quá trình thực hiện xã hội hóa giáo dục phổ thông ở thành phố hồ chí minh từ 1986-2010 - Pdf 24


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
______________________________

NGUYỄN GIA KIỆM

QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2010 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu được sử dụng có nguồn gốc rõ ràng, những nhận định trong luận án do cá
nhân tôi nghiên cứu dựa trên những tư liệu xác thực và chưa được công bố ở
bất kỳ công trình nào.

Nghiên cứu sinh Nguyễn Gia Kiệm
QUY ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

BTVH : Bổ túc văn hóa
ĐHGD : Đại hội Giáo dục
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
HĐND : Hội đồng nhân dân
PHHS : Phụ huynh học sinh
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TTHTCĐ : Trung tâm Học tập cộng đồng
TTGDTX : Trung tâm Giáo dục thường xuyên
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
UBND : Ủy ban nhân dân
XHHGD : Xã hội hóa giáo dục
XHHT : Xã hội học tập

1.1.3. Xã hội hóa giáo dục 19
1.1.4. Mục tiêu, nội dung, hình thức thể hiện của xã hội hóa giáo dục 22
1.2. Tình hình Giáo dục theo hướng xã hội hóa ở một số nước trên thế giới 24
1.3. Sự phát triển giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh trước đổi mới (1986) 29
1.3.1. Vài nét về lịch sử Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh 29
1.3.2. Giáo dục ở Sài Gòn - Gia Định trước giải phóng 1975 31
1.3.3. Giáo dục cách mạng ở Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm sau giải phóng
(1975-1985) 36
CHƯƠNG 2: THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỰC HIỆN ĐỔI MỚI
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG
XÃ HỘI HÓA (1986-1996) 48
2.1. Bối cảnh đất nước và Thành phố Hồ Chí Minh khi bước vào đổi mới 48
2.2. Hình thành quan điểm về xã hội hóa giáo dục 51
2.3. Buổi đầu thực hiện đổi mới Giáo dục ở Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng xã
hội hóa (1986-1990) 54
2.3.1. Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh triển khai đổi mới giáo dục 54
2.3.2. Tổ chức Đại hội Giáo dục các cấp 55
2.3.3. Ngành Giáo dục phối hợp với các lực lượng xã hội trong hoạt động chống
mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học 56
2.3.4. Ngành Giáo dục phối hợp với các lực lượng xã hội ngăn chặn tình trạng
học sinh bỏ học; từng bước nâng cao hiệu suất đào tạo 57
2.4. Những thể nghiệm xã hội hóa giáo dục ở Thành phố Hồ Chí Minh (1990-1996) 58
2.4.1. Triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII, huy động toàn xã
hội làm giáo dục. 58
2.4.2. Nhân rộng Đại hội Giáo dục các cấp 60
2.4.3. Vận động các đoàn thể quần chúng chống tình trạng lưu ban, bỏ học 62
2.4.4. Vận động xã hội trong hoạt động cải thiện đời sống giáo viên 65
2.4.5. Tăng cường đáp ứng nhu cầu học tập cho đối tượng người khuyết tật 67
2.4.6. Huy động sức dân đóng góp xây dựng, sửa chữa trường lớp 68
2.4.7. Hình thành hợp tác quốc tế trong Giáo dục&Đào tạo để khai thác nguồn

4.1.3. Bước đầu hình thành xã hội học tập 125
4.2. Vai trò, tác dụng của xã hội hóa giáo dục 127
4.2.1. Xã hội hóa góp phần mở rộng quy mô giáo dục 127
4.2.2. Xã hội hóa giáo dục đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của các tầng lớp
nhân dân 129
4.2.3. Xã hội hóa giáo dục góp phần nâng cao chất lượng giáo viên 131
4.2.4. Xã hội hóa giáo dục góp phần nâng cao trình độ dân trí 132
4.2.5. Xã hội hóa giáo dục thúc đẩy quá trình hình thành Xã hội học tập 134
4.3. Những vấn đề đang đặt ra từ công tác xã hội hóa giáo dục ở Thành phố Hồ Chí
Minh 136
4.3.1. Về khả năng huy động sức dân để phát triển giáo dục 136
4.3.2. Về nguồn lực đóng góp của dân 137
4.3.3. Dựa vào nhu cầu học tập của xã hội để phát triển giáo dục và đào tạo 140
4.3.4. Sự năng động linh hoạt của các địa phương trong đổi mới cơ chế quản lý 141
4.4. Những hạn chế của công tác xã hội hóa giáo dục ở Thành phố Hồ Chí Minh 143
4.5. Bài học kinh nghiệm về thực hiện xã hội hóa giáo dục ở Thành phố Hồ Chí
Minh 145
4.6. Những đề xuất để đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục 149
KẾT LUẬN 153
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA NGHIÊN CỨU SINH 159
TÀI LIỆU THAM KHẢO 160
PHẦN PHỤ LỤC 178
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Số lượng trường (lớp) quốc ngữ và chữ Hán ở Sài gòn - Gia định
(1883) 32
Bảng 1.2. Số trường Trung học công lập tại Sài Gòn qua các năm 35
Bảng 1.3. Số lượng học sinh (Đơn vị tính: 1000) 41
Bảng 2.1. Hiệu quả giáo dục cấp tiểu học 1989-1994 70
Bảng 2.2. Hiệu quả giáo dục cấp THCS 1990-1994 70
Bảng 3.1. So sánh tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giữa các tỉnh, thành 83

phát triển của xã hội. Khi xã hội phát triển sẽ tạo điều kiện cho hoạt động giáo dục
phong phú hơn; giáo dục tồn tại và phát triển cùng xã hội và mang đậm bản chất xã
hội. Do đó mỗi dân tộc, quốc gia có đặc điểm riêng trong quá trình phát triển sự
nghiệp giáo dục.
Ở Việt Nam, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, sự nghiệp phát triển giáo
dục và đào tạo được xem là sự nghiệp của quần chúng nhân dân và hoạt động của
giáo dục theo nguyên lý kết hợp nhà trường - gia đình - xã hội. Tuy nhiên trong thời
kỳ phát triển theo mô hình kế hoạch hóa tập trung với cơ chế quan liêu, bao cấp,
hoạt động giáo dục được ngân sách nhà nước bao cấp toàn bộ, trách nhiệm của gia
đình và xã hội trong giáo dục chưa được nhận thức đầy đủ. Do đó hoạt động của
ngành Giáo dục thiếu sự quan tâm đóng góp của xã hội, khi con đường phát triển
của đất nước không thuận lợi, ngân sách nhà nước hạn chế thì hoạt động của ngành
Giáo dục lâm vào khủng hoảng.
Trước thực trạng này, từ năm 1980, Nhà nước đã vận động nhân dân cùng
đồng hành với ngành Giáo dục qua chủ trương “nhà nước và nhân dân cùng làm” để
ngành Giáo dục có điều kiện hoạt động tốt hơn, đảm bảo nhu cầu học tập cho nhân
dân. Thực hiện chủ trương của nhà nước, nhân dân đã hưởng ứng bằng các hành
2
động thiết thực như: đóng góp tiền bạc, công lao động để sửa chữa trường lớp; hình
thành các quỹ học bổng cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn; quan tâm đến việc học
của con em; hỗ trợ đời sống giáo viên…Tuy nhiên đây chỉ là những biện pháp giải
quyết khó khăn tạm thời khi hoạt động giáo dục vẫn trong cơ chế bao cấp.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã mở đầu cho thời kỳ phát triển mới của
đất nước. Trong vận hội đổi mới, ngành Giáo dục được sự đồng hành của xã hội qua
chủ trương “nhà nước và nhân dân cùng làm” được nhà nước thể chế hóa cụ thể
hơn. Đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) và VIII (1996), chủ trương xã
hội hóa đã trở thành quan điểm lớn của Đảng và Nhà nước trong hoạch định chính

góp phần làm thay đổi tư duy quản lý giáo dục; phát triển nhanh hệ thống trường
ngoài công lập; xây dựng các quỹ học bổng; có nhiều hình thức vận động mọi tầng
lớp nhân dân tham gia vào hoạt động giáo dục, hình thành những cơ chế mới trong
hoạt động giáo dục.
Quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay, cũng như trong lĩnh vực phát triển
kinh tế, chủ trương XHHGD được TP.HCM tiếp nhận nhanh với nhiều sáng tạo, trở
thành địa phương đi đầu trong cả nước đưa giáo dục ở địa phương chuyển động
theo hướng xã hội hóa, đồng thời đã tác động ảnh hưởng tích cực đến các địa
phương khác về phát triển hoạt động văn hóa - giáo dục trong tiến trình đổi mới. Là
công dân của TP.HCM, từng tham gia các phong trào chống mù chữ, vận động quần
chúng đóng góp ý kiến, sức người, sức của cho các trường học của Thành phố,
nghiên cứu sinh hiện cũng đang tham gia công tác giáo dục, đào tạo ở địa phương,
nên có những hiểu biết nhất định về quá trình thực hiện XHHGD trong thực tiễn ở
TP.HCM.
Với những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài “ Quá trình thực hiện xã
hội hóa giáo dục phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm
2010” để nghiên cứu là chọn một điển hình năng động có tính sáng tạo của một địa
phương có điều kiện thuận lợi trong thời kỳ đổi mới để thực hiện XHHGD. Nghiên
cứu trường hợp điển hình về XHHGD ở TP.HCM trong thời kỳ đổi mới để thấy
những đóng góp của TP.HCM trong sự nghiệp phát triển giáo dục của đất nước.
b. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phục dựng lại bức tranh phát triển giáo dục ở TP.HCM trong 25
năm đổi mới (1986-2010) nhằm làm rõ từ trước khi có chủ trương XHHGD, hoạt
4
động giáo dục ở TP.HCM đã mang tính xã hội hóa. Khi chủ trương XHHGD được
đề ra và triển khai, TP.HCM đã thực hiện nhanh chóng, triệt để, có hiệu quả và trở
thành địa phương đi đầu trong tiến trình thực hiện XHHGD ở phía Nam, đóng góp

phương án đa dạng hóa” năm 1994 do Sở Giáo dục và Đào tạo (Sở GD& ĐT)
TP.HCM chủ trì, Tiến sĩ Hồ Thiệu Hùng, nguyên Giám đốc Sở GD& ĐT làm chủ
nhiệm đề tài. Từ khảo sát thực tiễn công tác quản lý ngành Giáo dục TP.HCM,
nhóm tác giả đề xuất cần triển khai rộng hệ thống trường ngoài công lập để giảm sự
quá tải của hệ thống trường công lập, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa dạng
của nhân dân TP.HCM [68]. Đa dạng hóa trường lớp mà công trình nghiên cứu đề
xuất dừng lại ở mô hình hệ B trong trường công lập và trường bán công, loại hình
trường dân lập, tư thục chưa đề cập.
Công trình nghiên cứu năm 1997“Xã hội hóa công tác giáo dục” của Giáo sư -
Viện sĩ Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra khái
niệm về XHHGD là: phải làm cho xã hội nhận rõ trách nhiệm với giáo dục;
XHHGD nhằm mục tiêu phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội; XHHGD
nhằm thực hiện kết hợp giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường; tạo điều
kiện cho giáo dục kết hợp với lao động, học đi đôi với hành; XHHGD là con đường
tạo thêm nguồn lực, nhất là nguồn lực tài chính để phát triển sự nghiệp giáo dục với
chủ trương: Nhà nước tập trung đầu tư cho trường công lập, khuyến khích các
nguồn đầu tư khác hỗ trợ cho các trường dân lập, bán công và hệ thống trường
không chính quy; XHHGD là con đường thực hiện dân chủ hóa giáo dục. Công
trình này nhằm làm sáng tỏ nội dung của công tác XHHGD [43]. Tác giả của công
trình nghiên cứu không đề cập đến việc thực hiện xã hội hóa giáo dục ở một địa
phương cụ thể.
Năm 2001,Viện Khoa học Giáo dục chủ trì đề tài “Xã hội hóa giáo dục” do
Võ Tấn Quang chủ biên. Đề tài khá hay này đã giới thiệu các khái niệm và nội dung
của thuật ngữ “xã hội hóa giáo dục” có sự khác nhau theo điều kiện của từng quốc
gia. Điểm chung của các nước (có cả Việt Nam) là cần thiết phải có sự tham gia của
xã hội với nhiều hình thức vào sự nghiệp phát triển giáo dục nhằm đáp ứng cơ hội
hưởng thụ giáo dục cho mọi người ngày một tốt hơn [82]. Công trình nghiên cứu

7
vừa là người học; kinh phí hoạt động cũng bằng biện pháp xã hội hóa thì các
TTHTCĐ mới có điều kiện phát triển ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu sản
xuất ở địa phương [70]. Hai tác giả không đề cập đến việc thực hiện xã hội hóa giáo
dục phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Giáo sư Hồ Ngọc Đại, năm 2006 giới thiệu công trình nghiên cứu “Giải pháp
phát triển Giáo dục” nhấn mạnh đến “Công nghệ học”, đó là quy trình dạy học,
người thầy được ví như “quản đốc trong nhà máy và hướng dẫn học sinh thi công
theo bản thiết kế” và sản phẩm của giáo dục là sự hợp tác giữa: học sinh - thầy giáo
- cha mẹ học sinh. Tác giả cũng đề xuất là: “Nếu thầy giáo hiện đại có nghiệp vụ
của mình, thì cha mẹ hiện đại cũng phải có nghiệp vụ làm cha mẹ của thời đại
mình”. Nghiên cứu không đề cấp đến XHHGD, nhưng giải pháp mà tác giả trình
bày đã yêu cầu đến nội dung của XHHGD, đó là sự hợp tác giữa nhà trường và xã
hội rất quan trọng trong công tác giáo dục [37].
Dưới góc độ quản lý kinh tế có luận án Tiến sĩ “Hoàn thiện cơ chế quản lý
tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam” năm 2007 của Bùi Tiến
Hanh (Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội). Theo tác giả luận án, nguồn lực
vật chất từ vận động XHHGD cần có chế độ quản lý mới phát huy tính tích cực
nguồn lực này [46]. Tác giả luận án không nghiên cứu về các nguồn lực khác như:
nhân lực và vật lực
Đề tài “Một số biện pháp tăng cường quản lý nhà nước về xã hội hóa giáo
dục mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh” là luận văn Thạc sĩ năm 2007 của
Nguyễn Mạnh Thắng (Học viện Hành chính Quốc gia). Trong luận văn này, tác giả
đề xuất Nhà nước cần có chế độ kiểm tra các hoạt động XHHGD, đồng thời đề xuất
các biện pháp quản lý về quy mô phát triển, nguồn lực đầu tư đối với hệ thống
trường Mầm non [72]. Tác giả luận văn không nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục
phổ thông ở TP.HCM

thuế…); cho người đi học được vay tiền để trang trải việc học; Nhà nước có chính
sách ưu tiên với các vùng sâu, vùng xa và vùng khó khăn, nơi mà hoạt động giáo
dục còn nhiều khó khăn. Tóm lại XHHGD, theo tác giả bài báo này, nhà nước tạo
điều kiện cho nhân dân tham gia sâu hơn nữa vào hoạt động giáo dục, đồng thời kết
hợp với nhân dân thực hiện công bằng giáo dục, đáp ứng tối đa nhu cầu học tập đa
9
dạng của nhân dân [85]. Tác giả công trình không đề cập đến hoạt động cụ thể trong
thực tiễn.
Hội Khuyến học TP.HCM năm 2007 nghiên cứu theo yêu cầu của Thành Ủy
Thành phố Hồ Chí Minh với đề tài “Xây dựng mô hình xã hội học tập ở Thành phố
Hồ Chí Minh thời hội nhập” (nghiệm thu năm 2010). Công trình này nghiên cứu
thực trạng giáo dục; các yếu tố của XHHT hiện có tại TP.HCM (2007); đề xuất thử
nghiệm mô hình XHHT tại TP.HCM với các điều kiện và giải pháp xây dựng
XHHT nhằm góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân; góp phần
nâng cao trình độ nguồn nhân lực của Thành phố trong giai đoạn hội nhập hiện nay.
Công trình đặc biệt nhấn mạnh đến các nhân tố để xây dựng tốt XHHT là:
Lãnh đạo Đảng và Chính quyền địa phương các cấp phải nhận thức đúng mục
tiêu của XHHT.
Nhà nước cần có chính sách vĩ mô để cải thiện đời sống cho nhân dân.
Tăng cường đầu tư nguồn lực cho các TTHTCĐ.
Công trình nghiên cứu cũng đề cập XHHGD là nội dung cốt lõi của XHHT
[48]. Kế thừa kết quả của công trình, luận án nghiên cứu về khả năng đáp ứng nhu
cầu học tập ở cấp phổ thông của ngành Giáo dục TP.HCM.
Công trình nghiên cứu “Giáo dục Việt Nam 1945-2010” do Phạm Tất Dong
chủ biên, gồm 2 tập: Tập 1 trình bày lịch sử phát triển giáo dục của đất nước và giới
thiệu hoạt động giáo dục của các địa phương; Tập 2 đi sâu vào nghiên cứu hoạt
động giáo dục và những điển hình giáo dục của các địa phương. Các điển hình về

đời sống xã hội; giáo dục ý thức tự giác cho học sinh trong việc tìm hiểu, phát huy
các giá trị văn hóa truyền thống (dân tộc, địa phương) Để thực hiện được các vấn
đề này tốt, có hiệu quả thì Đảng và Chính quyền các cấp, ngành Giáo dục cần quy
trách nhiệm cụ thể cho các ban ngành, đoàn thể cùng liên kết thực hiện. Tác giả Vũ
Đình Chiến, giảng viên Trường Cán bộ quản lý giáo dục TP.HCM có tham luận về:
“Bàn thêm về huy động các nguồn lực để phát triển giáo dục và đào tạo thời kỳ đổi
mới hiện nay”, theo tác giả, nguồn lực bao gồm: nguồn nhân lực cần có chính sách
thu hút đồng thời phát hiện khen thưởng kịp thời các lực lượng xã hội, cá nhân
trong cộng đồng có tâm huyết, tài năng tham gia vào hoạt động giáo dục; về vật lực
vận động nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội trong và ngoài nước đóng góp xây
dựng trường (công lập và ngoài công lập), mời những chuyên gia việt kiều về tham
11
gia công tác giảng dạy; về nguồn tài chính, các nguồn đóng góp phải đảm bảo
nguyên tắc công khai, dân chủ, tự nguyện và nên để các tổ chức ngoài nhà trường
vận động (các tổ chức đoàn thể, tôn giáo ) thu, chi và quản lý trực tiếp dưới dạng
các quỹ bảo trợ giáo dục [23]. Các biện pháp vận động xã hội hóa giáo dục chưa
được các tác giả đề cập.
“Xã hội hóa giáo dục thời lập quốc” là bài viết ngắn của tác giả Bá Mạnh
trong trang thông tin điện tử “baomoi.com” ngày 5/9/2011 đã thuật lại câu chuyện
về công tác xóa nạn mù chữ của Chính phủ lâm thời đầu tiên của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa. Chính phủ đề ra kế hoạch trong một năm phải thanh toán xong
nạn mù chữ trong nhân dân. Bộ Quốc gia Giáo dục đã tổ chức Hội nghị toàn quốc
để tìm biện pháp thực hiện và Hội nghị thống nhất ý kiến là phải dựa vào sức dân
thì mới hoàn thành được nhiệm vụ này (nếu theo khả năng lúc đó của Việt Nam thì
phải mất 30 đến 40 năm). Sự quyết tâm của chính phủ và có được sự hợp tác của
nhân dân mà chỉ sau 1 năm (từ 8/9/1945 đến 8/9/1946), cả nước đã có 2,5 triệu
người thoát nạn mù chữ (dân số Việt Nam lúc đó khoảng 22 triệu người). Kinh

nhiệm, nguồn lực cho sự nghiệp phát triển giáo dục ở Việt Nam. Những đóng góp
của nhân dân chưa được tác giả đề cập.
Bài viết “Giáo dục Việt Nam - Nguồn gốc lịch sử, xu hướng phát triển gần
đây” năm 2007 của TS. Jonathan D. London. Tác giả nêu 3 vấn đề lớn của Giáo dục
Việt Nam: mối tương quan giữa giáo dục và phát triển còn mâu thuẫn giữa nhu cầu
và khả năng đáp ứng; các chính sách phát triển giáo dục chưa mang tính ổn định lâu
dài; vấn đề chất lương đào tạo cũng cần đánh giá chính xác. Theo tác giả cần thiết
phải có sự tham gia của người dân vào tất cả các hoạt động của giáo dục [181].
Nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu cả về thực tiễn và lý luận vấn
đề XHHGD ở tầm quốc gia, các địa phương cũng có những báo cáo tổng kết về
XHHGD ở địa phương mình. Đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên về vấn
đề thực hiện XHHGD ở TP.HCM. Kế thừa các công trình nghiên cứu về lĩnh vực
này của các nhà nghiên cứu đi trước, các báo cáo chuyên đề về XHHGD của Bộ
GD& ĐT, của Sở GD& ĐT TP.HCM; báo cáo tổng kết của Hội Khuyến học
TP.HCM; báo cáo về công tác XHHGD của một số đơn vị trường học trong cả
13
nước Tác giả luận án nghiên cứu về quá trình thực hiện XHHGD phổ thông ở
TP.HCM từ năm 1986 đến năm 2010.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động của giáo dục theo chủ trương
xã hội hóa bao gồm sự chỉ đạo của Đảng, các cấp chính quyền và ngành Giáo dục ở
TP.HCM; sự hưởng ứng của các lực lượng xã hội qua các hành động đóng góp cụ
thể cho sự nghiệp phát triển giáo dục qua 2 giai đoạn trong thời kỳ đổi mới, trong
đó giai đoạn đầu 1986-1996 là những hoạt động mang tính sáng tạo theo tinh thần
xã hội hóa và giai đoạn 1997-2010 là những điều chỉnh theo chủ trương XHHGD
của Đảng.

quyết 90/CP đã cụ thể hóa chủ trương của Đảng nên từ năm 1997 chủ trương
XHHGD được vận dụng tích cực trong thực tiễn. Năm 2010 được xem là năm cuối
của kế hoạch phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010.
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu.
a. Phương pháp nghiên cứu.
Là chuyên ngành lịch sử nên luận án đã vận dụng phương pháp Lịch sử và
phương pháp Logic xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu để làm rõ quá trình hoạt
động của giáo dục TP.HCM qua các giai đoạn thăng trầm nhất là giai đoạn thập
niên 80, bối cảnh lịch sử cụ thể dẫn đến sự khủng hoảng của giáo dục Việt Nam
trong đó có giáo dục TP.HCM. Đường lối đổi mới đưa Việt Nam vào kỷ nguyên
phát triển mới đã làm thay đổi tư duy quản lý xã hội nói chung và quản lý giáo dục
nói riêng. Trong đổi mới giáo dục, công tác XHHGD được xem là động lực quan
trọng của tiến trình đổi mới, qua đó làm rõ mối quan hệ giữa phát triển kinh tế đối
với sự phát triển của giáo dục và đào tạo trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định ở
Thành phố.
Ngoài hai phương pháp chủ đạo trên, luận án cũng vận dụng phương pháp bổ
trợ như phương pháp phân tích tài liệu qua các văn bản, báo cáo hoạt động của
ngành Giáo dục ở TP.HCM, các công trình nghiên cứu về phát triển giáo dục; phân
tích, xử lý các số liệu thống kê xã hội học để phục dựng toàn bộ quá trình đổi mới
giáo dục ở TP.HCM theo chủ trương xã hội hóa; luận án cũng vận dụng phương
pháp phỏng vấn các cán bộ quản lý ngành Giáo dục các cấp ở TP.HCM nhằm xác
15
định rõ những chuyển động tích cực của hoạt động giáo dục khi thực hiện chủ
trương XHHGD cũng như những hạn chế trong quá trình thực hiện; phương pháp
phân tích so sánh cũng được vận dụng để làm rõ những hoạt động và sự chuyển
biến của quá trình thực hiện XHHGD phổ thông ở TP.HCM qua 2 giai đoạn 1986-
1996 và 1997-2010 trong điều kiện về kinh tế, xã hội có nhiều chuyển biến tích cực.

lịch sử giáo dục cả nước nói chung, TP.HCM nói riêng từ khi đất nước bước vào
thời kỳ đổi mới đến nay.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm có
4 chương:
Chương 1. Tổng quan về xã hội hóa giáo dục và sự phát triển của giáo dục
ở Thành phố Hồ Chí Minh trước thời kỳ đổi mới.
Chương 2. Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện đổi mới phát triển giáo dục phổ
thông theo hướng xã hội hóa (1986-1996).
Chương 3. Thành phố Hồ Chí Minh đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục phổ thông
(1997-2010).
Chương 4. Nhận định và đánh giá về quá trình thực hiện xã hội hóa giáo dục
phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2010.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status