ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VÕ THỊ KIỀU OANH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ
THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Đà Nẵng – Năm 2017
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VÕ THỊ KIỀU OANH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ
THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI CHI CỤC THUẾ
QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số: 60.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đinh Bảo Ngọc
Đà Nẵng – Năm 2017
Đội HC-NS-TV-AC
Đội Hành chính- Nhân sự- Tài vụ- Ấn chỉ
CQT
Cơ quan thuế
CNTT
Công nghệ thông tin
DN
Doanh nghiệp
MST
Mã số thuế
NNT
Người nộp thuế
NSNN
Ngân sách Nhà nước
SXKD
44
62
63
64
66
68
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà
nước mà thuế còn gắn liền với các vấn đề về sự tăng trưởng kinh tế, về sự
công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội. Điều đó đòi hỏi Nhà nước
phải luôn quan tâm đến công tác quản lý thuế: công tác quản lý thuế nên
thường xuyên được hoàn thiện, đổi mới, từng bước hiện đại hoá nhằm quản
lý, khai thác kịp thời, hiệu quả các nguồn thu phát sinh về nghĩa vụ thuế ở các
khu vực kinh tế. Đặc biệt đối với thuế TNDN, sắc thuế đóng vai trò quan
trọng trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế, khuyến khích đầu tư mở rộng sản
xuất kinh doanh, nhưng cũng tồn đọng không ít vấn đề về gian lận thuế, trốn
thuế dưới nhiều hình thức tinh vi, khó phát hiện dẫn đến con số thất thoát về
thuế TNDN cũng như NSNN ngày càng lớn, đó là vấn đề chung đang được
quan tâm ở tất cả các nước không chỉ ở Việt Nam.
Cẩm Lệ là một quận mới của Thành phố Đà Nẵng, hàng năm đóng góp
hơn 200 tỷ đồng vào NSNN, với số lượng lớn doanh nghiệp trên địa bàn và
con số này đang ngày càng tăng nhanh thì công tác quản lý thuế nói chung và
quản lý thuế TNDN nói riêng là một trong những vấn đề đáng được quan tâm
hàng đầu. Vì vậy, việc hoàn thiện công tác quản lý thuế TNDN là một đòi hỏi
cấp thiết, là một nhiệm vụ trọng tâm của Chi cục thuế Quận Cẩm Lệ trong
Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: đề tài tập trung phân tích, đánh giá công tác quản lý thuế
TNDN tại Chi cục thuế quận Cẩm Lệ;
Về không gian: nghiên cứu được thực hiện tại Chi cục thuế quận Cẩm
Lệ;
Về thời gian: khoảng thời gian nghiên cứu từ năm 2012- 2016.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu nói trên, luận văn đã sử dụng các
phương pháp thống kê, so sánh, phân tích để đánh giá thực trạng công tác
quản lý thuế TNDN tại Chi cục thuế quận Cẩm Lệ.
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương bao
gồm:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về quản lý Thuế TNDN
Chương II: Thực trạng công tác quản lý Thuế TNDN tại Chi cục Thuế
quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Thuế TNDN tại Chi
cục Thuế quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Vấn đề quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNDN nói riêng được
nhiều nhà khoa học và các nhà quản lý quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và trực tiếp về quản lý thuế
TNDN tại Chi cục thuế quận Cẩm Lệ.
Đề tài nghiên cứu năm 2015 của tác giả Lương Thị Minh Kiều tại Đại
Học Đà Nẵng “Hoàn thiện công tác quản lý thuế TNDN tại Chi cục thuế
quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng”. Tác giả Lương Thị Minh Kiều đã nêu
Chương (2013) với đề tài “Quản lý thuế TNDN tại Cục thuế tỉnh Gia Lai”
tương tự kết quả luận văn đã làm rõ được nội dung và thực trạng công tác
quản lý thuế TNDN nhưng vẫn chưa đưa ra được các chỉ tiêu để đánh giá kết
quả đạt được trong công tác quản lý thuế TNDN tại Cục thuế Gia Lai và luận
văn chưa chỉ ra được nguyên nhân của những tồn tại trong công tác quản lý
thuế TNDN để từ đó đưa ra phương hướng hoàn thiện phù hợp với thực tiễn.
Lê Thị Mỹ Linh (2015) tại Đại học Đà Nẵng“Hoàn thiện công tác quản
lý thuế TNDN trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” nghiên
cứu đã tiếp thu kinh nghiệm từ công tác quản lý thuế TNDN của các Chi cục
ở các quận, huyện khác để làm bài học kinh nghiệm, nhưng tác giả vẫn chưa
xây dựng được đầy đủ bộ tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý thuế TNDN tại
địa bàn cũng như chưa đánh giá được chất lượng công tác quản lý thuế.
Tất cả các nghiên cứu trên, tác giả đều đã đánh giá được thực trạng và
kết quả của công tác quản lý thuế TNDN, từ đó đã đưa ra các giải pháp hoàn
thiện công tác quản lý thuế TNDN tại CQT mà tác giả khảo sát. Tuy nhiên,
tùy vào đặc điểm kinh tế và công tác quản lý thuế mỗi nơi, mà Công tác quản
lý thuế TNDN đạt được những kết quả cũng như còn tồn tại những hạn chế
khác nhau, từ đó sẽ đề xuất những giải pháp khác nhau, phù hợp cho công tác
quản lý thuế TNDN tại mỗi địa bàn, trong từng giai đoạn.
Trong những năm gần đây đã có khá nhiều luận văn nghiên cứu về vấn
đề này, tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách trực tiếp về
quản lý thu thuế TNDN tại Chi cục thuế quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng. Vì
vậy, trên cơ sở nghiên cứu lý luận, các văn bản pháp luật, luật thuế TNDN,
luật quản lý thuế và kế thừa các nghiên cứu trên đây, tác giả có những cơ sở
để đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế TNDN tại Chi cục thuế quận
Cẩm Lệ và mạnh dạn đề xuất các giải pháp mang tính thực tiễn nhằm giúp
hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý thuế TNDN trên địa bàn quận Cẩm Lệ
trong thời gian tới.
Thuế thu nhập đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu
NSNN và thực hiện các chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối
với hoạt động kinh tế, xã hội trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thuế thu
nhập gồm có thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế thu nhập cá nhân.
Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là một loại thuế trực thu đánh vào
thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Thuế TNDN là sắc thuế được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Anh
và Nhật Bản là những nước đầu tiên áp dụng sắc thuế này từ những năm
khoảng giữa và cuối thế kỷ XIX, một số nước khác áp dụng vào khoảng đầu
thế kỷ XX như Pháp, Thụy Sỹ, Liên Xô cũ, Trung Quốc,…
Ở Việt Nam, thuế TNDN có xuất xứ từ khoản trích nộp lợi nhuận áp
dụng đối với khu vực kinh tế quốc doanh và thuế Lợi tức doanh nghiệp áp
dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong giai đoạn từ năm 1953
đến trước ngày 1/1/1990. Giai đoạn từ 1/1/1990 đến trước ngày 1/1/1999 thuế
Lợi tức được áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế. Năm 1997 Luật
thuế TNDN đầu tiên được ban hành và có hiệu lực thi hành kể từ ngày
1/1/1999. Kể từ khi ban hành đến nay, Luật thuế TNDN đã được sửa đổi, bổ
sung nhiều lần nhằm tháo gỡ kịp thời các vướng mắc phát sinh phù hợp với
thực tiễn nước ta và thông lệ quốc tế.
Ở các nước, tên gọi của luật thuế này có thể khác nhau như ở Thái Lan,
Indonesia gọi là luật thuế thu nhập công ty; ở Pháp là luật thuế công ty; vv…
Nhưng bản chất là tương đối giống nhau. Có quốc gia quy định loại thuế này
trong một luật riêng, quốc gia khác lại quy định chung một bộ luật với thuế
thu nhập cá nhân vì họ cho rằng hai loại thuế đánh trên thu nhập này có quan
hệ mật thiết với nhau nên quy định trong cùng một văn bản thì sẽ dễ tiếp cận
hơn.
xuất kinh doanh. Nói một cách khác, thuế TNDN làm cho khả năng và cơ hội
chuyển dịch gánh nặng thuế cho người khác trở nên khó khăn hơn.
+ Thứ hai, thuế TNDN là một khoản chuyển giao của NNT cho Nhà nước mang
tính bắt buộc phi hình sự.
Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế nói chung
và thuế TNDN nói riêng, nó phân biệt thuế TNDN với các hình thức huy động
tài chính khác của NSNN.
Đặc điểm này xác định rõ nội dung kinh tế của thuế TNDN là những
quan hệ tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc
biệt, việc động viên mang tính bắt buộc của Nhà nước. Phân phối mang tính
chất bắt buộc dưới hình thức thuế TNDN là một phương thức phân phối của
Nhà nước mà kết quả của quá trình đó là một bộ phận thu nhập của doanh
nghiệp được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát
hoặc những quyền lợi nào khác cho NNT.
+ Thứ ba, việc chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế thu nhập doanh
nghiệp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp.
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế TNDN được biểu hiện trên
các khía cạnh.
Một là, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính đối
giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà
nước không hoàn toàn dựa trên mức độ NNT thừa hưởng những dịch vụ và
hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp. NNT cũng không có quyền đòi
hỏi Nhà nước phải cung cấp hàng hóa dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình
mới phát sinh khoản chuyển giao thu nhập cho Nhà nước, mặt khác mức độ
cung cấp dịch vụ công cộng của Nhà nước cũng không nhất thiết ngang bằng
mức độ chuyển giao.
+ Là khoản thu quan trọng của NSNN
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo
trang trải cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Trong đó, Thuế thu nhập
doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu
thu ngân sách Nhà nước. Ở các nước phát triển, hai loại thuế này đã làm cho
thuế trực thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Ví dụ
như năm 2012, Mỹ: thuế trực thu chiếm 74,8%, Nhật Bản chiếm 74%. Còn ở
hầu hết các nước có thu nhập bình quân đầu người thấp thì thuế gián thu
thường chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng thu ngân sách; ví dụ như: Philipin
chiếm 60%; Thái Lan chiếm 66%; Ấn Độ 63%; Kênia: 61%; Gana: 65%...
Phạm vi áp dụng của thuế TNDN rất rộng, gồm cá nhân, nhóm kinh
doanh, hộ cá thể và các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ có phát sinh lợi nhuận. Nền kinh tế thị trường đang ngày
càng phát triển và ổn định, tăng trưởng kinh tế được giữ vững ngày càng cao,
các chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều
lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính, nguồn thu cho ngân sách
Nhà nước thông qua thuế TNDN ngày càng dồi dào.
+ Là công cụ quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế: hệ
thống pháp luật về thuế TNDN được áp dụng chung cho các cơ sở sản xuất
kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế tạo ra sự bình đẳng trong cạnh tranh
và góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. Việc xác định phạm vi thu thuế và
không thu thuế; quy định mức thuế suất phổ thông và thuế suất ưu đãi; quy
định danh mục các ngành nghề, địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn cần ưu tiên,
khuyến khích đầu tư phát triển, sử dụng biện pháp miễn, giảm thuế TNDN
theo mức độ khác nhau,… thể hiện chính sách ưu đãi hay khuyến khích và vai
trò “bàn tay vô hình” điều tiết sự phát triển kinh tế Nhà nước.
- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài
(sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
Cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh
doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần
hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mang lại thu nhập,
bao gồm:
+ Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện
vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu, khí hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên
khác tại Việt Nam.
+ Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp.
+ Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người
làm công hay một tổ chức, cá nhân khác.
+ Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài.
+ Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký
kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm
quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường
xuyên thực hiện việc giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.
Trường hợp Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà CHXHCN Việt Nam
ký kết có quy định khác về cơ sở thường trú thì thực hiện theo quy định của
Hiệp định đó.
- Tổ chức khác ngoài các tổ chức nêu trên có hoạt động sản xuất kinh
doanh hàng hoá hoặc dịch vụ và có thu nhập chịu thuế.
b. Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
Thu nhập tính thuế:
Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu
thuế trừ thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm
trước theo quy định.
Thu nhập tính thuế được xác định theo công thức sau:
Chi phí
được trừ
+
Các khoản
thu nhập khác
Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bằng
doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trừ chi phí
được trừ của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó. DN có
nhiều hoạt động kinh doanh áp dụng nhiều mức thuế suất khác nhau thì doanh
nghiệp phải tính riêng thu nhập của từng hoạt động nhân với thuế suất tương
ứng.
Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản phải hạch toán riêng
để kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, không được bù trừ với thu nhập
hoặc lỗ từ các hoạt động sản xuất kinh doanh khác.
- Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế
+ Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế (gọi tắt là doanh thu tính thuế) là
toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ (không có thuế GTGT nếu cơ sở
kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ; có cả thuế GTGT nếu
cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp) sau khi đã trừ chiết
khấu giảm giá hàng bán, trị giá hàng bị trả lại, tiền lãi trả chậm, nhưng bao
gồm cả các khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng.
Doanh thu tính thuế còn bao gồm trị giá của hàng hoá, dịch vụ dùng để trao
đổi, biếu tặng (tính theo giá của mặt hàng cùng loại hoặc tương đương trên thị
trường tại thời điểm trao đổi, biếu, tặng, trang bị, thưởng cho người lao động)
và sản phẩm tự dùng (tính theo chi phí để sản xuất ra sản phẩm đó).
định các khoản chi được trừ và liệt kê cụ thể các khoản chi không được trừ.
Theo cách này, những khoản chi còn lại không kê trong Luật và thoả mãn
điều kiện xác định các khoản chi được trừ thì được tính vào chi phí được trừ
khi xác định thu nhập chịu thuế.
Các điều kiện xác định các khoản chi được trừ:
(1) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh
doanh của DN
(2) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp
luật.
(3) Khoản chi không thuộc danh mục các khoản chi không được trừ quy
định dưới đây.
+ Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế:
Một số khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế như:
Khoản chi không đáp ứng đủ các điều kiện quy định nêu trên trừ phần
giá trị tổn thất do thiên tai, dịch bệnh và trường hợp bất khả kháng khác
không được bồi thường; Chi khấu hao tài sản cố định; Chi nguyên liệu, vật
liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hoá phần vượt mức tiêu hao hợp lý; Chi phí
của DN mua hàng hoá, dịch vụ không có hoá đơn, được phép lập Bảng kê thu
mua hàng hoá, dịch vụ mua vào (theo mẫu số 01/TNDN kèm theo Thông tư
130/2008/TT-BTC) nhưng không lập Bảng kê kèm theo chứng từ thanh toán
cho cơ sở, người bán hàng, cung cấp dịch vụ; Chi trang phục bằng hiện vật
cho người lao động không có hoá đơn; Chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người
lao động; Chi phụ cấp tàu xe đi nghỉ phép không đúng theo quy định của Bộ
Luật Lao động; Phần trích nộp quĩ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí
công đoàn vượt mức quy định; Chi trả tiền điện, tiền nước đối với những hợp
đồng điện nước do chủ sở hữu cho thuê địa điểm sản xuất, kinh doanh ký trực
tiếp với đơn vị cung cấp điện, nước không có đủ chứng từ…
- Thu nhập khác
khu vực có mức thuế suất phổ thông 30% như Philipine, Thái Lan; Trung
Quốc 25%, Malaysia 25% thì mức thuế suất phổ thông của Việt Nam được
đánh giá là thấp. (Từ ngày 1/1/2014 thuế suất thuế TNDN phổ thông tại Việt
Nam là 22% và từ ngày 1/1/2016 là 20%. Đối với DN có tổng doanh thu năm
trước liền kề dưới 20 tỷ thì thuế suất thuế TNDN áp dụng là 20%. Nếu năm
trước đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh chưa đủ 12 tháng, tính bình quân
doanh thu một tháng ko vượt 1.67 tỷ thì áp dụng thuế suất thuế TNDN 20%.)
c. Phương pháp tính thuế thu nhập doanh nghiệp