Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng methadone tại cơ sở điều trị methadone đống đa, hà nội năm 2012 2014 - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BỘ Y TẾ

LÊ THỊ THU HÀ

THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN
CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE TẠI CƠ SỞ
ĐIỀU TRỊ METHADONE ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI NĂM 2012 – 2014

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y KHOA
KHÓA 2011 – 2015

Người hướng dẫn khoa học:
ThS. Văn Đình Hòa

HÀ NỘI – 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành
nhất tới ThS.Văn Đình Hòa - Cán bộ giảng dạy Bộ môn Dịch tễ - Viện Đào tạo
Y học Dự phòng và Y tế Công cộng, thầy đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cặn
kẽ cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới BS. Bùi Nguyên Hồng – bác sĩ điều trị
tại cơ sở điều trị Methadone quận Đống Đa đã tạo điều kiện thuận lợi để em có
thể hoàn thành khóa luận này.

 Hội đồng chấm Khóa luận tốt nghiệp năm 2014 - 2015.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, cách
xử lý, phân tích số liệu là hoàn toàn trung thực và khách quan. Các kết quả
nghiên cứu này chưa được công bố ở trong bất kỳ tài liệu nào.
Hà Nội, ngày 26 tháng 05 năm 2015
Sinh viên

Lê Thị Thu Hà


iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS

Acquired Immunodeficiency Syndrome
((Hội

chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người)

ATS

Amphetamine

BCS

Bao cao su

BKT


Methadone maintenance treatment

NCMT

Nghiện chích ma túy

OR

Odds Ratio (Tỷ suất chênh)

QHTD

Quan hệ tình dục

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

TP

Thành phố

TTĐT

Tuân thủ điều trị


1.4.2. Nhỡ liều khi điều trị Methadone ....................................................... 11
1.4.3. Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân....................................... 11


v

CHƯƠNG II.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............. 14

2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ........................................................... 14
2.2. Đối tượng nghiên cứu: ............................................................................ 15
2.3. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu ...................................................................... 15
2.4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 16
2.5. Biến số và chỉ số nghiên cứu .................................................................. 17
Thực trạng tuân thủ điều trị của đối tượng nghiên cứu ................................. 18
2.6. Xử lý và phân tích số liệu ....................................................................... 19
2.7. Sai số và cách khắc phục sai số .............................................................. 19
2.8. Hạn chế của nghiên cứu .......................................................................... 20
2.9. Đạo đức trong nghiên cứu....................................................................... 20
CHƯƠNG III.

KẾT QUẢ .............................................................................. 21

3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu ....................................................... 21
3.2. Thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân điều trị tại cơ sở điều trị
Methadone Đống Đa, Hà Nội năm 2012-2014 .............................................. 27
3.3. Một số yếu tố liên qua tới tình trạng không tuân thủ điều trị của bệnh
nhân tại cơ sở điều trị Methadone Đống Đa, Hà Nội năm 2012-2014 .......... 29
CHƯƠNG IV.

duy trì ................................................................................................................... 27
Bảng 3.9: Một số yếu tố liên quan tới tình trạng không tuân thủ điều trị của đối
tượng nghiên cứu.................................................................................................. 29

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Số bệnh nhân vào điều trị theo các năm .......................................... 23
Biểu đồ 3.2: Loại ma túy khác mà đối tượng nghiên cứu sử dụng ...................... 23
Biểu đồ 3.3: Số bệnh nhân bỏ liều ....................................................................... 28
Biểu đồ 3.4: Số bệnh nhân bỏ liều ở giai đoạn khởi liều và giai đoạn duy trì ..... 28


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo tình hình ma túy trên thế giới năm 2014 của cơ quan phòng
chống ma túy và tội phạm liên hợp quốc (UNODC) cho thấy tỷ lệ sử dụng ma
túy trên toàn cầu vẫn tiếp diễn với khoảng 243 triệu người – tương đương với
5% dân số thế giới. Trong đó số người lệ thuộc vào ma túy chiếm khoảng 27
triệu người, xấp xỉ 0,6% dân số trưởng thành trên toàn cầu [1]. Do đó, các biện
pháp điều trị nghiện chất có ý nghĩa quan trọng đối với người nghiện nói riêng
và xã hội nói chung. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đều
cho thấy điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằng Methadone
là một phương pháp “tiêu chuẩn vàng” đối với người nghiện heroin, giúp người
nghiện dần từ bỏ heroin, phục hồi dần sức khỏe và các chức năng xã hội [2], [3].
Và tới nay, có hơn 70 nước triển khai chương trình Methadone với khoảng
580.000 bệnh nhân tại Châu Âu và hơn 200.000 bệnh nhân tại Châu Á. Tại Hoa
Kỳ: đang điều trị cho 260.000 người trên tổng số gần một triệu người nghiện ma
túy tại 1.200 cơ sở điều trị Methadone. Hồng Kông có 20 cơ sở điều trị
Methadone đang hoạt động với tổng số người đăng ký tham gia chương trình
Methadone là 8.159 [4], [5]. Tại Việt Nam, tính đến tháng 10/2014, cả nước có


CHƯƠNG I.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Các chất gây nghiện và các biện pháp điều trị nghiện CDTP
1.1.1. Các chất dạng thuốc phiện
Chất dạng thuốc phiện (opiats, opioid) là tên gọi chung cho nhiều chất như
thuốc phiện, morphine, heroin, methadone, buprenorphine, codein, pethidine,
fentanyle, heroin, là những chất gây nghiện mạnh (gây khoái cảm mạnh); có biểu
hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não [4].
1.1.2. Các chất gây nghiện khác
– Các chất gây êm dịu:
+ Thuốc bình thản, giải lo âu, gây ngủ (Benzodiazepiness, Barbituriques).
+ Rượu
+ Các chất dạng thuốc phiện: heroin, morphine,..
– Các chất kích thần
+ Cocain và các chế phẩm
+ Amphetamine và các chế phẩm.
– Các chất gây yên dịu và ảo giác: các dung môi hữu cơ Colles, Essences, ..
– Các chất gây ảo giác: các sản phẩm của Canabiss [4].
1.1.3. Hậu quả của việc sử dụng Ma túy và CDTP
– Đối với bản thân: bệnh tật, mất việc làm, biến đổi nhân cách, vi phạm
pháp luật, nguy cơ tử vong.
– Đối với gia đình: kinh tế sa sút, sức khỏe người thân bị ảnh hưởng, tan vỡ
hạnh phúc gia đình.
– Đối với xã hội: gây rối, cướp của, giết người, lừa đảo…lây truyền các
bệnh như HIV, viêm gan B, C, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng [6].



– Điều trị duy trì chống tái nghiện bằng thuốc đối kháng Naltrexone.
Naltrexone làm mất tác dụng của các chất dạng thuốc phiện bao gồm cả
heroin, vì vậy nếu sử dụng heroin trong khi đang dùng Naltrexone hàng ngày sẽ


5

không có cảm giác phê. Hầu hết các nghiên cứu về Naltrexone đều không thấy
có kết quả lâu dài nhưng nó vẫn được kê đơn tại Việt Nam và có thể có tác dụng
với một số ít người bệnh nếu phối hợp cùng với tư vấn và hỗ trợ tích cực của gia
đình người bệnh.
– Điều trị thay thế nghiện CDTP bằng thuốc (Methadone, Buprenorphin)
Không còn các triệu chứng cai (vã thuốc); giảm hoặc mất hẳn các cơn thèm
nhớ ma túy; ngăn chặn tác động phê/sướng nếu vẫn tiếp tục sử dụng heroin. Thời
gian điều trị càng dài thì hiệu quả điều trị càng cao [7].
1.2. Chương trình điều nghiện thay thế CDTP bằng Methadone
1.2.1. Khái niệm về Methadone
Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự như các
CDTP khác, nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và không gây
khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là 24 giờ) nên chỉ
cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để không xuất hiện hội chứng cai.
Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài [4].
1.2.2. Hiệu quả của Methadone
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy điều trị duy trì bằng thuốc Methadone có thể
giúp người nghiện heroin:
– Dừng sử dụng hoặc giảm đáng kể lượng heroin sử dụng
– Dừng tiêm chích heroin (hoặc giảm đáng kể tần suất tiêm chích và giảm
nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường máu và nguy cơ quá liều).
– Cải thiện tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng.
– Dừng các hành vi phạm pháp liên quan đến việc kiếm tiền mua heroin.



Điều trị bằng thuốc Methadone là điều trị duy trì lâu dài, thời gian điều trị

phụ thuộc vào từng người bệnh nhưng không dưới 1 năm.


Điều trị bằng thuốc Methadone cần phải kết hợp với tư vấn, hỗ trợ về tâm

lý xã hội, các dịch vụ chăm sóc và điều trị y tế khác khi có chỉ định để điều trị
đạt hiệu quả cao.


Người đứng đầu cơ sở điều trị chỉ cung cấp thông tin về người bệnh cho

các cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu hoặc cho người khác khi được sự
đồng ý của người bệnh [4].


7

1.3. Tình hình điều trị Methadone trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Trên thế giới
Năm 1964, tại New York, bác sĩ Marie Nyswander và Vincent Dole tìm
thuốc điều trị cho người nghiện heroin, họ phát hiện ra Methadone giúp người
bệnh của họ ngừng sử dụng heroin và hầu như không bị tăng liều khi dùng trong
thời gian dài, do đó liệu pháp điều trị duy trì bằng thuốc Methadone ra đời. Năm
1965, nghiên cứu về MMT của Dole/Nyswander được công bố trên Báo Hội liên
hiệp Y khoa Mỹ. Đến năm 1995, “Các điều lệ sử dụng Methadone” của IOM đã
được ban hành. Năm 1997, NIH tuyên bố đồng thuận hướng tới sự phát triển của

tỷ lệ nhiễm HIV vẫn tiếp tục tăng cao trong nhóm NCMT. Theo ước tính, hiện
Thái Lan có khoảng 57.000 người NCMT và 50% trong số đó nhiễm HIV.
Tại Trung Quốc: tính đến thời điểm năm 2008, Chính phủ Trung Quốc đã
cho phép triển khai trên 500 cơ sở và điều trị cho trên 60.000 bệnh nhân [12].
Kết quả từ một nghiên cứu thu được trên 1.153 bệnh nhân tại 8 phòng khám
Methadone ở Trung Quốc rất khả quan( Pang 2007): tỷ lệ tiêm chích ma túy đã
giảm từ 69,2% xuống còn 8,9%; số lượt tiêm chích từ 90 lần/tháng giảm xuống 2
lần/tháng; hành vi tội phạm giảm từ 20,7% xuống còn 3,8% và chỉ có 8 trường
hợp huyết thanh chuyển sang HIV(+) trong vòng 12 tháng. Số liệu này cho thấy
việc sử dụng ma túy, hành vi tội phạm và hành vi tình dục không an toàn giảm rõ
rệt [22].
Malaysia có chương trình được bắt đầu từ tháng 10 năm 2005 và hiện có
khoảng hơn 4.000 bệnh nhân tham gia điều trị.
Indonesia bắt đầu triển khai chương trình Methadone từ năm 2003 và hiện
có khoảng 1.300 người đang ĐT tại 7 phòng khám tại Jakarta [8].


9

1.3.2. Tại Việt Nam
Trong những năm qua, mặc dù Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp cai
nghiện như điều trị cắt cơn giải độc, điều trị duy trì, chống tái nghiện, nhưng
hiệu quả công tác cai nghiện tại các trung tâm còn rất hạn chế, tỷ lệ tái nghiện
cao. Sau khi nghiên cứu kết quả điều trị nghiện thay thế các CDTP bằng
Methadone của các nước trên thế giới với kết quả thử nghiệm liệu pháp
Methadone tại Viện Sức Khỏe Tâm thần trung ương Bệnh viện Bạch Mai
(nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam) [13]. Năm 2008, chính phủ đã chỉ đạo BYT
triển khai đề án thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng
Methadone tại TP Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy giảm rõ rệt
hành vi sử dụng CDTP bất hợp pháp : tỷ lệ sử dụng ma túy từ 100% xuống còn

1.4. Tuân thủ điều trị và thực trạng tuân thủ điều trị
1.4.1. Theo dõi tuân thủ điều trị
Tuân thủ điều trị là khả năng bệnh nhân uống các thuốc được kê
đơn không quên liều nào với điều kiện: đúng thuốc, đúng liều, đúng thời
gian, đúng cách.
Người bệnh phải uống thuốc Methadone hàng ngày dưới sự giám sát của
cán bộ y tế để đảm bảo điều trị hiệu quả và an toàn. Các biện pháp hỗ trợ tuân
thủ điều trị bao gồm:


Tư vấn cho người bệnh và gia đình.



Hướng dẫn người bệnh và gia đình biết cách xử trí các tác dụng không

mong muốn và các diễn biến bất thường trong quá trình điều trị.


Phối hợp với gia đình, cộng đồng và các tổ chức xã hội động viên và giúp

đỡ người bệnh tuân thủ điều trị [12].


11

1.4.2. Nhỡ liều khi điều trị Methadone
Nếu người bệnh bỏ uống Methadone, khi quay lại điều trị thì xử trí như sau:





12

bệnh nhân, có 84,1% (361/429) có 2-4 đợt điều trị; 15,9% (68/429) có 5 hoặc
nhiều hơn 5 đợt trong suốt quá trình điều trị. Số bệnh nhân điều trị duy trì sống
chung với các thành viên trong gia đình hoặc bạn bè chiếm 88,2% (97/110)
trong khi tỷ lệ đó ở bệnh nhân gián đoạn điều trị chỉ là 78,5% (337/429). Xét
nghiệm nước tiểu âm tính ở bệnh nhân duy trì điều trị 67,3% (74/100) trong khi
tỷ lệ đó ở bệnh nhân gián đoạn điều trị chỉ có 38,2% (164/429). Những bệnh
nhân duy trì điều trị sống trong vòng bán kính 5km quanh phòng khám MMT là
72,7% (80/110) cao hơn so với nhóm bệnh nhân gián đoạn điều trị (61,3%,
263/429) [19].
 Tại Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tuấn và cộng sự tại Hà Nội năm 2004, với
68 người NMT là nam giới trên 18 tuổi. Kết quả cho thấy số bệnh nhân theo đuổi
điều trị >6 tháng chiếm 75%, gián đoạn điều trị trước 6 tháng chiếm 25% do
không tuân thủ điều trị buộc phải thôi cho ra viện. Lý do bị công an bắt có 5/68,
4 người do có tiền án trước khi vào điều trị và 1 người vẫn buôn bán ma túy
trong quá trình điều trị [14].
Hoàng Đình Cảnh và cộng sự năm 2009, đánh giá kết quả sau 6 tháng triển
khai đề án tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ bệnh nhân
bỏ trị là 5%. Liều điều trị trung bình trong giai đoạn duy trì là 104mg/ngày. Liều
duy trì cao nhất là 300mg/ngày và thấp nhất là 15mg/ngày. Thời gian dò liều
trung bình của bệnh nhân là 47 ngày [20].
Từ kết quả triển khai thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện
bằng thuốc Methadone tại TP Hà Nội của TS. Lê Nhân Tuấn – trung tâm Phòng
chống AIDS Hà Nội (2011) cho thấy: Tỷ lệ bệnh nhân ngừng điều trị rất thấp
(5%) và tỷ lệ lượt bệnh nhân bỏ liều cũng rất thấp: bỏ 1 liều là 0,23%, bỏ >2 liều
là 0,036% [21].

15

2.2. Đối tượng nghiên cứu:
Bệnh nhân điều trị Methadone tại cơ sở điều trị Methadone Đống Đa từ
1/2012-12/2014.
 Tiêu chuẩn chọn lựa
– Được chuẩn đoán lệ thuộc vào các chất dạng thuốc phiện.
– Không chống chỉ định sử dụng Methadone.
– Trên 18 tuổi.
– Phải có đơn tự nguyện tham gia điều trị bằng thuốc Methadone theo mẫu
của Bộ Y tế và cam kết tuân thủ điều trị.
– Đồng ý tự nguyện tham gia điều trị Methadone và cam kết tuân thủ điều
trị, có xác nhận của UBND xã, phường.
– Không có hành vi tội phạm trong thời gian xét chọn vào chương trình.
– Có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội.
– Đối tượng ưu tiên:
+ Người nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng đường tiêm chích.
+ Người tích cực tham gia các hoạt động phòng chống HIV/AIDS.
+ Người có cam kết hỗ trợ của gia đình.
 Tiêu chuẩn loại trừ các đối tượng:
Bệnh nhân không đủ điều kiện sức khỏe và năng lực pháp lý.
2.3. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
 Cỡ mẫu:
Chọn tất cả các bệnh nhân đang điều trị tại cơ sở điều trị Methadone Đống
Đa, Hà Nội từ 1/ 2012–12/2014. Cỡ mẫu là 311 bệnh nhân.


16

 Cách chọn mẫu:

được thiết kế sẵn (Có phụ lục kèm theo).


17

2.5. Biến số và chỉ số nghiên cứu
Định nghĩa/ Cách đo lường

STT Biến số/ Chỉ số

1
2
3

Giới tính

Mục tiêu 1
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Tỷ lệ % Nam, Nữ/ tổng số BN

Tuổi
Nghề nghiệp trước khi
vào điều trị
Dân tộc

4
Tình trạng hôn nhân
5
Trình độ học vấn
6

Tỷ lệ % BN theo dân tộc kinh(
Hồi cứu bệnh
khác;không có thông tin)/ tổng số
án
BN
Tỷ lệ % BN chưa kết hôn( đã kết
Hồi cứu bệnh
hôn; ly thân/ly dị/góa; không có
án
thông tin)/ tổng số BN
Tỷ lệ % BN không đi học( tiểu học;
THCS; THPT; trung cấp/dạy nghề; Hồi cứu bệnh
cao đắng/đại học; sau đại học)/ tổng
án
số BN
Tỷ lệ % BN sử dụng CDTP( ATS;
cần sa; benzodiazepine/
Hồi cứu bệnh
phenolbarbital; rượu, thuốc lá)/ tổng
án
số BN.
Là tuổi lần đầu BN sử dụng chất gây
nghiện( CDTP, ATS, cần sa, ; Hồi cứu bệnh
benzodiazepine/
phenolbarbital;
án
rượu, thuốc lá)
Tỷ lệ BN sử dụng 2 loại( 3 loại, 4
Hồi cứu bệnh
loại, 5 loại) chất gây nghiện/ tổng số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status