận là có bệnh gan thì cần
ngừng điều trị bằng Nizoral viên.
+ Bệnh nhân có thai và nuôi con bó:
22
Nizoral viên có khả năng gây dính ngón trên chuột ở liều 80µg/kg.
Hiện chưa có các nghiên cứu về việc sử dụng thuốc này trên phụ nữ mang
thai, vì vậy không nên dùng Nizoral viên trong giai đoạn này.
Nizoral có thể được tiết qua sữa mẹ, không cho con bó trong thời
gian các bà mẹ đang điều trị bằng thuốc này.
- Khi phối hợp thuốc cần lưu ý:
+ Nizoral được hấp thu tối đa trong môi trường acid hay phụ thuộc
vào việc tiết dịch tiêu hóa của dạ dày, do đó cần phải tránh dùng Nizoral viên
đồng thời với các thuốc ức chế tiết dịch dạ dày.
+ Không nên dùng Nizoral với Rifampicine vì sẽ làm giảm nồng độ
Nizoral trong máu.
- Tác dụng ngoài ý muốn:
+ Một số trường hợp khi dùng Nizoral có thể biểu hiện các rối loạn ở
kết quả sau: khái 84.32%, đỡ nhiều 5.88%, đỡ Ýt 3.92%, không đỡ 5.88%
[48].
Nguyễn Thị Kim Dung ( năm 2007) đã sử dụng dịch chiết của quả Xà
Sàng, sau đó đã bào chế ra mì Osthol 0.1% để điều trị bệnh nhân nấm da và
cũng đã mang lại hiệu quả khá tốt. Số bệnh nhân khỏi 65.7%, số bệnh nhân
24
đỡ 21.8% và không kết quả là 12.5% [14].
Năm 1999, Trần Duy Điệt và cộng sự đã tiến hành chiết xuất acid
Chrysophanic từ Muồng trâu, Chút chít, Thảo quyết minh và Đại hoàng để
điều chế cream Chrysophanic, đã thử tác dụng chống nấm trên in vivo có tác
dụng tốt. Acid Chrysophanic được chiết xuất đạt tiêu chuẩn dược điển của
Tiệp Khắc 1970 về độ tinh khiết. Đã bào chế dưới dạng Cream Chrysophanic
5% đạt được các tiêu chuẩn cơ sở xây dựng theo dược điển Việt Nam (dạng
thuốc mới). Sản phẩm thuốc Cream Chrysophanic 5% có tác dụng chống nấm
C.albican, T.rubrum, T.mentagrophytes tương đương với thuốc mì
Chrysophanic của Traphaco [13] Sau đó Nguyễn Khắc Viện và cộng sự đã
tiếp tục nghiên cứu điều trị nấm da cho bộ đội. Kết quả cho thấy tốt 65.59%,
khá 22.58%, vừa 7.53% và kém là 4.30% [50].
Trong sách Bệnh nấm y học do Nguyễn Ngọc Thụy biên soạn ( 2004)
[44].đã đưa ra một số công thức điều trị bệnh nấm da bằng đông y đã được sử
dụng trên lâm sàng như:
- Cồn rễ cây Bạch hạc ( uy linh tiên, kiến cò): rễ cây Bạch hạc thái nhỏ,
giã nát 20 - 50gam, cồn etylic 70
0
vừa đủ 100ml. Ngâm trong 1 - 2 tuần, sau
lọc qua bông, lấy dịch bôi ngày hai lần vào tổn thương nấm.
- Cồn hạt muồng trâu: hạt muồng trâu giã nhỏ 30gam, cồn etylic 70
0
vừa
đủ 100ml. Ngâm trong 2 tuần, lọc lấy dịch bôi nấm