1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chậm phát triển tâm thần (CPTTT) là một nhóm bệnh lý có bệnh cảnh
lâm sàng giống nhau, biểu hiện tình trạng ngưng phát triển hoặc phát triển
không hoàn thiện hoạt động trí tuệ, đặc trưng bởi khả năng nhận thức, ngôn
ngữ, vận động và khả năng thích ứng xã hội [1].
Trẻ có trí tuệ dưới mức trung bình, khả năng tư duy chậm, khả năng
học tập của trẻ chậm hơn so với bạn cùng lứa tuổi, chậm phát triển kỹ năng
“thích ứng” như: giao tiếp, tự chăm sóc, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày,
kỹ năng xã hội, tham gia cộng đồng, tự định hướng, sức khoẻ và an toàn do
đó trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong học tập, làm việc.
CPTTT được chia ra nhiều mức độ từ rất nặng đến nhẹ. Ở mức độ
nặng, việc chẩn đoán không có gì khó khăn, bệnh cảnh lâm sàng khá rõ ràng,
vấn đề can thiệp điều trị khó đạt được kết quả tốt. Trái lại, chẩn đoán CPTTT
nhẹ khó khăn vì bệnh cảnh lâm sàng nhiều khi không rõ ràng, khó có thể phân
biệt với bình thường hoặc CPTTT mức độ vừa.
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) tỷ lệ CPTTT khoảng 4,6% dân số
các nước đang phát triển và khoảng 0,5 - 2,5% dân số ở các nước có nền kinh
tế ổn định [1]. Ở Việt Nam theo số liệu điều tra 10 bệnh tâm thần thường gặp,
thì tỷ lệ CPTTT là 0,67% dân số [2].
CPTTT nhẹ chiếm tỷ lệ 0,8 - 2,4% trong dân số và chiểm 1,2 - 4%
trong số trẻ tuổi học đường. Đây là dạng bệnh lý gặp phổ biến nhất trong tổng
số những người CPTTT (khoảng 80%) [3].
2
Chậm phát triển tâm thần ngoài các biểu hiện đặc trưng của bệnh
thường kèm theo nhiều rối loạn tâm thần khác như tự kỷ, tăng động giảm chú
CPTTT chiếm tỷ lệ cao trong dân số, theo Zensen là 1 đến 3%. Tỷ lệ
chung của CPTTT ở trẻ tuổi đi học dao động từ 1,5 đến 5,5% tùy theo mỗi
các công trình nghiên cứu [5]. Với tỷ lệ cao như vậy, CPTTT được đặc biệt
chú ý trong ngành tâm thần học nói riêng, trong y học nói chung cũng như
nhiều ngành khác như giáo dục, lao động, thương binh xã hội...
Theo ICD-10: CPTTT được định nghĩa là một tình trạng ngưng phát
triển hoặc phát triển không hoàn thiện hoạt động trí tuệ, đặc trưng bởi khả
năng nhận thức, ngôn ngữ, vận động và khả năng thích ứng xã hội [1].
Theo DSM-IV: CPTTT được định nghĩa là hoạt động trí tuệ dưới mức
trung bình một cách đáng kể kèm theo sự hạn chế rõ ràng khả năng thích
nghi, khởi phát trước 18 tuổi [6].
Cho đến nay khái niệm về trẻ CPTTT được sử dụng rộng rãi trên thế giới
và ở Việt Nam là khái niệm CPTTT theo bảng phân loại ICD-10 và DSM-IV.
Hai định nghĩa này đều sử dụng các tiêu chí cơ bản giống nhau là: Hoạt động
trí tuệ dưới mức trung bình, hạn chế về kỹ năng thích ứng, khuyết tật xuất
hiện trước 18 tuổi.
1.2. Lịch sử nghiên cứu và phân loại bệnh
1.2.1. Lịch sử nghiên cứu
Tài liệu sớm nhất về chậm phát triển tâm thần (CPTTT) tìm thấy ở Ai
Cập, được viết vào năm 1552 trước Công nguyên. Trong y học, hàng trăm
năm trước Công nguyên, Hippocrates và Confucius đã đưa ra những mô tả
đầu tiên về CPTTT [7].
4
Năm 1885, James Mc Keen Cattell đưa ra mười thử nghiệm gọi là các
trắc nghiệm về trí tuệ. Đây là những trắc nghiệm nhằm xác định tốc độ của
các phản xạ, thời gian cần thiết để cảm nhận một số kích thích, mức độ phải
ấn vào da để gây đau, số lượng chữ nhớ được sau khi nghe một loạt các thông
+ Không có khả năng khái quát từ những trường hợp cụ thể, chỉ biết bắt
chước theo những hành động cụ thể.
+ Kể chuyện không có đầu hay cuối, không hiểu hết tiếng nói của mọi
người xung quanh, vốn từ khoảng 200 - 300 từ.
+ Trí nhớ yếu, chóng quên, chóng mệt.
+ Tính tình hay thay đổi, phản ứng cảm xúc đơn giản.
+ Không chủ động và không có sáng kiến.
+ Có thể tự phục vụ, làm việc đơn giản, có thể dạy đọc và viết. Cần quan
tâm kiểm soát, trợ giúp thường xuyên.
- Mức 3: Nhẹ
+ Khả năng tư duy khái quát kém.
+ Trong trường hợp cụ thể có thể tư duy được.
+ Khi đọc không nhớ hết ý nghĩa, nội dung bài đọc.
+ Khi so sánh khó thiết lập quan hệ giữa các sự vật hiện tượng.
+ Trí nhớ yếu, chóng quên, có khả năng ghi nhớ máy móc.
+ Chú ý không bền, dễ phân tán.
+ Nói viết sai, dễ sai ngữ pháp, vốn từ nghèo, giao tiếp bị hạn chế.
+ Có khả năng tổ chức trò chơi đơn giản và biết đánh giá trong hoàn
cảnh cụ thể.
+ Có thể tự ý thức, thái độ cảm xúc với những người xung quanh.
+ Có thể thích ứng với xã hội, học nghề
+ Dễ bị sai khiến.
6
1.2.2.2. Theo DSM - IV [6]: sử dụng chỉ số trí tuệ làm tiêu chí để phân loại
mức độ CPTTT. Có 4 mức độ CPTTT là:
+ Nhẹ:
nhiều hơn là hỗ trợ mở rộng hay hỗ trợ hạn chế.
Có nhiều cách phân loại mức độ CPTTT khác nữa nhưng ở nước ta
hiện nay các chuyên gia, các thầy cô giáo và các cán bộ nghiên cứu trong lĩnh
vực giáo dục đặc biệt đang sử dụng cách phân loại mức độ CPTTT theo
DSM-IV [6],[11].
7
1.3. Dịch tễ
Theo Tổ chức Y tế thế giới, tần suất CPTTT khoảng 1-3% [1]. Tần suất
này có thể thay đổi tùy theo tiêu chuẩn và phương pháp sử dụng để điều tra,
cũng như độ tuổi của mẫu nghiên cứu.
Về khu vực: CPTTT đã được ghi nhận ở nhiều khu vực và quốc gia
khác nhau:
- Châu Mỹ: Theo dữ liệu của Ngành Giáo dục Mỹ năm 1998, tần suất
trẻ CPTTT là 1%. Tần suất CPTTT tại Bra-xin là 1,67% [12].
- Châu Âu: Tại Phần Lan, một điều tra của R. Matilainen và cộng sự
trên 12.882 trẻ em tuổi học đường cho thấy tần suất CPTTT là 1,38%. Trong
khi đó, tần suất CPTTT ở Na Uy tương đối thấp, nghiên cứu của P. Stromme
có tần suất chỉ 0,62% [13], [14].
- Châu Úc: Nghiên cứu của D. Wellesley trên 1602 trẻ từ 6 đến 16 tuổi
tại miền Tây nước úc có tần suất CPTTT là 0,76% [15].
- Châu Phi: Một nghiên cứu của Christianson và cộng sự thực hiện trên
6692 trẻ em tại Nam Phi cho thấy tần suất CPTTT là 2,97% [16].
- Châu Á: Nghiên cứu của J.W. Hou cho thấy tần suất CPTTT ở trẻ từ
6- 18 tuổi tại Đài Loan (năm 1998) là 2,8%. Tần suất CPTTT ở trẻ em tại Ảrập Xê-út là 0,89% [17].
Nhìn chung, tần suất CPTTT ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều
không quá 3%. Tuy nhiên, tại Pakistan tần suất CPTTT cao hơn các nước
khác rất nhiều: nghiên cứu của M.S. Durkin và cộng sự tại Karachi cho thấy
1.4.1.1. Bất thường nhiễm sắc thể [27],[28],[29].
Hội chứng Down: Là nguyên nhân hàng đầu bệnh CPTTT chiếm 10%
CPTTT. Bệnh do thừa một NST ở cặp 21 (Trisomine 21).
Hội chứng NST dễ gãy: Là nguyên nhân thường gặp thứ 2 của CPTTT. Do
sự đột biến trên NST X đặc trưng bởi sự dễ gãy của cánh dài NST X.
Hội chứng Prader – Willi: Do mất đi một phần nhỏ NST 15. Bệnh biểu
hiện hành vi ăn uống cưỡng bức và thường béo phì, CPTTT từ nhẹ đến
9
nặng, vóc dáng nhỏ bé, các bàn tay bàn chân nhỏ, giảm trương lực cơ,
nhược năng tình dục. Thường có hành vi chống đối và bướng bỉnh.
Hội chứng mèo kêu: Thiếu một phần NST 5. CPTTT nặng đến trầm trọng
kèm nhiều dấu hiệu: đầu nhỏ, mắt tròn xếch, xa nhau, tai đóng thấp. Đặc
điểm là tiếng khóc tương tự tiếng mèo kêu do bất thường thanh quản.
1.4.1.2. Bất thường về di truyền và rối loạn chuyển hóa di truyền [30],[31].
Phenylketone niệu (PUK): Là bệnh di truyền lặn trên NST thường. Bệnh
nhân không có khả năng chuyển Phenylalanine thành Paratyrosine do thiếu
hoặc bất hoạt một enzyme của gan. Vì vậy tỷ lệ Phenylalanine tăng trong
máu và acid phenylpyruvique tăng trong nước tiểu. Hầu hết bệnh nhân có
CPTTT nặng, có biểu hiện tăng động, hành vi không đoán trước được và
kiểm soát được. Tính nóng nảy bùng nổ, thường có các cử động cơ thể và
chi trên kỳ dị (bàn tay xoắn vặn). Giao tiếp bằng lời/không bằng lời thường
suy giảm nghiêm trọng. Có thể có chàm, nôn, co giật cơ, giảm sắc tố da ở
tóc, mắt, da, mùi hôi bất hường của nước tiểu.
Galactosemie: Là bệnh di truyền hiếm gặp do tăng Galactose trong máu do
khiếm khuyết enzym của gan cần thiết cho sự chuyển hóa galactose. Bệnh
thường xuất hiện trong những ngày đầu của cuộc sống sau khi bú sữa
mẹ/sữa bình. nôn, gan to, vàng da, dễ bị kích thích, không tăng cân và tiêu
Hội chứng nhiễm độc rượu thai: chiếm khoảng 15% trẻ được sinh ra từ các
bà mẹ thường tiêu thụ một lượng lớn rượu trong thời gian mang thai bị hội
chứng nhiễm độc rượu thai với biểu hiện CPTTT và biến dạng khuôn mặt:
đầu nhỏ, hai mắt xa nhau, khe mắt ngắn, mũi ngắn và hếch. Thường trẻ bị
rối loạn học, rối loạn tăng động giảm chú ý. Khiếm khuyết tim thường gặp.
1.4.1.4. Chấn thương [27]:
- Chấn thương trong bụng mẹ
- Chấn thương trong cuộc đẻ: tổn thương não và mạch máu não do mẹ
đẻ khó (đẻ hỗ trợ bằng forcep).
- Chấn thương đầu trầm trọng sau sinh hoặc do ngạt.
11
1.4.1.5. Yếu tố môi trường – xã hội:
- Nghèo nàn, kinh tế xã hội thấp: Nghiên cứu thấy rằng tần suất CPTTT
cao ở những nơi nghèo nàn và kinh tế xã hội thấp. Các tác giả này đều cho
rằng nguyên nhân chủ yếu của sự gia tăng quá mức về tần suất CPTTT tại
Pakistan là do tình trạng kinh tế xã hội còn chậm phát triển [19]. Nguyễn Đức
Khoa nghiên cứu ở 89 trẻ CPTTT từ 6 – 16 tuổi thấy tỷ lệ trẻ ở nông thôn cao
hơn thành thị có ý nghĩa thống kê [20].
- Quan hệ giữa bố mẹ và con: Môi trường gia đình là rất quan trọng cho
sự phát triển trí tuệ của trẻ, nhất là trong những năm đầu của cuộc đời. Những
trẻ thông minh thường gắn bó với bố mẹ và được bố mẹ chú ý đến thành tích
học tập của con. Totsika V (2014) nghiên cứu 516 trẻ CPTTT ở độ tuổi 5 thấy
rằng tăng xung đột cha mẹ và con cái có liên quan đến vấn đề hành vi, trẻ ít
có RLHV hơn nếu quan hệ giữa cha mẹ và trẻ gần gũi hơn [32].
1.4.2. Bệnh sinh
Sự phát triển tâm thần của con người phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản:
Yếu tố thể chất, chủ yếu là hệ thần kinh trung ương, đó là tiên đề không thể
lại một cách chặt chẽ. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến hai yếu tố này đều có
khả năng gây nên tình trạng CPTTT của trẻ.
1.5. Lâm sàng – Cận lâm sàng
1.5.1. Lâm sàng [27]
Đặc điểm lâm sàng của CPTTT Theo Tổ chức Y tế thế giới [1], CPTTT
là tình trạng ngừng phát triển hoặc phát triển không hoàn toàn của trí tuệ, được
đặc trưng bởi sự suy giảm của các kỹ năng trong suốt thời kỳ phát triển có ảnh
hưởng đến mức độ thông minh chung, ví dụ các năng lực nhận thức, ngôn ngữ,
vận động và xã hội. Sự CPTTT này có thể có hoặc không kèm theo các rối loạn
thể chất và tâm thần khác. Hành vi thích ứng của người CPTTT luôn luôn bị
suy giảm, nhưng trong môi trường xã hội được bảo vệ và có sự nâng đỡ tốt thì
sự suy giảm này có thể không được nhận thấy ở người CPTTT nhẹ.
13
1.5.1.1. Dấu hiệu gợi ý trẻ chậm phát triển trí tuệ
- Không đạt các mốc phát triển trí tuệ bình thường.
- Tồn tại dai dẳng hành vi trẻ con.
- Thiếu sự tò mò.
- Khả năng học tập bị hạn chế.
- RLHV: đập phá, đập đầu vào vật...
1.5.1.2. Biểu hiện lâm sàng của trẻ chậm phát triển trí tuệ
CPTTT là một trạng thái bệnh lý tương đối ổn định và nhìn chung nó
không mang tính chất tiến triển. CPTTT có thể bẩm sinh hay mắc phải và thường
xuất hiện trong những năm đầu đời. Đó là hậu quả của nhiều quá trình bệnh lý
khác nhau. Vì vậy, ngoài các triệu chứng lâm sàng đặc trưng chung, tùy từng
nguyên nhân cụ thể mà CPTTT có thể có thêm các biểu hiện lâm sàng khác nhau.
Biểu hiện lâm sàng của CPTTT vừa, nặng hoặc trầm trọng tương đối
rõ. Tuy nhiên, những trường hợp CPTTT nhẹ thì rất khó phát hiện, đặc biệt là
hành và mở rộng sự quan hệ với các bạn bè cùng tuổi. Những trường hợp
nặng hơn, có thể không thể giao tiếp, không tự chăm sóc bản thân được, đại
tiểu tiện bừa bãi, sống đời sống thực vật,...
- Rối loạn hành vi của trẻ CPTTT:
Trong quá trình phát triển ở trẻ CPTTT thường xuất hiện một số hành
vi(HV) không bình thường. Những HV bất thường của trẻ không những đã ảnh
hưởng rất lớn đến sự phát triển của chính bản thân đứa trẻ mà còn là mối lo ngại
thực sự đối với cha mẹ và các nhà sư phạm. Các nhà tâm lý - giáo dục đang hết
sức quan tâm, họ đang cố gắng tìm ra những biện pháp điều chỉnh những HV
của trẻ. Ở các nước phát triển, vấn đề HV của trẻ được quan tâm rất sớm. Theo
một nghiên cứu gần đây, năm 2013 các tác giả đã khảo sát các rối loạn tâm thần
phối hợp ở 262 trẻ 3-18 tuổi mắc CPTTT cho thấy RLHV gặp nhiều nhất chiếm
80,9%, đặc biệt ở nhóm có IQ từ 35 – 69 [4]. Các vấn đề về HV của trẻ em ngày
nay đang được xã hội đặc biệt chú ý, nhất là đối tượng trẻ em chậm phát triển.
Đặc trưng để chẩn đoán hành vi bất thường:
- Hành vi phải được nhận định dựa trên những đặc điểm bình thường của
lứa tuổi và nền văn hóa.
15
- RLHV có thể kết hợp với những stress ở nhà và ở trường.
Quan niệm về hành vi bất thường của trẻ CPTTT:
Thế nào là hành vi bất bình thường? đó là một vấn đề cần phải xác định
thật rõ ràng và chính xác về mặt khoa học. Thực tế, đã có rất nhiều thay đổi
về định nghĩa “hành vi bất bình thường”. Tuy nhiên các nhà tâm lý đã đưa ra
một số giải thích về vấn đề này như sau: Hành vi được xem là bất thường
khi lệch khỏi mức trung bình.
Bất thường là thiếu khả năng hành xử hữu hiệu: hầu hết con người được
sinh ra và lớn lên đều trở thành những thành viên hữu dụng trong xã hội, có
- Rối loạn giấc ngủ: thường gặp trẻ mất ngủ, hay thức dậy lúc nửa đêm. Tỷ lệ
phổ biến của rối loạn giấc ngủ ở trẻ em là 20% đến 30%, và có thể tăng lên
80% ở trẻ em CPTTT [40].
- Kích động, phá hoại: Có nhiều loại khác nhau: a) đối với người khác (ví dụ,
đánh, cắn, đá); b) hành vi phá hoại/ phá hoại (ví dụ, phá vỡ cửa sổ, la hét,…),
và c) đối với bản thân (ví dụ như HV tự gây thương tích, bao gồm cắn, tự
đánh, đầu đập). Trẻ em CPTTTcó biểu hiện HV hung hăng thường xuyên hơn
so với trẻ em có trí thông minh trung bình [41].
- Hành vi tự gây thương tích: đã được định nghĩa là một phản ứng gây
thương tích cho cơ thể của cá nhân như tre tự cắn móng tay, bứt tóc, tự cào xước
cơ thể, cấu vào da, cấu vào mũi, đập đầu vào tường,…. Ở trẻ em, thường được
báo cáo gắn với thiểu năng trí tuệ (báo cáo suất từ 7% đến 22%) [42].
- Tặng động giảm chú ý [39]
+ Trẻ không thể tập trung, không thể chú ý trong một thời gian dài, dễ
bị xao nhãng bởi khích thích bên ngoài. Do đó trẻ không có khả năng hoàn
thành một công việc làm từ đầu cho đến khi kết thúc.
+ Trẻ khó tập trung vào các chi tiết, thường mắc lỗi do cẩu thả khi làm
bài tập. Công việc thường lộn xộn, được thược hiện môt cách cẩu thả và
không được cân nhắc kỹ.
+ Trẻ thường chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác mà không
hoàn thành việc nào cả.
17
+ Trẻ thường không theo dõi hết các chỉ dẫn hoặc hướng dẫn bằng lời
của giáo viên, khó có thể kiềm chế phản ứng, không kiên nhẫn, khó đợi đến
lượt mình. Đặc biệt trẻ không thích hoặc chỉ miễn cưỡng tham gia vào các
hoạt động phải duy trì sự nỗ lực trí tuệ.
Trẻ bị tăng động/giảm chú ý thường hay bị đãng trí và không thể hướng
+ Tính khí buồn bã kéo dài nhiều ngày
+ Giảm mức quan tâm hoặc thích thú đối với các hoạt động thường ngày
+ Có cảm giác mình chẳng ra gì hoặc cảm giác tội lỗi
+ Thường kèm theo triệu chứng: mất ngủ hoặc ngủ li bì, kéo dài,
thường xuyên mệt mỏi có cảm giác hết hơi, giảm khả năng suy nghĩ tập trung,
có thể nghĩ đến sự chết chóc.
Tình huống có thể đưa trẻ đến tình trạng lo âu là do tách mẹ, phải đến
trường, chuyển lớp, chuyển trường, mất mát người thân… Tác giả Green SA
(2014) nghiên cứu trên 74 trẻ CPTTT và 116 trẻ phát triển bình thường 5-9 tuổi
dựa vào bảng kiểm DBC-P thấy trẻ CPTTT có tỷ lệ lo lắng cao hơn và mức độ
nhóm RLHV về lo âu cao hơn so với nhóm trẻ phát triển bình thường [44].
- Rối loạn dạng cơ thể: Các triệu chứng bao gồm các rối loạn chức năng mà
không tìm thấy một bằng chứng thực tổn nào.
+ Trẻ có cảm giác đôi khi chóng mặt, choáng váng, không làm chủ
được các cử động của cơ thể. Sau đó là cảm giác mệt mỏi kéo dài.
+ Đôi khi trẻ cảm giác đau ở một vùng nào đấy trên cơ thể mà không
biết chính xác chỗ nào. Đau đầu, đau bụng, đau dạ dày là những biểu hiện
thường xuyên hoặc trẻ có những cơn co giật nhưng lại không rõ nguyên nhân
và không thể can thiệp bằng y tế được.
- Hành vi rập khuôn, định hình: các động tác cử chỉ, lời nói lặp đi lặp lại
như lắc lư đầu, nhại lời, gặm đồ vật, nháy mắt, hoặc trẻ có những tiếng kêu
không thành tiếng, kêu giống súc vật, tặc lưỡi….Những HV này tăng lên khi
có yếu tố cảm xúc và giảm bớt đi khi bị việc khác tác động lôi cuốn.
19
1.5.2. Đánh giá tâm lý [27]
Được thực hiện bởi nhà tâm lý có kinh nghiệm được xem như một phần
để chẩn đoán bệnh, đánh giá RLHV-CX:
nghi hiện tại (nghĩa là khả năng của đương sự trong việc đáp ứng với chuẩn
mực phù hợp với lứa tuổi trong nền văn hóa của mình) liên quan đến ít nhất
hai trong các lĩnh vực sau: giao tiếp, tự chăm sóc bản thân, cuộc sống tại gia
đình, các kỹ năng xã hội, quan hệ với người khác, sử dụng các phương tiện
công cộng của cộng đồng, trách nhiệm cá nhân, các kỹ năng học đường, làm
việc, giải trí, sức khỏe và an toàn.
C. Khởi phát dưới 18 tuổi.
1.6.2. Chẩn đoán mức độ
Dựa vào thương số thông minh, khả năng thích ứng xã hội, người ta
chia CPTTT thành 4 mức độ:
1.6.2.1. CPTTT mức độ nhẹ: IQ = 50 - 55 đến xấp xỉ 70.
Thường gặp nhất, chiếm tỷ lệ khoảng 80% các trường hợp CPTTT,
thường không kết hợp với bất kỳ bệnh nội khoa tổng quát.
- Có thể không được chẩn đoán cho đến khi trẻ đi học do các kỹ năng
xã hội và giao tiếp phát triển và có thể đủ dùng ở giai đoạn trước tuổi đi học.
- Có thể đạt được kỹ năng học tập tương đương xấp xỉ trình độ lớp 6.
- Thường có thể tự chăm lo bản thân và sống độc lập và sống độc lập trong
cộng đồng hoặc chỉ cần một sự giám sát tối thiểu, có thể đạt được mức thành công
về nghề nghiệp và xã hội nào đó trong một môi trường được nâng đỡ.
- Có thể có các khó khăn trong kiểm soát xung động và tự đánh giá bản thân.
- RL cư xử (có thể bị lợi dụng bởi những người ngang hàng).
- RL liên quan đến chất và ADHD thường gặp CPTTT nhẹ hơn trong
dân số chung.
1.6.2.2. CPTTT mức độ trung bình: IQ = 35 - 40 đến xấp xỉ 50-55.
- Chiếm tỷ lệ 12%.
- Rất có thể được chẩn đoán ở lứa tuổi nhỏ hơn so với CPTTT mức độ nhẹ.
21
- Đòi hỏi được giám sát thường xuyên liên tục, việc chăm sóc nuôi
dưỡng là cần thiết.
1.6.3. Chẩn đoán phân biệt [27]
1.6.3.1. Chậm phát triển tâm thần giả
Các tình huống trong đó trẻ không biểu hiện được năng lực thật sự
nghĩa là khả năng trí tuệ thực.
* Ức chế cảm xúc: các tình huống bị sang chấn hoặc bị bỏ rơi trong thời thơ
ấu hoặc thiếu sót về tình cảm sớm hoặc có xung đột gia đình hoặc lệ thuộc
quá nhiều vào mẹ.
Nhìn chung trẻ có biểu hiện CPTTT nhẹ (kèm biểu hiện ức chế) nhưng
CPTTT có sự cải thiện sau điều trị.
* Môi trường văn hóa xã hội nghèo nàn: thiếu giáo dục, thiếu cơ hội học hỏi
và trải nghiệm (không được đến trường, chuyển chỗ ở, cách ly xã hội).
Trong các tình huống này, biểu hiện CPTTT tương đối nhất, có thể
cải thiện nếu được sống trong môi trường thuận lợi, kích thích phong phú
lúc còn nhỏ.
* Khiếm khuyết các giác quan: đặc biệt giảm thính lực và thị lực nếu không
được chẩn đoán có thể là nguyên nhân của các khó khăn trong việc học, có
thể bị chẩn đoán lầm CPTTT.
* Chậm phát triển ngôn ngữ: có thể kết hợp với CPTTT toàn bộ. song điều
quan trọng là phát hiện một chậm phát triển ngôn ngữ làm cản trở thích nghi
xã hội – học tập ở một đứa trẻ có trí tuệ bình thường thậm chí trí tuệ cao.
Chẩn đoán dựa vào các test không lời.
* Rối loạn học tập: RL đọc, viết chính tả, RL tính toán đơn thuần có thể trải
qua một sự chậm trễ hoặc thất bại trong một lĩnh vực đặc biệt nhưng vẫn phát
triển bình thường trong các lĩnh vực khác. Ngược lại trẻ CPTTT biểu hiện
chậm chung hầu hết mọi lĩnh vực phát triển. Bằng các test đọc, viết, tính toán
chuẩn hóa, test phần lời và phần làm cho phép phát hiện sự phân ly giữa khả
năng trí tuệ và khả năng học tập.
sự phát triển các rối loạn liên quan đến CPTTT:
24
- Giáo dục để nâng cao kiến thức chung cùng hiểu biết về CPTTT.
- Đảm bảo và nâng cao các chính sách sức khỏe cộng đồng.
- Tư vấn gia đình và di truyền giúp giảm tỷ lệ mới mắc CPTTT trong
một gia đình có tiền sử bị rối loạn di truyền kết hợp với CPTTT.
- Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em.
- Đối với các trẻ và bà mẹ có điều kiện kinh tế xã hội thấp thì việc
chăm sóc y tế trước và sau sinh thích hợp bổ sung các chương trình phong
phú và sự hỗ trợ các dịch vụ xã hội có thể hạn chế tối đa các biến chứng y
khoa và tâm lý xã hội.
1.7.2. Phòng ngừa cấp II và III
Một khi một rối loạn kết hợp với CPTTT được xác định, thì rối loạn
này được điều trị để rút ngắn diễn tiến bệnh (phòng ngừa cấp II) và hạn chế
tối đa di chứng hoặc tàn phế xảy ra sau đó (phòng ngừa cấp III).
Các rối loạn chuyển hóa di truyền và rối loạn nội tiết như: Phenylketone
niệu, suy giáp có thể được điều trị hữu hiệu trong giai đoạn sớm bằng cách
kiểm soát chế độ ăn hoặc liệu pháp hormone thay thế.
Trẻ CPTTT thường có các khó khăn về cảm xúc và hành vi đòi hỏi phải
được điều trị về mặt tâm thần, các khả năng nhận thức và thích ứng xã hội bị
hạn chế cần được huấn luyện giáo dục đặc biệt.
1.7.2.1. Giáo dục đối với trẻ:
- Chương trình giáo dục toàn diện đề ra việc huấn luyện các kỹ năng
thích nghi, các kỹ năng xã hội, nghề nghiệp.
- Điều trị nhóm thường là hình thức điều trị thành công trong đó trẻ có
thể học và thực hành các tình huống được giả thiết là có thật trong thực tế và
nhận được tín hiệu nâng đỡ.
1.7.2.5. Can thiệp hóa dược:
Việc điều trị CPTTT bằng thuốc chỉ đóng vai trò thứ yếu và chỉ là điều trị
triệu chứng. Trên thế giới đã nghiên cứu và điều trị có hiệu quả với trẻ CPTTT
đặc biệt đối với trẻ có RLHV. Một số thuốc chống loạn thần đã được sử dụng để
kiểm soát những hành vi này, ví dụ như haloperidol, aripiprazole, risperidone,...