ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––––––––
HOÀNG THÁI LÂM
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ
Ở THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––––––––
HOÀNG THÁI LÂM
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ
Ở THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS DƯƠNG VĂN SƠN
THÁI NGUYÊN - 2017
học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và đặc biệt là gia đình đã
tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên
cứu hoàn thiện đề tài luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái nguyên, tháng 10 năm 2017
Tác giả
Hoàng Thái Lâm
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT ...................................................................v
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................ vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ........................................................................................ vii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Sự cần thiết của đề tài luận văn ...............................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn.................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn .................................................2
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài .................................................................................2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài..................................................................................2
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI .....................................................3
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài ........................................................................................3
1.1.1. Khái niệm, thuật ngữ .........................................................................................3
1.1.2. Vai trò của nông nghiệp đô thị với chiến lược phát triển bền vững của các
đô thị trong tiến trình đô thị hóa hiện nay .................................................................10
3.4.2. Một số giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp đô thị tại thành phố
Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn ..........................................................................................67
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .........................................................................74
1. Kết luận .................................................................................................................74
2. Khuyến nghị ..........................................................................................................75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................77
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
CNH
Công Nghiệp hóa
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
DVNN
Dịch vụ nông nghiệp
ĐTH
Đô thị hóa
KHCN
Khoa học công nghệ
Bảng 3.11: Hộ điều tra phân theo dân tộc và kinh tế hộ ...........................................52
Bảng 3.12a: Số hộ trồng và giá trị sản xuất một số cây trồng ..................................53
Bảng 3.12b: Số hộ trồng và giá trị sản xuất một số cây trồng ..................................54
Bảng 3.12c: Số hộ và giá trị sản xuất một số sản phẩm nông nghiệp đô thị ............55
Bảng 3.13: Thay đổi tỷ trọng thu nhập nông nghiệp đô thị so với năm trước ..........56
Bảng 3.14: Giá trị sản xuất nông nghiệp đô thị so với năm trước (% hộ) ................57
Bảng 3.15: Số hộ gặp khó khăn và mức độ khó khăn ..............................................58
Bảng 3.16: Tham gia tập huấn về nông nghiệp đô thị ..............................................59
Bảng 3.17: Vốn cần thiết cho sản xuất và nhu cầu vay vốn .....................................61
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Công ty TNHH Thương mại và Xuất nhập khẩu Phương Minh ......44
Hình 3.2. Hợp tác xã Sản xuất và Dịch vụ Nà Chuông ....................................50
Hình 3.1. Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đô thị ............................63
Hình 3.2. Ý định mở rộng thêm loại sản phẩm nông nghiệp đô thị (% hộ) .....64
1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài luận văn
Do nhu cầu phát triển đô thị và công nghiệp - dịch vụ, quỹ đất ngày càng thu
hẹp, đòi hỏi ngành nông nghiệp phải thay đổi tư duy trong sản xuất, thực hiện
chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Trong rất nhiều giải pháp thì phát
triển nông nghiệp đô thị được xem như một hướng đi có tính khả thi cao để giải
quyết các bất cập liên quan trong tiến trình đô thị hóa, hướng tới xây dựng đô thị
sinh thái bền vững cho tương lai.
Đô thị hóa (ĐTH) là một quá trình tất yếu khách quan trong quá trình phát
triển kinh tế-xã hội (KT – XH) ở nước ta hiện nay. Đô thị hóa trong điều kiện tiền
khoa học và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn
- Cập nhật và hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về NNĐT, phát triển
NNĐT trong tiến trình công nghiệp hóa và ĐTH.
- Đánh giá vai trò của nông nghiệp đô thị và nhận dạng nông nghiệp đô thị ở
thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp đô thị ở thành phố
Lạng Sơn; những hạn chế, khó khăn, yếu kém trong phát triển nông nghiệp đô thị
tại địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp đô thị tại thành phố Lạng
Sơn trong quá trình đô thị hóa.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài kế thừa, bổ sung, cập nhật và hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn
về NNĐT và phát triển NNĐT ở thế giới và Việt Nam.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài làm rõ được các nhân tố ảnh hưởng đến NNĐT ở thành phố Lạng Sơn,
tỉnh Lạng Sơn. Phân tích thực trạng phát triển NNĐT ở thành phố Lạng Sơn trong
quá trình ĐTH theo giới hạn của đề tài. Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển
NNĐT ở thành phố Lạng Sơn có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường, giải quyết
các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Tác giả mong rằng kết quả nghiên cứu của
luận văn này được chính quyền địa phương thành phố Lạng Sơn và các địa phương có
đặc điểm tương đồng với Lạng Sơn tham khảo, vận dụng vào phát triển bền vững
NNĐT trong điều kiện CNH hiện nay.
3
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
sinh nhai.
- Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên
môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc
trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp.
Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng
hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống
mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục
đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu. Các hoạt động
trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn
thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay
vật nuôi,...
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con
người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm
như lương thực, thực phẩm,... để thỏa mãn các nhu cầu của mình.
Như vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên.
Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt
trời,... trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi. Nông
nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản
xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên; là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ
khoa học - công nghệ gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ở
nước ta thường gắn liền với những phương pháp canh tác, lề thói, tập quán,... đã có
từ hàng nghìn năm nay.
Ở các nước nghèo như nước ta nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng rất
lớn trong GDP và thu hút một bộ phận quan trọng lao động xã hội.
- Nông nghiệp đô thị
Trước hết, có thể thấy rằng: Các đô thị ra đời đã kéo theo sự hình thành loại
hình nông nghiệp mới của nhân loại - nông nghiệp đô thị. Các đô thị ở nhiều quốc
gia trên thế giới đã chú ý đến nông nghiệp đô thị rất sớm và họ cũng đã đạt được
nhiều thành công trong việc phát triển loại hình nông nghiệp mới này.
thái) hiểu theo nghĩa chung nhất là quá trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp từ
nguyên liệu, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm phù hợp với điều kiện đất
6
đai, khí hậu, thủy văn, bảo đảm sự cân bằng sinh thái, tạo ra năng suất, hiệu quả
kinh tế vượt trội, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng môi trường sống trong
lành. Quá trình này được diễn ra ở các vùng xen kẽ hoặc tập trung ở đô thị bao gồm
nội đô, vùng giáp ranh và cả ngoại ô.
Như vậy, khái niệm nông nghiệp đô thị đã được nhiều tổ chức, nhà nghiên
cứu, quy hoạch đề cập đến trên nhiều góc độ khác nhau, chung quy lại có thể hiểu
nông nghiệp đô thị là quá trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp từ nguyên liệu, bảo
quản, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thủy
văn, bảo đảm sự cân bằng sinh thái, tạo hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế, đồng
thời góp phần nâng cao chất lượng môi trường. Quá trình đó được diễn ra ở các
vùng xen kẽ hoặc tập trung ở đô thị bao gồm nội đô, giáp ranh và ngoại ô. Kế thừa
các quan điểm cả trong và ngoài nước trên, tác giả quan niệm về NNĐT như sau:
Nông nghiệp đô thị là những hoạt động sản xuất nông nghiệp cả ở trung tâm, ngoại
ô và khu vực lân cận đô thị; bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và
lâm nghiệp trên cơ sở sử dụng hợp lí các nguồn lực tự nhiên và kinh tế-xã hội để
cung cấp các sản phẩm và dịch vụ nông nghiệp cho cư dân đô thị và phục vụ cả cho
xuất khẩu.
Vận dụng quan niệm về nông nghiệp đô thị trên đây vào điều kiện cụ
thể của Việt Nam, chúng ta có thể hiểu: nông nghiệp đô thị là một ngành sản xuất ở
trung tâm, ngoại ô và vùng lân cận đô thị, có chức năng trồng trọt, chăn nuôi, chế
biến và phân phối các loại thực phẩm, lương thực và các sản phẩm khác, sử dụng
các nguồn lực tự nhiên và nhân văn, các sản phẩm cùng các dịch vụ ở đô thị và
vùng lân cận đô thị để cung cấp trở lại cho đô thị các sản phẩm và dịch vụ cao cấp.
Nông nghiệp đô thị bao gồm nông nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thị với các
hoạt động chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản.
phương đang chuyển đổi kinh tế một cách nhanh chóng và thông thường thiếu hụt
phương tiện tài chính hỗ trợ. Một cách chính thức, việc chọn lựa giữa các mục tiêu
khác nhau như quy hoạch cho nông nghiệp đô thị và ven đô thị, công viên hay
những mục tiêu sử dụng khác phụ thuộc vào sự lựa chọn chính sách tùy theo mối
quan tâm chính trị và những ưu tiên phát triển. Tuy nhiên, việc này vẫn còn phụ
thuộc vào mong muốn cư trú của người nhập cư và những cư dân nghèo đô thị. Vì
vậy, các nhà hoạch định chính sách và quy hoạch đô thị phải có những chính sách
kết hợp đa mục tiêu cho việc quản lý vùng đô thị và ven đô thị. Ví dụ, họ phải chọn
8
lựa giữa việc hạn chế đô thị hóa vùng ngoại ô, phát triển nhà cao tầng trong nội ô,
bảo vệ vành đai xanh của đô thị và việc cho phép phát triển đô thị ra ngoại ô, thu
hẹp vùng nông nghiệp ven đô thị. Mỗi phương án như vậy sẽ có những kết quả môi
trường (đất, nước, cảnh quan,...) và xã hội (an ninh lương thực, an toàn thực phẩm,
công ăn việc làm,...) khác nhau. Hơn nữa, việc lựa chọn như vậy sẽ liên quan đến
các mức chi phí kinh tế khác nhau, nhất là khi chi phí xây dựng hệ thống đường sá,
nước, vận chuyển cho sản xuất nông nghiệp thường bị các nhà quy hoạch bỏ qua
(Nguyễn Ngọc Tuấn, 2003)[14].
Bên cạnh đó, việc phát triển nông nghiệp đô thị là chìa khóa mở ra con
đường phát triển bền vững thực chất cho các đô thị sinh thái trong tương lai,… là
yếu tố chính thúc đẩy mô hình nông nghiệp đô thị phát triển. Từ các thực tế rất thiết
thực đó có thể khẳng định phát triển nông nghiệp đô thị, nhất là nông nghiệp ven đô
có vai trò rất quan trọng trong việc tham gia giải quyết các vấn đề khó khăn của các
đô thị trong quá trình đô thị hóa. Đây là một hướng đi quan trọng cho các đô thị tại
các tỉnh miền núi, biên giới, nơi có điều kiện giao lưu với Trung Quốc như thành
phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn trong nghiên cứu này, cũng như các thành phố khác
của nước ta trong hiện nay và cả trong tương lai.
- Đô thị hóa
Đô thị hóa theo tiếng Anh là Urbanization. Urban là “thành phố” là khái
tầng kĩ thuật đô thị.
Đối với Việt Nam, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện
nay, đô thị hóa là một quá trình tất yếu khách quan. Theo Dương Văn Sơn,
2012[12], trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta hiện nay, đô thị hóa
là một quá trình tất yếu khách quan và phát triển nông nghiệp đô thị được xem như
một hướng đi tối ưu có tính khả thi cao để giải quyết các bất cập liên quan trong tiến
trình đô thị hoá, hướng tới xây dựng các đô thị sinh thái bền vững cho tương lai.
Đối với nước ta, đô thị hóa trong điều kiện tiền công nghiệp hóa ít gắn với
các yếu tố nội tại làm động lực cho kinh tế đô thị đã làm trầm trọng thêm các khó
khăn lớn của các đô thị như: Một bộ phận lao động trong nông nghiệp mất đất sản
xuất, thiếu công ăn việc làm; một bộ phận dân cư từ nông thôn chuyển về đô thị để
làm việc làm gia tăng nhu cầu về lương thực, thực phẩm, vấn đề vệ sinh môi trường
đô thị bị ảnh hưởng nghiêm trọng; sự ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước,…
Đây là các yếu tố đe dọa sự phát triển nhanh và bền vững của các đô thị hiện nay.
10
Trong rất nhiều các giải pháp thì phát triển nông nghiệp đô thị được xem như một
hướng đi tối ưu có tính khả thi cao để giải quyết các bất cập liên quan trong tiến
trình đô thị hoá, hướng tới xây dựng các đô thị sinh thái bền vững cho tương lai.
Tóm lại: Trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của nước ta hiện nay, đô
thị hóa là một quá trình tất yếu khách quan. Trong rất nhiều các giải pháp để giảm
bớt các bất cập trong quá trình đô thị hóa này ở nước ta thì phát triển nông nghiệp
đô thị, bao gồm cả nông nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thị, được xem như một
hướng đi tối ưu có tính khả thi cao để giải quyết các bất cập liên quan trong tiến
trình đô thị hoá, hướng tới xây dựng các đô thị sinh thái bền vững cho tương lai.
1.1.2. Vai trò của nông nghiệp đô thị với chiến lược phát triển bền vững của các
đô thị trong tiến trình đô thị hóa hiện nay
Bên cạnh những thành tựu về kinh tế-xã hội đáng ghi nhận của quá trình đô
thị hóa đã làm thay đổi diện mạo của khu vực đô thị, góp phần nâng cao mức sống
soát. Bản thân nguồn cung lương thực thực phẩm chất lượng cao với giá đắt đỏ chỉ
hướng đến các hộ thu nhập cao vì vậy nguy cơ thiếu hụt nguồn lương thực cơ bản
đáp ứng cho các hộ khó khăn ngày càng trở nên hiện hữu. Vì vậy phát triển nông
nghiệp đô thị là cứu cánh duy nhất cho vấn đề này. Người dân nông thôn có thể tự
sản xuất được các nhu cầu lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu trong ngày
còn người dân nghèo đô thị thì không thể mua được lương thực thực phẩm nếu
không có tiền. Do vậy nguy cơ thiếu lương thực, dinh dưỡng ở người dân thành thị
lớn hơn so với nông thôn, nhất là trong điều kiện giá cả các mặt hàng thiết yếu gia
tăng mạnh như hiện nay. Trong điều kiện hiện nay, khái niệm nghèo đói không chỉ
dành riêng cho khu vực vùng núi, vùng sâu vùng xa mà hiện hữu ngay tại các vùng
ven đô thị, và đây là vấn đề chung, khách quan trong tiến trình đô thị hóa. Để đảm
bảo phát triển bền vững, giảm khoảng cách quá xa trong nhu cầu dinh dưỡng thiết
yếu của người dân đô thị, phát triển nông nghiệp đô thị thực sự là một giải pháp
quan trọng hiện nay. Nếu tổ chức tốt việc sản xuất được quy hoạch hợp lý, nông
nghiệp đô thị có thể tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm tươi sống và an toàn, tại chỗ
góp phần to lớn vào việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cư dân đô thị.
- Nông nghiệp đô thị tạo việc làm và thu nhập cho một bộ phận dân cư ở đô thị
Trong tiến trình đô thị hóa, vì các mục tiêu chung của các đô thị mà vấn đề
thu hẹp diện tích đất nông nghiệp của nông dân ven đô diễn ra phổ biến. Người dân
12
mất tư liệu sản xuất, buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp trong điều kiện không có
trình độ, vốn hạn chế, kinh nghiệm thích ứng với lối sống và tác phong công nghiệp
rất thấp vì vậy vấn đề việc làm cho người lao động, nhất là những gia đình ven đô
càng trở nên cấp thiết. Những người đàn ông có thể làm các nghề tạm để kiếm sống
nhưng trong gia đình phụ nữ, người già và trẻ em sẽ làm được gì? Bên cạnh đó, làn
sóng di chuyển dân cư từ nông thôn về thành thị để tìm kiếm việc làm cũng gia tăng
nhanh chóng. Trong vấn đề này với nông nghiệp đô thị, nếu được quan tâm và có
quy hoạch, có chiến lược phù hợp để tận dụng quỹ đất đô thị và sức lao động dôi dư
đai kém phì nhiêu, bị nhiễm bẩn do các hóa chất công nghiệp, do bị ảnh hưởng bởi
hoạt động xây dựng,… Một trong những nhiệm vụ quan trọng của nông nghiệp đô
thị là tái tạo chất dinh dưỡng cho đất thông qua tái sử dụng các chất thải hữu cơ từ
các hoạt động của đô thị. Điều này vừa góp phần giảm ô nhiễm môi trường cho các
đô thị vừa giảm các hóa chất khi đưa phân bón hóa học vào đất dễ gây ô nhiễm
thêm lại vừa giảm được chi phí mua phân bón. Nông nghiệp đô thị được sản xuất tại
chỗ ven các đô thị nên sau thu hoạch, chi phí đóng gói, vận chuyển và bảo quản
bằng kho lạnh được bỏ qua nên góp phần giảm giá thành đến mức tối đa. Chất
lượng các sản phẩm được đảm bảo an toàn đồng thời góp phần giảm lượng xe cộ
trọng tải lớn vào ra các đô thị, giảm tai nạn và ô nhiễm đáng kể cho khu vực đô thị.
- Nông nghiệp đô thị góp phần tạo cảnh quan đô thị và cải thiện sức
khỏe cộng đồng
Phát triển “đô thị sinh thái” hay “đô thị xanh” là những cụm từ đang trở nên
phổ biến tại các diễn đàn về phát triển đô thị hiện nay. Mục tiêu hướng tới là quy
hoạch và xây dựng các đô thị có môi trường và cảnh quan thân thiện với thiên
nhiên, đảm bảo các tiêu chuẩn tốt cho sức khỏe cộng đồng. Đối với mục tiêu này
trong tiến trình đô thị hóa và phát triển của các đô thị, phát triển nông nghiệp đô hị
thực sự là một giải pháp hiệu quả nhất. Ngoài các ý nghĩa như trên, nông nghiệp đô
thị sẽ tạo ra hệ thống cảnh quan, các vành đai xanh rất ý nghĩa cho các đô thị (cây
xanh, công viên, mảng xanh trên các ban công, hay các vành đai xanh bao quanh
ven đô,… là những hình thức và sản phẩm của nông nghiệp đô thị). Sản xuất nông
nghiệp đô thị môt mặt vừa đảm bảo các nhu cầu về dinh dưỡng, mặt khác nó cũng
chính là một hình thức lao động, giải trí góp phần nâng cao thể lực, trí lực cho cư
dân đô thị.
14
Như vậy, đô thị hóa là một quá trình tất yếu, không thể không xẩy ra, dù
muốn hay không muốn tương lai của thế giới vẫn nằm ở các thành phố. Đó là những
nội dung cơ bản trong kết luận của hội nghị thượng đỉnh thế giới về đô thị do Liên
15
thủ đô Lahabana đã tự túc được đến 90% loại thực phẩm này. Năm 2008 có hơn 20
vạn thị dân Cu Ba làm việc trong ngành nông nghiệp đô thị sử dụng 140 km2 đất đô
thị. Chương trình nông nghiệp đô thị của Cu Ba là một thành công ấn tượng. Các
nông trại, trong đó nhiều nông trại nhỏ hiện là nguồn cung cấp phần lớn lượng rau
cho Cu Ba. Các nông trại này cũng cung cấp khoảng 300.000 việc làm trên toàn Cu
Ba với lương khá cao và làm thay đổi thói quen ăn uống ở một quốc gia vốn quen
với chế độ ăn có gạo và đậu cùng các sản phẩm đóng hộp từ Đông Âu. Theo tổ chức
FAO, ngày nay, người Cuba nạp vào cơ thể khoảng 3.547 calo/ngày - hơn cả lượng
calo mà chính phủ Mỹ khuyến cáo công dân Mỹ. Catherine Murphy, một nhà xã hội
học đã có hàng chục năm nghiên cứu về các nông trại ở Lahabana nhận xét: “Đây là
một mô hình thú vị nếu xét rằng Cu Ba là quốc gia có gần 80% dân số sống ở đô
thị. Điều này chứng tỏ các thành phố có thể tự sản xuất lương thực mà vẫn đảm bảo
các lợi ích xã hội và môi trường” (trích theo Trần Quốc Việt, 2013)[15].
- Ai Cập
Cũng theo tác giả Trần Quốc Việt, 2013[15], tại Cai Rô (Ai Cập) đầu thập kỷ
1990, một nhóm giáo sư nông nghiệp Trường Đại học Ain Shams phát triển phương
pháp trồng rau trên sân thượng tại khu vực đô thị đông dân, mới đầu với quy mô
nhỏ nhưng rồi được mở rộng nhanh sau khi có hậu thuẫn chính thức của Tổ chức
Lương Nông Liên Hợp Quốc (FAO) vào năm 2001 (trích theo Trần Quốc Việt,
2013)[15].
- Ấn Độ
Thành phố Mumbai (Ấn Độ) là một trong các thành phố có mật độ dân cao
nhất thế giới, với con số 48.215 người/km2. Trong bối cảnh thiếu đất, hiếm nước, rất
đông người nghèo, tác giả Doshi đưa ra phương pháp làm vườn hữu cơ quy mô nhỏ
trên ban công, thậm chí treo trên tường, trên cơ sở dùng bã mía trộn đất đựng trong
túi nhựa hay trong các loại hộp, ống, lốp xe, để hộ dân có rau ăn tại gia và tăng thu
nhập. Theo cách thức của ông, hộ gia đình có thể tự túc được 5 kg rau quả mỗi ngày
trong 300 ngày của năm (trích theo Trần Quốc Việt, 2013)[15]. Đây được đánh giá
là sáng kiến tốt trong phát triển nông nghiệp đô thị tại một thành phố đất trật, người
trọng trong việc cung cấp nguồn lương thực sạch cho những người dân ở thủ đô Bắc
Kinh. Trong năm 2010, tỷ lệ rau cung cấp cho thành phố Bắc Kinh là 55% và
Thượng Hải là 50%. Do khoảng cách vận chuyển ngắn cũng làm giảm chi phí sản
xuất lương thực. Giá rau được vận chuyển đến Bắc Kinh từ khu vực phía Nam