Khảo sát khả năng sinh sản của gà ISA Brown nuôi tại trang trại thuộc thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội (Khóa luận tốt nghiệp) - Pdf 48

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

NGUYỄN VIẾT THẾ ANH
Tªn ®Ò tµi:
"KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA GÀ ISA BROWN NUÔI
TẠI TRANG TRẠI THUỘC THỊ TRẤN XUÂN MAI, HUYỆN
CHƢƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI"

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khóa học

: Chính quy
: Chăn nuôi Thú y
: Chăn nuôi Thú y
: 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

NGUYỄN VIẾT THẾ ANH
Tªn ®Ò tµi:

Xác nhận của giảng viên hướng dẫn

Ngƣời viết cam đoan

Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học!

ThS. Nguyễn Hữu Hòa

Nguyễn Viết Thế Anh

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)


ii

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, được sự dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo, em đã nắm được
những kiến thức cơ bản ngành học của mình. Kết hợp với 5 tháng thực tập tốt
nghiệp tại trang trại thuộc thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố
Hà Nội, đã giúp em ngày càng hiểu rõ kiến thức chuyên môn, cũng như đức
tính cần có của một người làm cán bộ khoa học kỹ thuật. Từ đó, đã giúp em
có lòng tin vững bước trong cuộc sống cũng như trong công tác sau này. Để
có sự thành công này, em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Ban chủ nhiệm khoa và tập thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi

nghiệp rất cần thiết đối với mỗi sinh viên cuối khoá học.
Xuất phát từ những lí do trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, thầy giáo hướng dẫn Th.S Nguyễn Hữu Hòa, cùng với sự tiếp nhận của
trại gà thuộc thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, chúng
tôi đã thực hiện đề tài: “Khảo sát khả năng sinh sản của gà ISA Brown nuôi
trong trang trại tại thị trấn Xuân Mai, huyện Chương Mỹ, Hà Nội”. Do bước
đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên khoá luận của em không
tránh khỏi thiếu sót, em mong nhận được sự đóng góp phê bình của các thầy,
cô giáo cùng toàn thể các bạn đồng nghiệp để khoá luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!


iv

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Theo dõi khả năng sản suất............................................................. 18
Bảng 4.1. Chế độ chiếu sáng cho đàn gà sinh sản .......................................... 25
Bảng 4.2. Lịch sử dụng vaccine phòng bệnh cho đàn gà ................................ 26
Bảng 4.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Bảng 4.4. Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thí nghiệm qua các tuần tuổi .............. 30
Bảng 4.5. Khối lượng cơ thể gà qua các tuần (n=30) ..................................... 32
Bảng 4.6. Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng gà thí nghiệm ..................................... 33
Bảng 4.7. Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng đẻ ra ......................................... 36
Bảng 4.8. Một số chỉ tiêu chất lượng trứng của gà thí nghiệm (n=30) ........... 37
Bảng 4.9. Sơ bộ hạch toán kinh tế .................................................................. 38


v

DANH MỤC CÁC HÌNH


: Thức ăn

TB

: Trung bình

ThS.

: Thạc sĩ

TT

: Tuần tuổi


vii

MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU .....................................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề ........................................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu .......................................................................................2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................2
1.4. Ý nghĩa đề tài ...................................................................................................2
1.4.1. Ý nghĩa khoa học ..........................................................................................2
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn .................................................................................2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ..........................................................................3
2.1. Cơ sở khoa học ................................................................................................3
2.1.1. Khả năng sinh sản của gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng .............................3
2.1.2. Đặc điểm sinh học của trứng gia cầm .........................................................10

5.1. Kết luận ..........................................................................................................40
5.2. Tồn tại ............................................................................................................41
5.3. Đề nghị ...........................................................................................................41
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................42
I. Tài liệu tiếng Việt ..............................................................................................42
III. Tài liệu tiếng nước ngoài ................................................................................43


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia cầm là ngành có truyền thống lâu đời ở nước ta. Chăn
nuôi gia cầm không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao,
mà còn được đánh giá là ngành đem lại nguồn thu nhập cao, ổn định cho
nhiều hộ nông dân.
Ở Việt Nam hiện nay, chăn nuôi gà thịt ngày càng được đẩy mạnh và
phát triển rộng khắp trong phạm vi cả nước từ thành phố, tỉnh, huyện đến các
hộ nông dân. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về sản
phẩm thịt gà như: Thịt chắc, thơm ngon, không có thuốc kháng sinh.v.v mặt
khác các giống gà thịt đó phải phát huy tốt tiềm năng về chăn nuôi trong điều
kiện chăn thả, bán chăn thả với quy mô vừa và nhỏ ở nông hộ Việt Nam, thì
chúng ta phải đặc biệt chú trọng tới công tác giống.
Năm 1996,Việt Nam đã nhập một số giống gà lông màu thả vườn có
năng suất khá cao, chất lượng thịt tốt, hợp thị hiếu của người tiêu dùng và
thích hợp với điều kiện chăn nuôi bán công nghiệp như gà Kabir của Isarel, gà
Tam Hoàng, gà Lương Phượng của Trung Quốc.v.v. Trong đó có giống gà
lông màu ISA Brown do hãng Sasso của Pháp tạo ra. Qua gần 30 năm nghiên
cứu chọn lọc, nhân giống và lai tạo, hiện nay gà ISA Brown được rất nhiều

trứng thương phẩm ISA Brown trong thực tế sản xuất.


3

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Khả năng sinh sản của gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng
2.1.1.1. Khả năng sinh sản của gia cầm
Để duy trì sự phát triển của đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là
yếu tố cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả sản xuất đối
với gia cầm. Sản phẩm chủ yếu là thịt và trứng, trong đó sản phẩm trứng
được coi là hướng sản xuất chính của gà hướng trứng. Còn gà hướng thịt
(cũng như gà hướng trứng) khả năng sinh sản hay khả năng đẻ trứng quyết
định đến sự phân đàn di truyền giống mở rộng quy mô đàn gia cầm. Sinh
sản là chỉ tiêu cần được quan tâm trong công tác giống của gia cầm. Ở các
loại gia cầm khác nhau thì đặc điểm sinh sản cũng khác nhau rõ rệt.
Trứng là sản phẩm quan trọng của gia cầm, đánh giá khả năng sản xuất
của gia cầm người ta không thể không chú ý đến sức đẻ trứng của gia cầm.
Theo Brandsch và Bilchel (1978) [9] thì sức đẻ trứng chịu ảnh hưởng
của 5 yếu tố chính.
1. Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục.
2. Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng.
3. Tần số thể hiện bản năng đòi ấp.
4. Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông.
5. Thời gian đẻ kéo dài hay chu kỳ đẻ (hay tính ổn định sức đẻ).
Các yếu tố trên có sự điều khiển bởi kiểu gen di truyền của từng
giống gia cầm.
Để đánh giá khả năng sinh sản của đàn gà hay của một dòng gà nào đó

tỷ lệ đẻ cao và kéo dài trong thời kỳ sinh sản, chứng tỏ là giống tốt, nếu chế
độ dinh dưỡng đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao.
+ Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trong một thời gian nhất định. Cường độ
này được xác định theo khoảng thời gian 30 ngày hoặc 60 ngày hoặc 100
ngày trong giai đoạn đẻ.


5
Theo Card (1977) [12] thì quần thể gà mái cao sản đẻ theo quy luật.
Cường độ đẻ trứng cao nhất vào các tháng thứ 2, thứ 3, sau đó giảm dần cho
đến hết năm đẻ. Theo Mack (1991) (dẫn theo Nguyễn Thị Thanh Bình, 1998)
[1]: Đối với gà cao sản đồ thị đẻ trứng tăng nhanh từ khi bắt đầu đẻ đến tuần
24. Đạt 50 % và đỉnh cao từ tuần 27 - 28, đến 35 tuần đạt > 90 %, sau đó giảm
dần và giữ được 60 - 65 % ở tuần thứ 76. Khi cường độ đẻ giảm nhiều gà
thường hay biểu hiện bản năng đòi ấp. Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ
thuộc nhiều vào yếu tố di truyền vì ở các giống khác nhau có bản năng ấp
khác nhau. Điều này chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố như: Nhiệt độ, ánh
sáng, dinh dưỡng.v.v. Theo Brandsch và Bilchel 1978 [9] thì nhiệt độ cao và
bóng tối kích thích sự ham ấp, đồng thời yếu tố gen chịu tác động phối hợp
giữa các gen thường và gen liên kết giới tính.
+ Thời gian kéo dài sự đẻ có liên quan đến chu kỳ đẻ trứng. Chu kỳ đẻ
kéo dài hay ngắn phụ thuộc vào cường độ và thời gian chiếu sáng. Đây là cơ
sở để áp dụng chiếu sáng nhân tạo trong chăn nuôi gà đẻ.
Thời gian nghỉ đẻ ngắn hay dài có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng
trứng cả năm. Gà thường hay nghỉ đẻ mùa đông do nguyên nhân giảm dần về
cường độ và thời gian chiếu sáng tự nhiên. Ngoài ra sự nghỉ đẻ này còn do khí
hậu, sự thay đổi thức ăn, chu chuyển đàn. Là một tính trạng số lượng có hệ số
di truyền cao, do đó người ta có thể cải thiện di truyền bằng cách chọn lọc
giống. Trong chọn lọc cần chú ý tới chỉ số trung bình chung.
Theo Jull (1976) [14], hệ số tương quan giữa sản lượng trứng và thời

* Sơ lƣơ ̣c cấ u ta ̣o trƣ́ng và sƣ ̣ hin
̀ h thành trƣ́ng:
Trứng gia cầ m là mô ̣t loài tế bào sinh sản khổ ng lồ bao gồ m : vỏ cứng,
màng vỏ, lòng trắng và lòng đỏ.
Vỏ trứng bao bọc bên ngoài lòng trắng, lòng đỏ. Phía ngoài cùng của vỏ
trứng đươ ̣c phủ mô ̣t lớp keo diń h do âm đa ̣o tiế t ra
, có tác dụng làm giảm ma sát,


7
tạo điều kiện dễ dàng cho việc đẻ trứng và ngăn chặn sự xâm nhập tạp khuẩn vào
trứng, đồ ng thời cũng có tác du ̣ng làm giảm sự bố c hơi nước của trứng. gà
Thành phần chủ yếu của vỏ trứng là vỏ cứng , đô ̣ dầ y trung biǹ h 0,2 0,6 mm và không đều : dày nhất ở phần đầu nhỏ , giảm dần tới thành bên và
mỏng nhất ở phần đầu to của quả trứng . Trên bề mă ̣t của vỏ trứng có nhiề u lỗ
khí. Dưới lớp vỏ là hai lớp màng đàn hồ i đề u có tiń h truyề n khí , có ý nghĩa
quan tro ̣ng trong quá trin
̀ h trao đổ i khí giúp phôi phát triể n

. Tỷ lệ phần vỏ ,

màng vỏ so với khối lượng trứng chỉ chiếm 10 - 20%.
Lòng trắng chiếm 56% gồ m 4 lớp thành phầ n và tỷ lê ̣ : lớp loañ g ngoài
23%, lớp đă ̣c giữ a 57%, lớp loañ g giữa 17%, lớp đă ̣c trong 3%, những chỉ số
này dao động phụ thuộc vào đặc điểm giống loài và cá thể.
Lòng đỏ là tế bào trứng của gia cầm

, có dạng hình cầu , đường kiń h

khoảng 35 - 40 cm, khố i lươ ̣ng chiế m 32% so với khố i lươ ̣ng trứng . Lòng đỏ
có cấu tạo bao gồm : màng nguyên sinh chất và nhân . Màng tế bào mỏng ,

ống dẫn trứng tiếp tục hình thành lớp lòng đỏ trắng loãng và hoàn chỉnh khi
trứng đế n phầ n eo. Khi trứng di chuyể n qua phầ n tiế t lòng trắ ng thì chỉ có 40 60% lòng trắng được hình thành. Phầ n eo tiế t lòng trắ ng da ̣ng ha ̣t kiể u keratin
- đây chin
́ h là thành phầ n hiǹ h thành màng trong dưới vỏ cứng . Trứng dừng
lại ở phần eo mất khoảng

70 phút. Trứng tiế p tu ̣c qua phầ n tử cung mấ t

khoảng 19 - 20 giờ. Tại đây các tế bào biểu mô tử cung tiết ra chất tiết tạo
thành một lớp màng vỏ ngoài cứng , không màu và óng ánh . Trứng ra âm đa ̣o
rấ t nhanh và ra ngoài lỗ huyê ̣t . Tổ ng thời gian hiǹ h thành trứng trong toàn bô ̣
các thành phần của ống dẫn trứng mất khoảng 23,5 - 24 giờ.
2.1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia cầm
Sức sản xuất trứng là đặc điểm phức tạp và biến động, nó chịu ảnh
hưởng bởi tổng hợp yếu tố bên trong và bên ngoài.
 Ảnh hưởng của cá yếu tố bên trong
- Giống, dòng
Ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp. Cụ thể giống Leghorn
trung bình có sản lượng 250 - 270 trứng/ năm. Về sản lượng trứng, những
dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa được chọn lọc
kỹ khoảng 15 % - 30 % về sản lượng (theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh
Vân, 1998) [3].
- Ảnh hưởng của tuổi gia cầm
Tuổi của gia cầm có liên quan chặt chẽ tới sự đẻ trứng của nó. Như một
quy luật, ở gà sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ hai
giảm 15 - 20 % so với năm thứ nhất, còn vịt thì ngược lại, năm thứ hai cho
sản lượng trứng cao hơn 9 - 15 %.
- Tuổi thành thục sinh dục
Tuổi thành thục về tính của gia cầm có ảnh hưởng rõ rệt đến sản lượng
trứng trong chu kỳ đẻ đầu và các chu kỳ đẻ tiếp theo. Theo Chamber (1990)

trứng giảm xuống rất nhiều so với mùa xuân và đến mùa thu lại tăng lên.


10
Trong tất cả các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sản lượng trứng thì
yếu tố về thời gian chiếu sáng đóng một vai trò quan trọng. Nó được xác định
qua thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng. Yêu cầu của gà đẻ thời gian
chiếu sáng 12 - 16 h/ngày, có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên, ánh sáng nhân
tạo để đảm bảo giờ chiếu sáng và cường độ chiếu sáng 3 - 3,5 w/m2. Theo
Letner và Taylor (1987) [15], thời gian gà đẻ trứng thường từ 7 - 17 giờ,
nhưng đa số đẻ vào buổi sáng. Cụ thể số gà đẻ 7 - 9 giờ đạt 17,7 % so với
tổng gà đẻ trong ngày. Ở nước ta do khí hậu khác với các nước, cho nên
cường độ đẻ trứng ở gà cao nhất là khoảng từ 8 - 12 giờ chiếm 60 % gần 70 %
so với gà đẻ trứng trong ngày.
- Ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng đến sản lượng trứng
Theo Bùi Quang Tiến (dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân, 1997) [2] cho biết
gà nội (gà Ri) đẻ 90 - 120 trứng/mái/năm. Đối với giống gà nội thì ảnh hưởng
của yếu tố dinh dưỡng là không lớn lắm nhưng đối với gà nuôi nhốt thì nhu cầu
dinh dưỡng lại cần được quan tâm chú ý. Nhu cầu dinh dưỡng của gà nuôi nhốt
phải tăng gấp đôi về protein, cacbonhydrate, lipit và phải bổ sung thêm khoáng
so với gà chăn thả. Tác giả cũng cho biết hàm lượng protein, Ca, P và lipit
trong máu gà đang đẻ trứng cao gấp 2, 3 thậm chí đến 4 lần so với trong máu
gà không đẻ trứng. Sự tăng lên về hàm lượng các chất này trong máu chứng tỏ
gà cần protein để tạo noãn hoàng. Khi gà ngừng đẻ thì hàm lượng các chất này
trong máu lại giảm đi. Tỷ lệ Ca/P thích hợp ở gà đẻ là: 5/1.
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng trên thì phương thức chăn nuôi khác nhau
cũng cho sản lượng trứng khác nhau. Gà nuôi chuồng lồng thì sản lượng trứng
đạt 223 quả/năm, trong khi đó đối với gà nuôi nền chỉ đạt 201 trứng/năm, còn
gà nuôi chăn thả chỉ đạt 170 trứng/năm.
2.1.2. Đặc điểm sinh học của trứng gia cầm

thành âm đạo và trứng, tạo thuận lợi cho việc đẻ trứng, hạn chế sự bốc hơi
nước của trứng và ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn.


12
Vỏ trứng có hai lớp màng đàn hồi tách nhau tạo thành buồng khí có ý
nghĩa trong quá trình trao đổi khí với môi trường bên ngoài. Vỏ trứng được
cấu tạo chủ yếu từ canxi, trên bề mặt có nhiều lỗ khí. Số lượng lỗ khí phụ
thuộc vào nhiều yếu tố. Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [3],
trên bề mặt vỏ trứng gà trung bình có khoảng 10.000 lỗ khí, tính trên 1 cm² có
khoảng 150 lỗ, đường kính các lỗ khí dao động 4 - 10 μm. Mật độ lỗ khí
không đều, nhiều nhất ở đầu to giảm dần ở hai bên và ít nhất ở đầu nhỏ.
Chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ dày và độ bền của vỏ trứng. Nó có ý
nghĩa trong vận chuyển và ấp trứng. Độ dày vỏ trứng gà đạt 0,311 mm, có thể
từ 0,229 - 0,373 mm (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994) [5]. cũng cho biết vỏ
trứng gà dày từ 0,3 - 0,34 mm, độ chịu lực là 2,44 - 3 kg/cm2. Theo Nguyễn
Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [3] thì chất lượng vỏ trứng không những
chịu ảnh hưởng của các yếu tố như canxi (70 % canxi cần cho vỏ trứng là lấy
trực tiếp từ thức ăn), ngoài ra vỏ trứng hình thành cần có photpho, vitamin
D3, vitamin K, các nguyên tố vi lượng…, khi nhiệt độ tăng từ 20 - 30°C thì
độ dày vỏ trứng giảm 6 - 10 % khi đó gia cầm đẻ ra trứng không có vỏ hoặc
bị biến dạng.
Lòng trắng chiếm tỷ lệ cao nhất trong trứng gia cầm, tới 56 %, gồm
4 lớp: Lớp loãng ngoài, lớp đặc giữa, lớp loãng giữa, lớp đặc trong.v.v.
Đây là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng và nước cho phôi phát triển. Độ
keo dính của lòng trắng phụ thuộc vào các yếu tố như: Nuôi dưỡng, giống,
tuổi, bảo quản trứng.v.v. Bảo quản trứng không đúng, kéo dài thời gian
bảo quản làm cho lòng trắng trở nên loãng hơn dẫn tới pha lẫn giữa các
lớp lòng trắng sẽ làm rối loạn cấu trúc sinh học và làm giảm chất lượng
trứng. Trong lòng trắng còn chứa dây chằng lòng đỏ có tác dụng giữ cho

một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức sinh sản, tái sản xuất của gà giống.
Tỷ lệ ấp nở của gia cầm được tính bằng tỷ lệ (%) số con nở ra còn sống
so với số trứng có phôi. Nó là chỉ tiêu để đánh giá sự phát triển phôi và sức
sống của gia cầm non.


14
Tỷ lệ ấp nở phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có thể chia làm hai yếu tố tác
động chính là yếu tố di truyền và điều kiện môi trường.
2.1.3. Hiệu quả sử dụng thức ăn
Trong chăn nuôi nói chung và trong chăn nuôi gia cầm nói riêng, chi
phí thức ăn chiếm khoảng 70 % tổng chi phí, do vậy người chăn nuôi thường
quan tâm đến hiệu quả sử dụng thức ăn. Hiệu quả sử dụng thức ăn là mức độ
tiêu tốn thức ăn (TTTĂ) cho một đơn vị sản phẩm. Đối với gà thịt thì một đơn
vị sản phẩm là một kg tăng trọng. Đối với gà trứng thì một đơn vị sản phẩm là
10 quả trứng hay 10 gà con loại 1. Tiêu tốn thức ăn càng thấp thì hiệu quả
kinh tế càng cao.
Hiệu quả sử dụng thức ăn phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, hay phụ
thuộc vào từng giai đoạn phát triển của con vật. Theo Chamber (1990)
[13], hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể và tốc độ tăng
trọng với lượng thức ăn thu nhận là rất cao (r = 0,5 - 0,9). Hệ số tương
quan di truyền giữa tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn lại có
giá trị thấp[ r =( - 0,8) –(- 0,2)].
Hiệu quả sử dụng thức ăn phụ thuộc vào giống, giai đoạn phát triển,
trạng thái sức khỏe của vật nuôi. Nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn góp phần
tăng hiệu quả chăn nuôi.
2.1.4. Giới thiệu về giống gà Isa brown
Gà Isa brown có khả năng thích nghi tốt với nhiều vùng khí hậu khác
nhau.Đây là giống gà chuyên trứng dễ nuôi ở các điều kiện nóng ẩm, sức
chống chịu bệnh tốt, không những cho sản lượng trứng cao mà chất lượng

hướng công nghiệp thì đây sẽ là giống gà được nhân rộng và phát triển mạnh
hơn trong các trang trại chăn nuôi gà ở Việt Nam.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới đã và đang phát triển mạnh về số
lượng và chất lượng.Theo thống kê của tổ chức nông lương thế giới - FAO



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status