VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------------------------
NGUYỄN THANH ĐẠT
THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI
THÔNG QUA CÁC HÌNH THỨC PHÂN PHỐI
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
------------------------
NGUYỄN THANH ĐẠT
THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI
THÔNG QUA CÁC HÌNH THỨC PHÂN PHỐI
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số: 92. 29. 002
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
QHSX: quan hệ sản xuất
BHTN: bảo hiểm thất nghiệp
Sở LĐ,TB&XH: Sở Lao động
Thương binh và Xã hội
BHYT: bảo hiểm y tế
CBXH: công bằng xã hội
CNXH: chủ nghĩa xã hội
CNTB: chủ nghĩa tư bản
HTPP: hình thức phân phối
KTTT: kinh tế thị trường
TLSX: tư liệu sản xuất
TPKT: thành phần kinh tế
UBND: uỷ ban nhân dân
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI .................................................................................................. 6
1.1. Các công trình nghiên cứu lý luận về công bằng xã hội và các hình thức
phân phối ......................................................................................................... 6
1.2. Các công trình nghiên cứu về thực trạng thực hiện công bằng xã hội
thức phân phối ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay ................................................ 85
3.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế ...................................................... 101
Kết luận chương 3 ..................................................................................... 105
Chương 4: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI THÔNG
QUA CÁC HÌNH THỨC PHÂN PHỐI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆN NAY ................................................................................................. 107
4.1. Phương hướng nhằm thực hiện tốt hơn công bằng xã hội thông qua các
hình thức phân phối ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay ........................... 107
4.2. Những giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt hơn công bằng xã hội thông
qua các hình thức phân phối ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay......................... 115
4.2.1. Các giải pháp về hoàn thiện chính sách phân phối trong từng hình thức
phân phối .................................................................................................... 115
4.2.2. Các giải pháp về nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong thực hiện
các chính sách phân phối ............................................................................ 128
4.2.3. Các giải pháp về sự hỗ trợ của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và
nâng cao nhận thức của người dân............................................................. 144
Kết luận chương 4 .......................................................................................... 150
KẾT LUẬN ................................................................................................ 152
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO KHOA HỌC ........................................... 154
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 155
PHỤ LỤC ................................................................................................... 168
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề CBXH và thực hiện CBXH đã được đặt ra từ rất sớm trong lịch sử
toàn xã hội. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta tiếp tục nhấn
mạnh: “Nhà nước sử dụng thể chế, các nguồn lực, công cụ điều tiết, chính
sách phân phối và phân phối lại để phát triển văn hoá, thực hiện dân chủ, tiến
bộ và công bằng xã hội” [38, tr.269]. Để thực hiện yêu cầu ấy, vấn đề đặt ra là
cần phải làm rõ được tác động của các HTPP đối với sự phát triển kinh tế; lựa
chọn được cơ chế phân phối thích hợp, điều hòa giữa phân phối theo lao động
với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tìm ra sự thống nhất giữa phân
phối và CBXH… Đây cũng là đòi hỏi bức thiết từ thực tiễn và cũng là nhiệm
vụ quan trọng trong việc xây dựng lý luận về phân phối để chỉ dẫn, lựa chọn
các HTPP phù hợp nhằm đảm bảo CBXH.
TP. Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ
của phía Nam và cả nước. Đặc biệt, đây là nơi có hoạt động kinh tế năng
động với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm khá cao. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng bộ và sự chỉ đạo của chính quyền thành phố, trong những năm qua
thành phố đã đạt được những thành tựu nổi bật về mọi mặt. Tuy nhiên, để
tiếp tục xây dựng và phát triển thành phố trong những năm tới đạt được mục
tiêu “gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, xây dựng con người,
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội” [32, tr.186], thì vẫn còn nhiều vấn đề
cần phải giải quyết, nhất là vấn đề phân phối nhằm đảm bảo CBXH. Trong
điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, tình trạng mất công bằng ở thành
phố đang trở nên đáng lo ngại với các biểu hiện như sự phân hóa giàu nghèo
trong xã hội ngày càng sâu sắc; sự mất cân đối trong quan hệ phân phối giữa
các thành phần kinh tế còn tồn tại; đối tượng người yếu thế còn đông; tình
trạng thất nghiệp, thiếu công ăn việc làm của người lao động cao hơn so với
cả nước; khoảng cách thu nhập giữa những người lao động, giữa các quận,
huyện vẫn chưa được thu hẹp; các chính sách ASXH chưa phát huy hết hiệu
2
thời gian tới.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
3.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận án là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về CBXH và
thực hiện CBXH thông qua các HTPP. Ngoài ra, luận án còn kế thừa kết quả
nghiên cứu trong công trình của các tác giả đi trước về những vấn đề có liên
quan đến đề tài.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai dựa trên phương pháp luận biện chứng duy vật.
Đồng thời, luận án cũng sử dụng các phương pháp cụ thể, như phương pháp
lôgíc - lịch sử, hệ thống – cấu trúc, phân tích – tổng hợp, so sánh, thu thập số
liệu, phân tích thống kê...
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu việc thực hiện CBXH thông qua các HTPP
ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung phân tích, đánh giá thực hiện CBXH thông qua các
HTPP trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay.
5. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
5.1. Ý nghĩa lý luận
Thứ nhất, luận án góp phần làm rõ tầm quan trọng của lý luận CBXH và
thực hiện CBXH thông qua các HTPP tại Việt Nam trong bối cảnh xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống việc thực hiện
CBXH thông qua các HTPP tại TP. Hồ Chí Minh, luận án còn có ý nghĩa góp
phần cung cấp những luận cứ thực tiễn, từ đó làm sâu sắc thêm lý luận về
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Nghiên cứu vấn đề CBXH và thực hiện CBXH thông qua các HTPP đã
có rất nhiều công trình của các tác giả trong và ngoài nước. Các công trình
nghiên cứu được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau cả về lý luận và thực
tiễn. Liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận án, chúng tôi trình bày tổng
quan các công trình nghiên cứu gồm các nhóm sau :
1.1. Các công trình nghiên cứu lý luận về công bằng xã hội và các
hình thức phân phối
Lý luận về CBXH và các HTPP đã được trình bày trong nhiều công trình
của các tác giả nước ngoài và trong nước.
Trong công trình Lý luận chung về phân phối của chủ nghĩa xã hội, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, Lý Bân đã lý giải một cách khách quan sự
hình thành lý luận và thực tiễn phân phối xã hội chủ nghĩa, đồng thời làm rõ
những vấn đề lý luận và thực tiễn mới nảy sinh trong quá trình cải cách kinh tế
của các nước đang phát triển trong lĩnh vực phân phối. Công trình này trình bày
một cách hệ thống lý luận về cơ sở và đặc trưng của phân phối, trong đó quan
hệ phân phối được xem như là mắt xích trung gian của quá trình tái sản xuất, có
mối quan hệ với nhiều yếu tố kinh tế, từ đó tác giả nêu rõ các đặc điểm cơ bản
của phân phối xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở phân tích vĩ mô về thu nhập quốc
dân và phân tích vi mô phân phối thu nhập cá nhân, công trình cũng làm rõ cơ
sở lý luận về cơ cấu, cơ chế và chính sách điều tiết phân phối thu nhập quốc
dân và thu nhập cá nhân. Công trình nhấn mạnh hệ thống lý luận về lượng lao
động trong quan hệ phân phối theo lao động thông qua chế độ tiền lương. Lý
luận về phân phối thu nhập cá nhân cũng chỉ dẫn cần có sự đa dạng hóa HTPP
thu nhập cá nhân. Đây là công trình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc,
6
được tác giả trình bày thông qua kiểm chứng thực tiễn hơn 70 năm của các
công bằng và hiệu quả của sự phát triển. Công trình cũng chỉ ra độ hữu dụng cận
biên là cơ sở lý luận quan trọng để kết luận và đánh thuế thu nhập lũy tiến đối
với các nhóm có thu nhập cao hơn nhằm trợ cấp cho các nhóm thu nhập thấp
hơn. Theo đó, độ hữu dụng cận biên thu nhập của người giàu thấp hơn nhiều so
với độ cận biên thu nhập của người nghèo. Vì vậy, cần có các chính sách để các
cá nhân có mức thu nhập càng xa ranh giới của mức tiêu dùng tối thiểu (giàu
hơn) để mức độ co giãn của độ hữu dụng cận biên có thể nhỏ nhất. Stiglitz cũng
lưu ý rằng các chương trình trợ cấp thực hiện thông qua các phương thức tạo ra
các tác động thay thế sẽ hiệu quả hơn là chỉ tạo ra các tác động thu nhập đơn
thuần bằng cách trợ cấp trực tiếp bằng tiền. Với quan điểm trên, công trình cũng
đã chỉ ra được mâu thuẫn cơ bản giữa thực hiện CBXH và hiệu quả phát triển
kinh tế, định hướng giải quyết mối quan hệ này thông qua mức độ hữu dụng cận
biên. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa CBXH và
phát triển kinh tế mà định hướng này không thể giải quyết được.
Công trình Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều
kiện nước ta hiện nay, Phạm Thị Ngọc Trầm (chủ biên), Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 2009. Từ góc độ triết học các tác giả đã phân tích, phê phán, kế
thừa có chọn lọc quan niệm về CBXH của các tác giả trong và ngoài nước từ
cổ đại đến cận hiện đại và kinh nghiệm thực tiễn thực hiện CBXH ở một số
nước trên thế giới; từ đó đưa ra quan niệm về CBXH, rút ra những bài học cần
thiết và thiết thực cho việc thực hiện CBXH ở Việt Nam, đồng thời đề xuất
giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và ý thức của người dân về CBXH, đóng
góp căn cứ khoa học cho việc xây dựng các chính sách xã hội về thực hiện
CBXH phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay. Công trình này đã nghiên
cứu một cách tương đối đầy đủ, khái quát và có hệ thống khía cạnh lý luận
của CBXH qua khảo cứu các công trình ở cả phương Đông và phương Tây.
Trong đó, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin được xem xét trong mối
8
9
vào tư bản, vào sản xuất (hàng hóa) hay dựa trên các nguồn phân phối. Trên cơ
sở đó, tác giả đưa ra quan điểm phân phối một cách công bằng dẫn tới công
bằng trong phân phối phải đáp ứng được các nguyên tắc: Thứ nhất, công bằng
không thể là một phương diện thuần túy, nó phải phản ánh trạng thái thực của
cuộc sống; thứ hai, với tư cách là một phương tiện, công bằng trong phân phối
chỉ có thể là công bằng nếu nó không mâu thuẫn với mục đích cuối cùng, do
vậy nó phải thích hợp với toàn bộ hoạt động của con người; thứ ba, một sự
phân phối không thiên vị không thể bị giới hạn trong bất kỳ một phạm trù phân
phối nào, mang tính định tính hay định lượng. Các nguyên tắc này cho thấy
quan hệ phân phối ở đây được hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó, thể hiện ở sự
phân phối toàn diện cuộc sống và hướng đến đích cuối cùng là toàn bộ nhu cầu
của con người. Lý luận này phù hợp với mục đích và lý tưởng của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Tuy nhiên, để thực hiện mô hình lý luận này cần được thể
nghiệm và hoạch định chiến lược trong một tương lai xa.
Tác giả Phạm Xuân Nam trong bài “Vấn đề thực hiện công bằng xã
hội”, Tạp chí Xã hội học, số 2 (98), 2007, đã trình bày nhiều quan niệm khác
nhau về thực hiện CBXH và chỉ ra nhiều hình thức CBXH được thực hiện
tương thích với những quan niệm khác nhau ấy. Lý luận về CBXH và hình
thức thực hiện CBXH tiêu biểu đã được làm sáng tỏ ở các nước khác nhau
trong lịch sử. Cụ thể là các hình thức CBXH trong mô hình kinh tế thị trường
xã hội, các hình thức được xem là CBXH trong mô hình kinh tế thị trường tự
do, các hình thức CBXH trong mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung phi thị
trường. Tác giả cũng nhấn mạnh công bằng về kinh tế vẫn được xem là yếu tố
cốt lõi của CBXH trong những thập kỷ gần đây. Vấn đề CBXH trong các lĩnh
vực khác tuy có đề cập đến ở những mức độ khác nhau nhưng chưa được đi
sâu phân tích thỏa đáng.
hiến và thụ hưởng là phù hợp hơn cả trong việc thực hiện CBXH đối với các
TPKT. Nguyên tắc phân phối này dựa trên sự tương xứng giữa cống hiến và
thụ hưởng của các TPKT. Cống hiến ngang nhau thì thụ hưởng ngang nhau.
Chính phân phối công bằng sẽ góp phần thúc đẩy bình đẳng về cơ hội ngày
11
càng toàn diện hơn. Thực hiện phân phối công bằng đối với các TPKT không
chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn giúp giải phóng sức lao động, khơi
dậy tiềm năng kinh tế của mọi thành phần kinh tế/chủ thể kinh tế, và tác động
tích cực trở lại bình đẳng xã hội nói chung và bình đẳng cơ hội nói riêng.
Tác giả Nguyễn Minh Hoàn, trong công trình Công bằng xã hội trong
tiến bộ xã hội (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009), đã trình bày sâu sắc
nội dung lý luận về CBXH và quan điểm thực hiện CBXH của Đảng ta. Tác
giả cũng đặt vấn đề CBXH và tiến bộ xã hội trong mối quan hệ tương tác lẫn
nhau; xem thực hiện CBXH là một trong những giải pháp góp phần cho việc
hoạch định các chính sách thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân
chủ, công bằng, văn minh. Công trình cũng gợi ý một số vấn đề đặt ra trong
việc thực hiện CBXH ở nước ta hiện nay, như thái độ ứng xử của chúng ta
trước thực trạng gia tăng phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng; vấn đề CBXH
trong phân phối tư liệu sản xuất cũng như trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức
khỏe nhân dân; trong giáo dục đào tạo ở nước ta hiện nay.
Tác giả Ngô Thị Mỹ Dung với bài viết “Khái niệm công bằng xã hội
trong triết học pháp quyền Arthur Kaufmann” Tạp chí Khoa học xã hội, Viện
Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ, số 5, 2014. Tác giả trình bày khái niệm công
bằng theo quan điểm của nhà triết học Đức Arthur Kaufmann. Theo đó, công
bằng được hiểu theo nghĩa rộng có ba khía cạnh: Sự bình đẳng, sự phù hợp
với mục đích và sự bảo đảm an toàn pháp lý. Trong đó bình đẳng là khía cạnh
hình thức của công bằng, sự phù hợp với mục đích là nội dung của công bằng
Việt Nam phối hợp với Viện FES và Quỹ Rosa Luxemburg (Cộng hoà Liên
bang Đức) tổ chức tại Ban Mê Thuộc tháng 05, 2017. Các nhà khoa học tham
gia Hội thảo đã góp phần luận giải tư tưởng khoa học của C.Mác về công bằng
phân phối, làm sáng tỏ giá trị hiện thời của nó đối với nhân loại nói chung và các
quốc gia nói riêng. Đối với Việt Nam, từ lý luận về CBXH của C.Mác, nhiều bài
viết đã phân tích sâu sắc các chính sách phân phối nhằm thực hiện CBXH. Ngoài
ra, qua đánh giá thực trạng thực hiện nguyên tắc phân phối ở nước ta hiện nay,
13
các tác giả đã khuyến nghị nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
phân phối hướng đến mục tiêu CBXH.
Ngoài ra, còn có các bài viết khác liên quan đến vấn đề lý luận về CBXH
như: “Quan điểm của chủ nghĩa Mác về công bằng với tư cách là thước đo
trình độ giải phóng con người” (Nguyễn Minh Hoàn, Tạp chí Triết học, số 5,
2007); “Quá trình nhận thức của Đảng về CBXH” (Nguyễn Xuân Phong, Tạp
chí Lý luận chính trị, số 4, 2008), v.v..
Các công trình nghiên cứu trên đã cho thấy sự đa dạng về cách đặt vấn
đề và tiếp cận CBXH và các HTPP. Trong một chừng mực nhất định, các
công trình đó đã đưa ra quan niệm quan trọng về CBXH dựa trên quan hệ sở
hữu, quan hệ về các nguồn lực vật chất của xã hội và thậm chí là quan hệ về
văn hóa… Trong đó, mỗi công trình đã lần lượt trình bày các tiêu chí và thước
đo việc thực hiện CBXH thông qua các HTPP; xem các HTPP như là công cụ
quan trọng để thực hiện CBXH. Mỗi công trình, hệ thống lý luận CBXH được
đề xuất khác nhau vừa mang tính lý luận chung, vừa mang tính định hướng
dựa trên từng thời điểm lịch sử cụ thể. Tuy vẫn còn nhiều vấn đề lý luận
CBXH thông qua các HTPP đang đặt ra cần tiếp tục luận giải, nhưng các công
trình trên đã cho thấy cái nhìn tổng quát về lý luận CBXH thông qua các
HTPP trên thế giới. Vì vậy, những công trình trên là cơ sở lý luận quan trọng
CBXH cả về lý luận lẫn thực tiễn của quốc tế và Việt Nam. Đặc biệt, khi làm
rõ sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và CBXH các tác giả đã
khẳng định tiến bộ, CBXH được Đảng và Nhà nước coi là mục tiêu phấn đấu,
là nhân tố ổn định xã hội. Công trình dựa trên số liệu thống kê từ tỷ trọng GDP,
hệ số GINI về bất bình đẳng thu nhập, tỷ lệ lao động thất nghiệp đã chỉ ra thực
trạng và đánh giá những tác động tích cực và hạn chế của việc thực hiện các
chính sách nhằm gắn kết tăng trưởng với tạo việc làm và thu nhập, tái phân
phối thu nhập. Công trình đã cho thấy tính tổng thể về thực trạng gắn kết tăng
trưởng kinh tế với CBXH trong từng lĩnh vực cụ thể về thu nhập, việc làm, xóa
đói giảm nghèo, phúc lợi xã hội, bất bình đẳng, phân tầng xã hội giữa các vùng
15
miền, v.v.. Những kết quả mà công trình này đạt được là cơ sở để luận án tiếp
tục luận chứng làm rõ vấn đề thực hiện CBXH thông qua các HTPP.
Tác giả Nguyễn Trọng Thản có bài viết “CBXH dưới sự tác động của
công cụ thuế”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Những vấn đề lý luận chung về thực
hiện CBXH, Viện Triết học, 2014. Tác giả cho rằng, về bản chất, thuế là quan
hệ phân phối thu nhập và thuế được sử dụng như là công cụ huy động nguồn tài
chính cho Nhà nước. Tính công bằng của thuế được hiểu trên hai giác độ: Công
bằng theo nguyên lý về lợi ích và công bằng theo khả năng nộp thuế. Liên hệ
chính sách thuế ở Việt Nam nhằm hướng đến thực hiện CBXH, tác giả dựa trên
thực trạng về cơ cấu thuế, phân tích số liệu thống kê đối với các TPKT và các
cá nhân trong xã hội đã chỉ rõ vẫn còn nhiều hạn chế trong bộ công cụ này. Vì
vậy, để đảm bảo công bằng cho các đối tượng trong xã hội, làn sóng cải cách
về chính sách thuế và quản lý thuế đã và đang được tiến hành. Công trình đã
nhận thức đúng bản chất của thuế và tác động của chúng đến CBXH, với ý
nghĩa đó sẽ là gợi ý cho Chính phủ xây dựng một hệ thống thuế công bằng và
hiệu quả, từ đó góp phần thực hiện CBXH nói chung.
các thành phần kinh tế ở Việt Nam hiện nay”, Viện Triết học, Hà Nội, 2014.
Công trình này nghiên cứu dưới góc độ lý luận và thực tiễn một cách toàn
diện về vấn đề thực hiện CBXH đối với các TPKT. Qua đó, góp phần cung
cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc thực hiện CBXH đối với các TPKT ở
Việt Nam hiện nay. Các tác giả cho rằng, thực chất của thực hiện CBXH đối với
các TPKT là thực hiện hài hòa lợi ích giữa các TPKT nói chung và các chủ thể
kinh tế nói riêng thông qua hệ thống các chính sách và các cơ chế, hiện thực hóa
các chính sách kinh tế - xã hội với các nội dung chính là đảm bảo sự bình đẳng
về quyền tiếp cận các nguồn lực, quyền tham gia vào hoạt động kinh tế và quyền
được chia sẻ (được phân phối công bằng) các thành quả của phát triển giữa các
TPKT, từ đó tạo động lực cho phát triển, góp phần ổn định xã hội. Trên cơ sở đó,
công trình tập trung phân tích, tìm hiểu thực trạng thực hiện CBXH đối với các
TPKT của Việt Nam trong những năm qua (từ đổi mới đến nay) nhằm tìm ra
nguyên nhân của những thành tựu cũng như hạn chế trong thực hiện CBXH đối
17
với các TPKT. Điểm nổi bậc là công trình đã chỉ ra những hạn chế, thiếu sót
trong thực hiện CBXH đối với các TPKT cả trong nhận thức và hành động;
đồng thời, xác định những nguyên nhân của những hạn chế đó nhằm cung cấp
những luận cứ cho việc đề xuất các giải pháp thực hiện CBXH đối với các
TPKT của Việt Nam từ tầng lý luận. Công trình này có ý nghĩa quan trọng đối
với việc định hướng các chính sách đối với các TPKT ở nước ta hiện nay.
Trong công trình Vai trò của nhà nước đối với việc thực hiện CBXH trong
điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb Chính tri quốc gia, Hà
Nội, 2012, tác giả Võ Thị Hoa đã phân tích lý luận về CBXH và tính tất yếu
của việc thừa nhận vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện CBXH. Tác giả
cũng làm rõ bản chất và tính tất yếu của Nhà nước ta với tư cách là công cụ
thực hiện CBXH trong điều kiện nền KTTT định hướng XHCN hiện nay. Tác