PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI GÀ ĐỒI CỦA HỘ NÔNG DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG - Pdf 48

bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o

trêng ®¹I häc n«ng nghiÖp Hµ NéI
-------------***---------------

tuthienbao.com
NGUYỄN VĂN LUẬN

PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI GÀ ĐỒI CỦA HỘ
NÔNG DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: kinh tÕ n«ng nghiÖp
Mã số

: 60.31.10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGÔ THỊ THUẬN

Hµ Néi - 2010

LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong
luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực
hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
được chỉ rõ nguồn gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của
cá nhân tôi (ngoài phần đã trích dẫn).

Nguyễn Văn Luận

i


MỤC LỤC
Lời cam đoan

1

Lời cảm ơn

1

Mục lục

2

Danh mục các chữ viết tắt

4

Danh mục bảng

5

Danh mục hình

7


Đối tượng nghiên cứu

3

1.5

Phạm vi nghiên cứu

4

2

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU

5

2.1

Lý luận về phát triển chăn nuôi gà đồi của hộ nông dân

5

2.2

Thực tiễn chăn nuôi gà trên Thế giới và ở Việt Nam

25

3


Tình hình chăn nuôi gà đồi huyện Yên Thế

65

4.1.2

Tình hình tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi gà đồi huyện Yên Thế

69

4.2

Thực trạng phát triển chăn nuôi gà đồi của các hộ nông dân Yên
Thế, tỉnh Bắc Giang

72

ii


4.2.1

Đặc điểm của các hộ chăn nuôi gà đồi huyện Yên thế

72

4.2.2

Thực trạng chăn nuôi gà đồi của các nhóm hộ nông dân


nông dân huyện Yên Thế cho những năm tới

4.4.2

119

123

Định hướng phát triển chăn nuôi gà đồi của hộ nông dân trong
thời gian tới

125

4.4.3

Một số giải pháp phát triển chăn nuôi gà đồi của hộ nông dân

127

5

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

133

5.1

Kết luận

133


CNH- HĐH

Công nghiệp hoá- hiện đại hoá

DT

Diện tích

ĐVT

Đơn vị tính

GO

Giá trị sản xuất

IC

Chi phí trung gian

KT- XH

Kinh tế xã hội

LĐGĐ

Lao động gia đình

MI


TĐVH

Trình độ văn hóa

TSCĐ

Tài sản cố định

iv


DANH MỤC BẢNG
STT
2.1

Tên bảng
Những đặc tính chung và riêng của gà

Trang

2.2

Quy trình phòng bệnh cho gà

18

2.3

Sản phẩm chăn nuôi thế giới giai đoạn 1975- 2005

Đặc điểm cơ bản của các phương thức chăn nuôi gà

38

3.1

Tình hình sử dụng đất đai của huyện Yên Thế qua 3 năm (2007 2009)

3.2

48

Tình hình dân số và lao động của huyện Yên Thế qua 3 năm
(2007 - 2009)

3.3

50

Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Yên Thế qua 3 năm
(2007-2009)

56

3.4

Số hộ điều tra theo qui mô chăn nuôi gà đồi huyện Yên Thế

60



4.5

Điều kiện sản xuất của các nhóm hộ điều tra

75

4.6

Tài sản, công dụng cụ phục vụ chính cho chăn nuôi gà

77

v


4.7

Phân tổ các hộ chăn nuôi theo hướng nuôi, giống và qui mô nuôi
79

4.8

Kết quả thăm dò ý kiến của hộ chăn nuôi gà về lợi ích của hộ khi
mua đầu vào từ nguồn cố định

4.9

90



Chi phí chăn nuôi gà đồi phân theo giống gà nuôi

102

4.15

Kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà đồi theo qui mô

105

4.16

Kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà đồi theo hướng sản
xuất- kinh doanh

108

4.17

Kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà đồi theo giống gà

110

4.18

So sánh các chỉ tiêu kết quả chăn nuôi gà đồi của hộ nông dân
huyện Yên Thế

120

80

4.3

Tỷ lệ hộ mua thức ăn chăn nuôi từ nguồn cố định

83

4.4

Tỷ lệ hộ mua thuốc và dịch vụ thú y từ nguồn cố định

86

4.5

Tỷ lệ hộ vay tín dụng cho chăn nuôi gà

88

DANH MỤC HỘP
TT
4.1

Tên hộp
Chất lượng con giống

Trang
81


nuôi là vấn đề rất nóng bỏng và cần thiết được quan tâm.
Chăn nuôi là một ngành sản xuất chính, chủ yếu có từ lâu đời và chủ
yếu của hộ nông dân ở nước ta. Chăn nuôi được coi là ngành sản xuất mang lại
nguồn thu chính cho nông dân giúp họ nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo
và vươn lên làm giàu. Đối với một tỉnh trung du miền núi như Bắc Giang, cơ sở
vật chất còn thấp kém, sản xuất nông nghiệp còn manh mún và chưa hiệu quả
thì chăn nuôi còn là nguồn sinh kế của nhiều hộ nông dân. Trong xu thế hội
nhập đầy khó khăn như hiện nay, vấn đề làm sao để chăn nuôi đem lại hiệu quả
cao với người nông dân nói chung và với nông dân Bắc Giang nói riêng là rất
cần thiết. Thực tế tại Bắc Giang chăn nuôi gà đồi đã và đang mang lại hiệu quả
khá cao và mang tính đặc thù riêng của huyện Yên Thế.
Yên Thế là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang. Với đặc điểm đất
đai đa dạng, huyện có khả năng phát triển chăn nuôi gia cầm cũng như cây
lương thực và các loại cây ăn quả, cây màu, cây công nghiệp có giá trị. Thực

1


hiện chương trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa, phát huy lợi thế vùng, hiện
nay huyện đang tập trung phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gà đồi
với việc xây dựng thương hiệu “gà đồi Yên Thế”. Do vậy, Yên Thế đã trở
thành địa phương có tổng đàn gà lớn nhất miền Bắc [Trà My, 2008] với rất
nhiều hộ chăn nuôi gà qui mô lớn từ 1000 - 5000 con/lứa và nhiều lứa/năm.
Sự phát triển chăn nuôi gà tại huyện không những đã góp phần xoá đói giảm
nghèo mà còn làm cho Yên Thế trở thành vùng chăn nuôi gà theo qui mô lớn,
mang đặc điểm của sản xuất hàng hoá.
Trong bối cảnh ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi gà nói riêng chịu
ảnh hưởng nhất định của các biến động kinh tế- xã hội, hiệu quả kinh tế luôn
là mối quan tâm hàng đầu của hộ nông dân. Chăn nuôi gà đồi là hình thức
chăn nuôi mang tính đặc thù của huyện nhưng cho đến nay các nghiên cứu về

- Chăn nuôi gà đồi của hộ nông dân huyện Yên Thế có những đặc trưng gì?
- Phát triển chăn nuôi gà đồi của hộ nông dân huyện Yên Thế hiện như

thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới phát triển chăn nuôi gà đồi của hộ
nông dân huyện Yên Thế?
- Phát triển chăn nuôi gà đồi của hộ nông dân huyện Yên Thế đang gặp
những khó khăn, thách thức gì ?
- Làm thế nào để nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững chăn
nuôi gà đồi của hộ nông dân huyện Yên Thế ?
1.4

Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về phát triển chăn nuôi gà đồi của hộ

nông dân huyện Yên Thế, cụ thể:
- Theo qui mô: Lớn, trung bình, nhỏ.
- Theo hướng sản xuất kinh doanh: Hộ kiêm ngành nghề, hộ thuần nông.
- Theo giống gà nuôi: Gà lai, gà ta.

3


1.5

Phạm vi nghiên cứu

1.5.1 Về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về
- Thực trạng chăn nuôi gà đồi của hộ nông dân huyện Yên Thế.

phát triển. Như vậy phát triển không chỉ bao hàm việc khai thác và chế biến
các nguồn tài nguyên, xây dựng cơ sở hạ tầng, mua và bán sản phẩm mà còn
bao gồm các hoạt động không kém phần quan trọng như chăm sóc sức khỏe,
an ninh xã hội, đặc biệt là an ninh con người, bản tồn thiên nhiên,… phát triển
là một tổ hợp các hoạt động, một số mục tiêu xã hội, một số mục tiêu kinh tế,
dựa trên tài nguyên thiên nhiên, vật chất, trí tuệ nhằm phát huy hết khả năng
của con người, được hưởng một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Tuy có nhiều quan niệm về sự phát triển, nhưng tựu trung lại các ý kiến
đều cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh
thần, phạm trù về hệ thống giá trị của con người. Mục tiêu chung của phát
triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quyền
tự do công dân của mọi người dân.
Khái niệm về phát triển bền vững đã được ủy ban môi trường và phát
triển thế giới đưa ra năm 1987 như sau: “Những thế hệ hiện tại cần đáp ứng
nhu cầu của mình, sao cho không phương hại đến khả năng của các thế hệ

5


tương lai đáp ứng nhu cầu của họ”. Phát triển bền vững lồng ghép các quá
trình hoạt động kinh tế, hoạt động xã hội với việc bảo tồn tài nguyên và làm
giầu môi trường sinh thái. Nó đáp ứng nhu cầu phát triển hiện tại nhưng
không làm ảnh hưởng bất lợi cho thế hệ mai sau.
Theo chúng tôi khái niệm về phát triển bền vững của ủy ban môi trường
thế giới là đầy đủ. Với bất cứ một quá trình phát triển nào cũng phải đặc biệt
chú ý đến tính bền vững, có như vậy thì phát triển mới lâu dài và ổn định.
2.1.1.2 Khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế được coi là tiền đề cần thiết cho sự phát triển. tăng
trưởng kinh tế được quan niệm là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản
lượng nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Do vậy, để biểu thị sự tăng

tài sản cố định và tài sản lưu động trên cơ sở kỹ thuật như trước. Trong điều
kiện một nước kinh tế chậm phát triển, những tiềm năng kinh tế chưa được
khai thác và sử dụng hết, nhất là nhiều người lao động chưa có việc làm thì
phát triển kinh tế theo chiều rộng là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, nhưng
đồng thời phải coi trọng phát triển kinh tế theo chiều sâu. Tuy nhiên, phát
triển kinh tế theo chiều rộng có những giới hạn, mang lại hiệu quả kinh tế - xã
hội thấp. Vì vậy, phương hướng cơ bản và lâu dài là phải chuyển sang phát
triển kinh tế theo chiều sâu
* Phát triển kinh tế theo chiều sâu: Phát triển kinh tế chủ yếu nhờ đổi mới
thiết bị, áp dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao trình độ kĩ thuật, cải tiến tổ
chức sản xuất và phân công lại lao động, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các
nguồn nhân tài, vật lực hiện có. Trong điều kiện hiện nay, những nhân tố phát
triển theo chiều rộng đang cạn dần, cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật trên
thế giới ngày càng phát triển mạnh với những tiến bộ mới về điện tử và tin
học, công nghệ mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học đã thúc đẩy các nước
coi trọng chuyển sang phát triển kinh tế theo chiều sâu. Kết quả phát triển
kinh tế theo chiều sâu được biểu hiện ở các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế,
tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm hàm lượng vật tư và

7


tăng hàm lượng chất xám, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của
đồng vốn, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đầu người.
Ở Việt Nam và một số nước chậm phát triển, do điều kiện khách quan
có tính chất đặc thù, kinh tế chậm phát triển, nên phát triển kinh tế theo chiều
rộng vẫn còn có vai trò quan trọng. Nhưng để mau chóng khắc phục sự lạc
hậu, đuổi kịp trình độ phát triển chung của các nước trên thế giới, trước hết là
các nước trong khu vực, phát triển kinh tế theo chiều sâu phải được coi trọng
và kết hợp chặt chẽ với phát triển theo chiều rộng trong phạm vi cần thiết và

cả lồng vào nhau, tạo nên tính chất đồng thuận hay không đồng thuận trong
quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Chính vì vậy mà người ta
không thể phân biệt và đánh giá phạm vi, mức độ tác động của từng nhân tố
đến nền kinh tế.
Có rất nhiều nhân tố phi kinh tế tác động đến tăng trưởng và phát triển
như: Thể chế chính trị – xã hội, cơ cấu gia đình, dân tộc, tôn giáo trong xã
hội, các đặc điểm tự nhiên khí hậu, địa vị của các thành viên trong cộng đồng
và khả năng tham gia của họ vào quản lý phát triển đất nước.
Như vậy để tạo ra sự tăng trưởng và phát triển sản xuất chúng ta không
những chỉ chú ý đến các yếu tố vật chất của sản xuất mà cần quan tâm đến các
thể chế, chính sách, cách tổ chức của người nông dân (hay còn gọi là các yếu
tố phi kinh tế).
2.1.1.3 Khái niệm về sản xuất
Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người.
Sản xuất xã hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra
bản thân con người. Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó sản
xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Trong sản xuất
con người phải đấu tranh với thiên nhiên, tác động lên những vật chất làm
thay đổi những vật chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm và những

9


của cải vật chất khác phục vụ cuộc sống.
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài
nguyên hoặc các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ
(đầu ra). Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ thống với trình độ
sử dụng đầu vào hợp lý, người ta mô tả mối quan hệ giưa đầu vào và đầu ra
bằng một hàm sản xuất:

là yếu tố cố đinh lại bị giới hạn về quy mô, nên người ta phải đầu tư thêm vốn
và lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
đai. Các loại tài nguyên khác trong lòng đất như khoáng sản, tài nguyên rừng,
biển và tài nguyên thiên nhiên đều là những đầu vào quan trọng của sản xuất.
+ Khoa học và công nghệ: Quyết định đến sự thay đổi năng suất lao
động và chất lượng sản phẩm. Những phát minh sáng tạo mới được ứng dụng
trong sản xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc, độc hại cho người lao
động và tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế
của xã hội.
+ Ngoài ra còn một số yếu tố khác: quy mô sản xuất, các hình thức tổ
chức sản xuất, mối quan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành,
giữa các thành phần kinh tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường
tiêu thụ sản phẩm… cũng có quyết định tới quá trình sản xuất.
2.1.2 Lý luận về kinh tế hộ nông dân
2.1.2.1 Các khái niệm
- Hộ gia đình: Theo Trai A Nốp nhà kinh tế của Nga thì hộ gia đình
được dùng để biểu thị các thành viên của nó có chung huyết tộc, quan hệ hôn
nhân và có chung một cơ sở kinh tế.
- Hộ nông dân: Theo Ellis năm 1988, thì hộ nông dân là hộ có phương tiện
kiếm sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất, luôn
nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi

11


sự tham gia từng phần vào thị trường với mức độ hoàn hảo không cao.
- Kinh tế hộ nông dân: là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản
xuất xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu
sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ, ngủ
chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất- kinh doanh và đời

Trước đây chăn nuôi gà trong mỗi gia đình ở nước ta chủ yếu là chăn thả đơn
thuần, qui mô nhỏ lẻ, chỉ đảm bảo một phần nào đó cho nhu cầu của gia đình,
hoàn toàn chưa có ý thức trở thành nhu cầu trao đổi hàng hoá.
Chăn nuôi gà truyền thống là hình thức chăn thả tự nhiên và hiện nay
nó vẫn còn tồn tại ở hầu hết các vùng nông thôn của các nước đang phát
triển và các nước chậm phát triển. Việt Nam là một nước nông nghiệp với
gần 80% dân số sống ở nông thôn, việc chăn nuôi gà theo phương thức này
vẫn là chủ yếu.
Đặc điểm của phương thức chăn nuôi này là: đầu tư vốn ít, thời gian
nuôi kéo dài. Do chăn thả tự do, tận dụng cùng với môi trường không đảm
bảo vệ sinh nên vật nuôi tăng trưởng kém, dễ bị mắc bệnh, hiệu quả chăn nuôi
không cao. Gần một thế kỷ qua do sự gia tăng về dân số, sự phát triển mạnh
mẽ về khoa học, kỹ thuật trên toàn thế giới và trong mọi lĩnh vực, ngành chăn
nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng cũng không ngừng phát
triển. Từ chăn nuôi theo phương thức quảng canh, chăn thả tự nhiên đã
chuyển sang phương thức chăn nuôi theo hướng hàng hoá qui mô lớn, nhằm
đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của toàn xã hội. Những đột phá về mặt công
nghệ tạo con giống, thức ăn, thiết bị chuồng trại cũng như kỹ thuật chăm sóc
nuôi dưỡng đã tạo đà cho ngành chăn nuôi phát triển. Phương thức sản xuất
cũ đã không còn phù hợp nữa và dần dần được thay thế bằng phương thức
chăn nuôi mới cho năng suất, hiệu quả cao hơn.
Chăn nuôi gà đồi của hộ nông dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang có thể
hiểu: "là phương thức chăn nuôi dựa trên cơ sở thâm canh, tăng năng suất
trên một đơn vị diện tích chuồng trại, sử dụng các giống gà lai để tạo ra năng

13


suất, hiệu quả cao trong cùng một thời gian, cùng với sự đầu tư về trang thiết
bị máy móc, chuồng trại trong chăn nuôi. Thức ăn được sử dụng trong chăn

- Về chuồng trại và bãi chăn thả: Chuồng trại được thiết kế, xây dựng
theo qui mô lớn, phải đảm bảo ấm áp, khô ráo trong mùa đông và thoáng mát
về mùa hè; diện tích chuồng nuôi không quá 8 con/m 2; đáp ứng tốt cho việc
sinh trưởng và phát triển của vật nuôi. Các điều kiện sống cho vật nuôi như
chế độ ánh sáng, nhiệt độ, nước được cung cấp chủ động, khoa học và phù
hợp với từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển. Trong chăn nuôi gà đồi, các
điều kiện về môi trường sống cho vật nuôi trong mỗi thời kỳ sinh trưởng và
phát triển luôn được đảm bảo tối ưu nhất là giai đoạn đầu của gà (từ tuần đầu
cho đến tuần thứ 6) và hoàn toàn chủ động, không phụ thuộc vào các điều
kiện môi trường khí hậu bên ngoài. Nhìn chung về chuồng trại trong chăn
nuôi gà đồi ở giai đoạn đầu có vai trò hết sức quan trọng vì nó thường xuyên

15


được tập trung một mật độ cao các con vật nuôi trong một không gian hẹp, do
đó chuồng trại phải được bố trí một cách khoa học nhằm tạo ra một môi
trường sống phù hợp từng giai đoạn tăng trưởng và phát triển của vật nuôi;
bãi thả có độ dốc 50 - 450 là tốt nhất, khô thoáng không đọng nước, diện tích
tối thiểu 3m2/ gà, các bãi thả phải chia nhiều khu để chăn thả luân phiên.
Người nuôi phải vệ sinh sau mỗi lứa nuôi, sát trùng chuồng nuôi và bãi
thả 2 đến 3 lần trước khi nuôi. Chất độn chuồng trước khi nuôi cũng được khử
trùng và đảm bảo không có mầm bệnh.
- Về hình thức chăn nuôi: Trong phương thức chăn thả truyền thống,
vật nuôi được chăn thả tự do, mang nặng tính quảng canh tận dụng. Đối với
chăn nuôi thả đồi, để đạt được hiệu quả kinh tế cao và hạn chế mức tối đa
những ảnh hưởng bất lợi từ môi trường đến quá trình sản xuất nên đã sử dụng
hình thức nhốt hoàn toàn trong giai đoạn đầu với hệ thống chuồng trại hiện
đại nhằm chủ động về môi trường sống cho vật nuôi (trong giai đoạn này vật
nuôi dễ bị mắc bệnh do môi trường mang lại).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status