Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc trong vụ Hè Thu 2016 tại Thái Nguyên (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HÀ KHÁNH DƯ

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA CÁC DÒNG ĐẬU TƯƠNG NHẬP NỘI TỪ HÀN QUỐC
TRONG VỤ HÈ THU 2016 TẠI THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HÀ KHÁNH DƯ

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
CỦA CÁC DÒNG ĐẬU TƯƠNG NHẬP NỘI TỪ HÀN QUỐC
TRONG VỤ HÈ THU 2016 TẠI THÁI NGUYÊN
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: TS. Lưu Thị Xuyến

THÁI NGUYÊN - 2017


tiêu nghiên cứu; Xin cảm ơn sự giúp đỡ của bạn bè đồng nghiệp, người thân
và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thiện luận
văn này.
Luận văn này khó tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn đọc và xin trân
trọng cảm ơn.
Thái Nguyên, ngày

tháng

Tác giả luận văn

Hà Khánh Dư

năm 2017


iii
MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT ...................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG.............................................................................. vii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục đích tiêu nghiên cứu .............................................................................. 3
3. Yêu cầu của đề tài ......................................................................................... 3
4. Ý nghĩa của đề tài .......................................................................................... 3

Chương 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................... 30
3.1. Kết quả theo dõi các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các dòng đậu
tương nhập nội từ Hàn Quốc trong vụ Hè thu 2016 tại Thái Nguyên .................. 30
3.1.1. Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các dòng đậu tương nhập nội
thuộc nhóm chín sớm ...................................................................................... 31
3.1.2. Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các dòng đậu tương nhập nội
thuộc nhóm trung ngày.................................................................................... 37
Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của 36 dòng đậu tương thuộc
nhóm trung ngày chúng tôi thu được kết quả ở bảng 3.1b: ............................ 37
3.2. Đặc điểm hình thái của các dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc thí
nghiệm trong vụ Hè Thu năm 2016 tại trường ĐHNL-TN............................. 38
3.2.1 Đặc điểm hình thái của các dòng đậu tương thuộc nhóm chín sớm ...... 39
3.2.2. Đặc điểm hình thái của các dòng đậu tương thuộc nhóm trung ngày......... 42
3.3. Đặc điểm thực vật học của các dòng đậu tương tham gia thí nghiệm ............. 44
3.3.1. Đặc điểm thực vật học của các dòng đậu tương thuộc nhóm chín sớm ..... 45
3.3.2. Đặc điểm thực vật học của các dòng đậu tương thuộc nhóm trung ngày ....... 47


v
3.4. Một số loại sâu bệnh hại chính và khả năng chống đổ, chống tách vỏ quả
của các dòng đậu tương thí nghiệm. ............................................................... 50
3.4.1. Một số loại sâu bệnh hại chính và khả năng chống đổ, chống tách vỏ
quả của các dòng đậu tương thí nghiệm thuộc nhóm chín sớm ....................... 51
3.4.2. Một số loại sâu bệnh hại chính và khả năng chống đổ, chống tách vỏ
quả của các dòng đậu tương thí nghiệm thuộc nhóm trung ngày...................... 55
3.5. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng tham gia thí
nghiệm ............................................................................................................. 57
3.5.1. Kết quả theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các
dòng đậu tương thuộc nhóm chín sớm ............................................................ 57
3.5.2. Kết quả theo dõi các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các


: Khoa học cây trồng

KHKTNNVN

: Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam

KHKTNNMN

: Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam

KL

: Khối lượng

NN

: Nông nghiệp

NS

: Năng suất

NSLT

: Năng suất lý thuyết

Nxb

: Nhà xuất bản

Bảng 3.4a: Một số loại sâu bệnh hại chính và khả năng chống đổ, chống tách
vỏ quả của 10 dòng đậu tương triển vọng trong thí nghiệm thuộc nhóm chín
sớm .......................................................................................................... 52


viii
Bảng 3.4b: Một số loại sâu bệnh hại chính và khả năng chống đổ, chống tách
vỏ quả của 10 dòng đậu tương triển vọng trong thí nghiệm thuộc nhóm trung
ngày ............................................................................................................. 55
Bảng 3.5a: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của 10 dòng đậu
tương triển vọng thuộc nhóm chín sớm .................................................... 58
Bảng 3.5b: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của 10 dòng đậu
tương có triển vọng thuộc nhóm trung ngày ............................................. 61


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) còn gọi là cây đậu nành là
một cây trồng cạn có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao.
Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho chế
biến, thức ăn gia súc gia cầm và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ngoài ra
đậu tương còn là cây cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [2].
Đậu tương là một trong những cây có dầu quan trọng bậc nhất trên thế
giới và là cây trồng đứng vị trí thứ tư trong các cây làm lương thực thực phẩm
sau lúa mỳ, lúa nước và ngô. Hạt đậu tương là loại sản phẩm duy nhất mà giá
trị của nó được đánh giá đồng thời cả protein và lipit. Trong đó protein chiếm
khoảng 36 - 46%, lipit biến động từ 16 - 24% tuỳ theo giống và điều kiện khí
hậu. Protein đậu tương có giá trị cao không những về hàm lượng lớn mà nó
còn đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là các loại axit amin không

Úc để phục vụ cho chế biến thực phẩm cho con người và gia súc. Sở dĩ có
nghịch lý như trên là do người trồng đậu tương ở Thái Nguyên chưa có những
bộ giống đậu tương đa dạng có năng suất, chất lượng cao thích hợp cho từng
tiểu vùng sinh thái và đáp ứng được nhu cầu chế biến thực phẩm.
Trong chọn tạo giống đậu tương có thể sử dụng phương pháp lai tạo,
đột biến hoặc chọn lọc từ các nguồn vật liệu nhập nội, trong đó chọn lọc từ
các nguồn vật liệu nhập nội là phương pháp chọn tạo giống hiệu quả nhất và
tiết kiệm thời gian nhất. Các nguồn vật liệu phục vụ cho chọn giống được
nhập nội về trước hết cần phải có những nghiên cứu đánh giá khả năng sinh
trưởng, phát triển, năng suất và khả năng chống chịu để có thể trực tiếp chọn
lọc được các giống phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng và mục đích sử dụng.
Hiện nay, năng suất đậu tương của Việt Nam (14,32 tạ/ha) rất thấp so
với năng suất bình quân đậu tương của thế giới (26,20 tạ/ha) do nhiều nguyên
nhân như đất đai, khí hậu, kỹ thuật canh tác; trong đó, giống là một trong
những nguyên nhân chính. Có nhiều biện pháp chọn tạo ra giống đậu tương


3
mới phục vụ cho sản xuất trong đó biện pháp nhập nội để đánh giá chọn lọc ra
giống tốt phù hợp với điều kiện sinh thái là biện pháp nhanh và rẻ tiền nhất.
Năm 2016 trong khuôn khổ hợp tác giữa Việt Nam và Hàn Quốc, nước ta đã
nhập nội 310 dòng đậu tương mới của Hàn Quốc. Từ thực tiễn đó chúng tôi
đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các
dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc trong vụ Hè Thu 2016 tại Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nhằm tuyển chọn được những dòng đậu tương có khả năng sinh trưởng,
phát triển tốt thích hợp với điều kiện sinh thái của vùng phục vụ cho công tác
chọn tạo giống đậu tương ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
3. Yêu cầu của đề tài
Xác định được khả năng sinh trưởng, phát triển, tình hình nhiễm sâu

triển một nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, có tính bền vững cao. Các giống
mới phát triển được trong sản xuất phải có độ đồng đều cao, thể hiện các yếu
tố di truyền tốt của giống, có khả năng chống chịu với các điều kiện ngoại
cảnh bất thuận của từng vùng khí hậu, chống chịu sâu bệnh tốt, năng suất cao,
chất lượng tốt và ổn định qua nhiều thế hệ.
Hiện nay, các nhà khoa học không ngừng nghiên cứu chọn tạo ra những
bộ giống đậu tương cho năng suất cao thích hợp với nhiều vùng sinh thái.
Trong đó nhập nội là một phương pháp hiệu quả và tiết kiệm thời gian nhất để
tuyển chọn ra những bộ giống đậu tương cho năng suất cao thích hợp với
nhiều vùng sinh thái nhằm hạn chế số lượng đậu tương nhập khẩu hàng năm
và mang lại hiệu quả kinh tế cho người trồng Tuy nhiên, các giống cây trồng
nhập nội do điều kiện sinh thái khác xa so với nơi chúng được tạo ra. Do đó,
cần có những nghiên cứu đánh giá tính thích nghi của giống.


5
1.2. Yêu cầu sinh thái của cây đậu tương
1.2.1. Nhiệt độ
Nhiệt độ tối thiểu và tối đa cho cây đậu tương ở thời kỳ nảy mầm nằm
trong phạm vi từ 10 – 40oC. Dưới 10oC thì sự vươn dài của trục mầm dưới lá
bị ảnh hưởng. Hạt đậu tương muốn mọc được cần có nhiệt độ từ 10 – 12oC
càng ấm thì hạt đậu tương càng dễ mọc và mọc nhanh.
Cây đậu tương tuy có nguồn gốc ôn đới nhưng không phải là cây chịu
được rét. Tổng tích ôn của nó biến động trong khoảng 1700 – 2700oC. Đậu
tương có thể sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ không khí từ 27 – 42oC.
Trong quá trình sinh trưởng, nếu nhiệt độ biến động trên hoặc dưới mức thích
hợp quá nhiều đều có thể gây thiệt hại cho đậu tương. Khả năng bị thiệt hại do
nhiệt độ tùy thuộc vào từng giai đoạn sinh trưởng của cây. Nhiệt độ thích hợp
cho quá trình nảy mầm của hạt đậu tương là từ 22 – 26oC nếu nhiệt độ quá cao
hoặc quá thấp đều ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm.

cả quá trình sinh trưởng phát triển. Hạt nảy mầm đòi hỏi độ ẩm đất 60 - 65%
nếu đất khô quá thì hạt không mọc được, hạt nằm lâu trong đất thì sẽ bị thối,
nếu đất ướt quá thì hạt thiếu khí sẽ không mọc được hạt cũng bị thối. Nhu cầu
về nước tăng dần theo thời gian sinh trưởng của cây và nhu cầu đó cũng thay
đổi tùy theo điều kiện khí hậu, đất đai và vùng sinh thái. Độ ẩm của đất có sự
tương quan thuận với chiều cao của cây, đường kính và số đốt, số hoa, tỷ lệ
đậu quả và số hạt. Giai đoạn ra hoa và bắt đầu làm quả nếu bị thiếu nước hoa
sẽ bị rụng nhiều làm giảm số quả trên cây.
Việc cung cấp nước cho lá để duy trì sức căng của tế bào là yếu tố quan
trọng để đảm bảo tốc độ tăng diện tích lá, mà hệ số diện tích lá tỷ lệ thuận với
tốc độ tăng trưởng của cây, làm giảm diện tích lá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
sự sinh trưởng của cây.
Giai đoạn vào mẩy là lúc đậu tương cần nhiều nước nhất, lúc này nếu
để thiếu nước thì sẽ làm năng suất giảm nhiều hơn các giai đoạn trước. Tuy là
rất cần nước nhưng cây đậu tương cũng có khả năng chịu được hạn trong thời


7
gian nhất định nhưng muốn đạt năng suất cao cần phải đảm bảo cho cây
thường xuyên đủ ẩm, nếu gặp hạn đặc biệt vào các giai đoạn quan trọng thì
phải tìm mọi cách khắc phục để tưới cho cây (Phạm Văn Thiều, 2006) [15].
1.2.3. Ánh sáng
Là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến hình thái cây đậu tương, nó làm thay
đổi thời gian nở hoa và chín, ảnh hưởng tới chiều cao cây, diện tích lá và rất
nhiều các đặc tính di truyền khác của đậu tương.
Ánh sáng là yếu tố quyết định quá trình quang hợp, sự cố định nitơ và
sản lượng chất khô cũng như nhiều đặc tính khác phụ thuộc vào quang hợp.
Cây đậu tương có phản ứng với độ dài ngày, các giống khác nhau phản
ứng với độ dài ngày khác nhau, là một cây ngắn ngày điển hình, sự tác động của
ánh sáng ngày ngắn mạnh nhất là vào giai đoạn trước khi cây ra hoa, lúc này ánh

Handerson và Kampraha (1970) với các giống đậu tương sinh trưởng hữu
hạn, cho thấy tỷ lệ hấp thụ các chất khoáng N, P, K, Ca và Mg tăng dần qua
các giai đoạn hình thành hạt. Tỷ lệ hấp thụ tối đa tương ứng của chúng là
7,7: 0,41: 0,46: 2,4 và 0,77 kg/ha (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [2].
1.3. Tình hình sản xuất và chọn tạo giống đậu tương trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Tình hình sản xuất và chọn tạo giống đậu tương trên thế giới
1.3.1.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Cây đậu tương chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong 8 cây lấy dầu
quan trọng của thế giới: đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, lanh,
dừa và cọ dầu. Đây là trồng mang tính chiến lược với những quốc gia có điều
kiện phát triển vì có trao đổi rất cao trên thị trường do nhu cầu sử dụng protein,
dầu thực vật, thực phẩm chức năng và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi gia súc
ngày càng gia tăng nên cây đậu tương được trồng phổ biến ở nhiều nước trên
thế giới, tập trung nhiều nhất ở các nước châu Mỹ chiếm tới 73%, tiếp đó là
các nước thuộc khu vực châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ) chiếm 23,15%. Diện
tích, năng suất và sản lượng không ngừng tăng lên qua các thời kỳ.


9
Số liệu thống kê về diện tích, năng suất và sản lượng trên thế giới được
thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 năm 2010-2014
Sản lượng

Năm

Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha)

2010


2014

117,72

26,20

308,44

(triệu

tấn)

(Nguồn: FAOSTAT, 2016) [22].
Qua số liệu bảng 1.1 cho thấy: Diện tích trồng đậu tương trên thế giới
hàng năm không ngừng tăng. Năm 2014 diện tích tăng khoảng 15 triệu ha so với
năm 2010. Diện tích trồng đậu tương lớn nhất trên thế giới là 117,72 triệu ha vào
năm 2014. Về năng suất, trong 5 năm, từ năm 2010 - 2014 năng suất đậu
tương trên thế giới tương đối ổn định dao động từ 22,93 - 26,2 tạ/ha. Năm
2012, năng suất đậu tương trên thế giới thấp nhất là 22,93 tạ/ha. Năm 2014,
năng suất đậu tương cao nhất là 26,2 tạ/ha. Do hàng năm diện tích trồng liên
tục tăng lên nên sản lượng đậu tương trên thế giới cũng tăng lên, trong 4 năm
từ 2010 - 2014 tăng 43,53 triệu tấn.


10
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của 4 nước trồng
đậu tương chủ yếu trên thế giới
Tên nước

Mỹ

2011

79,21

28,29

224,31

2012

80,41

25,30

203,44

2013

85,79

28,34

243,09

2014

91,86

29,53


29,29

81,72

2014

30,27

28,66

86,76

2010

18,13

29,05

52,68

2011

18,76

26,05

48,89

2012


2011

7,89

18,36

14,49

2012

7,17

18,14

13,01

2013

6,79

17,60

11,95

2014

6,73

18,13


Trung Quốc là nước đứng thứ 4 về cây trồng này. Ở Trung Quốc, đậu
tương được trồng chủ yếu ở vùng Đông Bắc, nơi có những điển hình năng
suất cao, đạt 83,93 tạ/ha trên diện tích 0,4 ha và 49,6 tạ/ha trên diện tích là
0,14 ha. Tuy sản xuất đậu tương của Trung Quốc còn đứng sau Mỹ, Braxin và
Argentina nhưng đây vẫn là nước có diện tích, năng suất và sản lượng đậu
tương lớn nhất châu Á. Năng suất đậu tương của Trung Quốc thấp hơn năng
suất bình quân thế giới khoảng 7 tạ/ha. Sản lượng thì giảm gần 3 tấn do diện


12
tích sản xuất giảm, sản lượng không đáp ứng được nhu cầu trong nước. Hàng
năm, Trung Quốc vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn đậu tương từ châu Mỹ;
Trung Quốc là nước phải nhập đậu tương lớn nhất trên thế giới.
1.3.1.2 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống đậu tương trên thế giới
Nhận thức được vai trò vô cùng quan trọng, cũng như nhu cầu của con
người sử dụng các sản phẩm được chế biến từ đậu tương ngày một tăng mà
nhiều nước đã đầu tư lớn cho việc tăng năng suất và diện tích cây đậu tương.
Để thực hiện được điều đó họ đã chú trọng đến đẩy mạnh việc áp dụng khoa
học kỹ thuật trong công tác nghiên cứu chọn tạo giống mới. Đã có hàng nghìn
công trình nghiên cứu trên thế giới được thực hiện qua các năm, với các
phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm tìm ra những giống đậu tương có
năng suất cao, phẩm chất tốt thích nghi với điều kiện sinh thái của các vùng
khác nhau.
Hiện nay, nguồn gen đậu tương trên thế giới được lưu giữ chủ yếu ở 15
nước: Đoài Loan, Australia, Trung quốc, Pháp, Nigienia, Ấn độ, Indonesia,
Nhật bản, Triều tiên, Nam Phi, Thụy điển, Thái lan, Mỹ, Nga với tổng số
45.038 mẫu giống (Trần Đình Long và cs, 2005)[10].
Mỹ là quốc gia luôn dẫn đầu thế giới về năng suất và sản lượng đậu
tương. Nhờ các phương pháp chọn lọc và nhập nội, gây đột biến và lai tạo mà
họ đã tạo ra được những giống đậu tương mới. Những dòng nhập nội có năng

gamma) có hệ rễ tốt, nhiều cành, lóng ngắn, khả năng thích ứng rộng (Trần
Đình Đông, 1994) [7].
Đài Loan đã bắt đầu chương trình chọn tạo giống từ năm 1961 và đưa
vào sản xuất các giống Kaohsing 3, Tainung 3, Tainung4... Các giống được
xử lý Nơron và tia X cho các giống đột biến Tainung. Tainung 1 và Tainung2
có năng suất cao hơn giống khởi đầu và vỏ không bị nứt (Vũ Tuyên Hoàng và
cs, 1995) [8]. Các giống này (đặc biệt là Tainung4) đã được dùng làm nguồn
gen kháng bệnh trong các chương trình lai tạo giống ở các cơ sở khác nhau


14
như Trạm thí nghiệm Majo (Thái Lan), Trường đại học Philippin (Vũ Tuyên
Hoàng và cs 1995) [8].
Hiện nay, vùng Đông nam Á cũng là một vùng trọng điểm của công tác
phát triển giống đậu tương và được ưu tiên hàng đầu trong hệ thống nông
nghiệp.
Tại Indonesia, các nhà nghiên cứu chọn tạo nhằm mục đích cải tiến
giống có năng suất cao trồng được ở vùng đất thấp sau vụ thu hoạch lúa, với
thời gian sinh trưởng ngắn khoảng 70–80 ngày, chống chịu bệnh gỉ sắt và có
hạt thon dài (Sumarno và T.Adisan wanto, 1991) [26] . 14 giống có năng suất
cao đã được tạo ra và được khuyến cáo gieo trồng trong đó có giống Wilis
được trồng phổ biến nhất, giống này có thời gian sinh trưởng 85 ngày, năng
suất bình quân đạt 2,5 tấn/ha. Việc cải tiến giống đã góp phần đưa năng suất
đạt 2,5 tấn/ha, giống có thời gian sinh trưởng ngắn, thích ứng với môi trường
không thuận lợi (đất không cày bừa; đất khó tiêu nước), chất lượng hạt được
tăng lên, tăng khả năng chống đổ... (Sumarno và T.Adisan wanto, 1991) [26].
Qua chọn lọc mà họ đã chọn ra được một số giống trồng được trên đất ướt
sau vụ thu hoạch lúa với việc làm đất và không làm đất trong mùa khô mà vẫn
cho năng suất 14,7 - 16,8 tạ/ha như các giống Kerinci, Lompobatang, Rinjani,
(Buitrago và cs 1971) [21].

tương Việt Nam chỉ đạt 94 nghìn ha, năng suất 1,57 tấn/ha, sản lượng 147,5
nghìn tấn; so với năm 2011 diện tích gieo trồng cả nước bị giảm trên 87 nghìn
ha và sản lượng giảm 119,4 nghìn tấn. Với số liệu này thì chỉ đạt 23,5% so
với chỉ tiêu kế hoạch đề ra cho năm 2010 (400 nghìn ha) và khó đạt chỉ tiêu
kế hoạch đến 2020 (500 nghìn ha) theo chủ trương phát triển của Bộ Nông
nghiệp và PTNT nếu không có giải pháp phù hợp.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status