BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC VIỆT NAM
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
MAI BÌNH DƢƠNG
TÁC ĐỘNG CỦA VỐN CHỦ SỞ HỮU, RỦI RO TÍN
DỤNG ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH CỦA NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
1
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG.
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống NHTM đóng vai trò rất quan trọng đối với mỗi nền kinh tế, góp
phần thu hút vốn và cung ứng các khoản tín dụng. Hoạt động kinh doanh của
NHTM phải luôn đảm bảo tính ổn định, an toàn và sinh lợi. Cùng với thị trƣờng
vốn thông qua thị trƣờng chứng khoán, thị trƣờng tiền tệ thông qua các ngân hàng
là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế. Với hoạt động đứng ra huy động các nguồn
vốn tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế (vốn tạm
thời nhàn rỗi đƣợc giải phóng từ quá trình sản xuất, từ nguồn tiết kiệm của dân
cƣ…) thông qua nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng thƣơng mại đã cung cấp vốn cho
nền kinh tế, đáp ứng đầy đủ kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Chính nhờ hoạt
động của các ngân hàng thƣơng mại, đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh
động kinh doanh của các NHTM, tạo nên sự bất ổn định.
Một số nghiên cứu của Furlong và Keeley (1989), Keeley (1990), Van và
Roy (2003), Jacob Oduor và cộng sự (2017) cho thấy rằng vốn chủ sở hữu giúp
giảm thiểu rủi ro và gia tăng sự ổn định tài chính của các ngân hàng. Mặt khác, các
nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy rủi ro tín dụng mà các ngân hàng gặp phải
với các khoản vay đã dẫn đến tình trạng mất thanh khoản của ngân hàng và đẩy
ngân hàng đến tình trạng phá sản. Kết quả này cũng đƣợc ủng hộ bởi nghiên cứu
gần đây của Björn Imbierowicz và Christian Rauch (2013).
Tại Việt Nam, kể từ sau khủng hoảng 2008 - 2009, các ngân hàng Việt
Nam đang dần hồi phục nhờ những nỗ lực tích cực trong xử lý nợ xấu của từng
ngân hàng nói riêng và Chính phủ nói chung. Nhìn lại những bất ổn của các ngân
hàng Việt Nam trong thời gian qua có thể thấy vốn chủ sở hữu và rủi ro tín dụng
đóng một vai trò quan trọng. Do đó, có thể nói trong bối cảnh Việt Nam hiện nay
việc xem xét tác động của vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng đến sự ổn định tài chính
của các ngân hàng là cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng vừa qua. Bởi
vì, việc xác định mức độ và chiều hƣớng tác động của vốn chủ sở hữu, rủi ro tín
dụng đến sự ổn định tài chính của các ngân hàng sẽ giúp cho việc xây dựng các
chính sách quản trị ngân hàng phù hợp và bền vững.
3
Xuất phát từ lý do trên, đề tài “Tác động của vốn chủ sở hữu, rủi ro tín
dụng đến sự ổn định tài chính của ngân hàng thƣơng mại Việt Nam” là cần
thiết.
1.2. Khe hở nghiên cứu
Một số nghiên cứu đã đƣa ra bằng chứng về tác động của vốn chủ sở hữu
đến sự ổn định tài chính của ngân hang thƣơng mại. Điển hình nhƣ, Aggrawal và
Jacques (2001) thực hiện nghiên cứu với mẫu các ngân hàng Mỹ đã cho thấy việc
gia tăng vốn chủ sở hữu sẽ giúp các ngân hàng này ổn định hơn. Tƣơng tự nghiên
quan tâm tới vấn đề tác động của cả vốn chủ sở hữu và rủi ro tín dụng đến sự ổn
định tài chính của các NHTM. Tuy nhiên các nghiên cứu đi theo hai hƣớng khác
nhau: hƣớng thứ nhất nghiên cứu về tác động của vốn chủ sở hữu đến sự ổn định
tài chính của các NHTM nhƣ: của Jacob Oduor và cộng sự (2017), Aggrawal và
Jacques (2001); Rime (2001); Godlewski (2004); Hakenes và Schnabel (2010);
Abba và cộng sự (2013); Vũ Thị Hồng (2015); Lê Thanh Ngọc và cộng sự
(2015)...hƣớng thứ hai nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến sự ổn định tài
chính của các NHTM Björn Imbierowicz và Christian Rauch (2013); Beck & ctg
(2009); Consuelo Silva Buston (2012). Các nghiên cứu thực nghiệm trong nƣớc
nhằm đo lƣờng mức độ tác động của cả vốn chủ sở hữu và rủi ro tín dụng đến sự
ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam còn rất hạn chế.
Thứ hai, các lý thuyết nghiên cứu về tác động của vốn chủ sở hữu tới đến
sự ổn định tài chính của ngân hàng cho thấy nhiều mâu thuẫn. Hƣớng thứ nhất, lý
thuyết chỉ ra gia tăng vốn chủ sở hữu sẽ làm giảm lợi nhuận từ đó giảm sự ổn định
tài chính của ngân hàng. Quan điểm này bắt nguồn từ các tranh luận xung quanh
lý thuyết về cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (1958). Modigliani và Miller
(1958) cho rằng cấu trúc vốn không có ảnh hƣởng đến giá trị của doanh nghiệp.
Hƣớng thứ hai, vốn chủ sở hữu cao hơn sẽ giúp các ngân hàng có những lựa chọn
tốt hơn trong hoạt động kinh doanh đồng thời kiểm soát tốt hơn hoạt động tín dụng
từ đó gia tăng sự ổn định tài chính của ngân hàng (Jensen và Meckling, 1976). Các
lý thuyết này cho thấy, các chiều hƣớng tác động của vốn chủ sở hữu đến sự ổn
định tài chính của ngân hàng theo từng giai đoạn thời gian, và có khả năng tồn tại
tác động của tỷ lệ vốn chủ sở hữu đến sự ổn định tài chính của các NHTM Việt
5
Nam là tác động phi tuyến và có hình chữ U ngƣợc. Điều này ngụ ý rằng việc gia
tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu có thể giúp làm gia tăng sự ổn định tài chính của các
NHTM Việt Nam nhƣng chỉ đến một mức tỷ lệ nhất định nào đó. Nếu tỷ lệ vốn
1.3. Mục tiêu nghiên cứu.
Nghiên cứu có mục tiêu tổng quát là đánh giá tác động của vốn chủ sở hữu,
rủi ro tín dụng đến sự ổn định tài chính của ngân hàng thƣơng mại Việt Nam, trên
cơ sở kết quả nghiên cứu nhằm đề xuất các giải pháp, kiến nghị giúp gia tăng sự
ổn định tài chính của NHTM Việt Nam. Ngoài ra, với kỳ vọng lấp đầy khe hở
nghiên cứu tại Việt Nam, nghiên cứu còn tiến hành: (i) kiểm tra có hay không sự
tồn tại tác động phi tuyến của vốn chủ sở hữu đối với sự ổn định tài chính của
NHTM Việt Nam và nếu có, tìm ra ngƣỡng vốn chủ sở hữu tối ƣu mà tại đó mức
độ ổn định tài chính của NHTM Việt Nam là cao nhất và (ii) so sánh sự thay đổi
của tác động của tỷ lệ vốn chủ sở hữu và rủi ro tín dụng đến sự ổn định tài chính
của NHTM Việt Nam trong và sau thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra
vào giai đoạn 2008 – 2009.
Để đạt đƣợc mục tiêu tổng quát, luận án tập trung giải quyết các mục tiêu
cụ thể sau:
-
Đo lƣờng mức độ ổn định tài chính của ngân hàng thƣơng mại Việt
Nam giai đoạn 2008- 2016;
-
Nghiên cứu các chiều hƣớng tác động của vốn chủ sở hữu, rủi ro tín
dụng đến sự ổn định tài chính của ngân hàng thƣơng mại Việt Nam;
-
Đo lƣờng và đánh giá mức độ tác động của vốn chủ sở hữu, rủi ro tín
dụng đến sự ổn định tài chính của ngân hàng thƣơng mại Việt Nam;
-
Các chiều hƣớng tác động của vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng đến sự ổn
định tài chính NHTM Việt Nam ra sao?
-
Mức độ tác động của vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng đến sự ổn định tài
chính của NHTM Việt Nam là bao nhiêu?
-
Có hay không sự tồn tại tác động phi tuyến của vốn chủ sở hữu đối với
sự ổn định tài chính của NHTM Việt Nam? và nếu có, ngƣỡng vốn chủ sở hữu tối
ƣu cụ thể là bao nhiêu mà tại đó mức độ ổn định tài chính của NHTM Việt Nam là
cao nhất?
-
Tác động của tỷ lệ vốn chủ sở hữu và rủi ro tín dụng đến sự ổn định tài
chính của NHTM Việt Nam trong và sau thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu
diễn ra vào giai đoạn 2008 – 2009 khác nhau nhƣ thế nào?
-
Nhằm gia tăng sự ổn định tài chính, các ngân hàng thƣơng mại Việt
Nam cần thực hiện những giải pháp, kiến nghị nào?
1.5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: tác động của vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng đối
với ổn định tài chính của ngân hàng thƣơng mại Việt Nam.
NHTM Việt Nam.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phƣơng pháp định lƣợng dựa trên các nghiên cứu của
Björn Imbierowicz và Christian Rauch (2013), Jacob Oduor và cộng sự (2017)
nhằm xây dựng mô hình thể hiện tác động của vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng đến
sự ổn định tài chính của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam bằng phần mềm
Stata với dữ liệu Panel Data. Mô hình nghiên cứu có dạng nhƣ sau:
(1)
Trong đó:
là chỉ số ổn định tài chính của ngân hàng i tại thời gian t.
Xit là biến độc lập đại diện cho vốn chủ sở hữu và rủi ro tín dụng của ngân hàng.
là vector các biến kiểm soát ảnh hƣởng đến sự ổn định tài chính của ngân
9
hàng, bao gồm cả biến vĩ mô lẫn vi mô của mỗi ngân hàng. Di,t là biến giả đại diện
cho các giai đoạn khủng hoảng.
Mô hình nghiên cứu đƣơc tác giả đề xuất trên cơ sở các nghiên cứu đã thực
hiện tại các quốc gia trên thế giới. Tác giả sử dụng các hồi quy phổ biến là:
Phƣơng pháp ƣớc lƣợng dành cho dữ liệu bảng nhƣ tác động cố định (Fixed
Effects), tác động ngẫu nhiên (Random Effects), Kiểm định Hausman là một trong
những phƣơng pháp để lựa chọn giữa random effects hay fixed effects; Nếu mô
hình đƣợc chọn có xảy ra hiện tƣợng tự tƣơng quan hay phƣơng sai thay đổi qua
các thực thể, tác giả sử dụng phƣơng pháp ƣớc lƣợng bình phƣơng tối thiểu tổng
quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS) để khắc phục hiện tƣợng
này. Mô hình đo tác động của vốn chủ sở hữu lên rủi ro mất khả năng thanh khoản
tại Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam bằng phần mềm Stata với dữ liệu bảng (Panel
phù hợp. Khi chấp nhận giả thuyết H0 nghĩa là các biến công cụ đƣợc sử dụng
trong mô hình là phù hợp.
1.7. Đóng góp khoa học của đề tài nghiên cứu
Về mặt lý luận
Nghiên cứu hệ thống cơ sở phƣơng pháp luận về vốn chủ sở hữu và rủi ro
tín dụng và sự ổn định tài chính của ngân hàng đồng thời phân tích tác động của
vốn chủ sở hữu và rủi ro tín dụng đến sự ổn định tài chính của ngân hàng gắn với
bối cảnh khủng hoảng tài chính thế giới và ảnh hƣởng của nó đến các ngân hàng
trong nƣớc.
Về mặt phƣơng pháp
Thứ nhất, tác giả đã đánh giá ảnh hƣởng của vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng
đến sự ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam bằng phƣơng pháp nghiên cứu
định lƣợng cùng với sự hỗ trợ của phần mềm Stata 12.0. Sử dụng dữ liệu bảng với
các phƣơng pháp tác động ngẫu nhiên (Random Effects) và tác động cố định
(Fixed Effects). Kiểm định Hausman để lựa chọn giữa Random Effects và Fixed
Effects. Tác giả sử dụng phƣơng pháp ƣớc lƣợng bình phƣơng tối thiểu tổng quát
khả thi (Feasible General Least Square – FGLS) để khắc phục hiện tƣợng tự tƣơng
quan hay phƣơng sai thay đổi qua các thực thể nếu có. Bên cạnh đó việc ƣớc
11
lƣợng bằng phƣơng pháp GMM hệ thống (System General Method of Moments)
cũng đƣợc sử dụng nhằm đảm bảo các kết quả thu đƣợc đáng tin cậy.
Thứ hai, nghiên cứu cũng mở ra định hƣớng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Nghiên cứu của tác giả sử dụng mô hình định lƣợng tác động của vốn chủ sở hữu,
rủi ro tín dụng đến sự ổn định tài chính tại các NHTM Việt Nam. Các nghiên cứu
tiếp theo có thể tiếp tục mở rộng nghiên cứu này theo hai hƣớng bằng cách mở
rộng chiều rộng hoặc chiều sâu của nghiên cứu. Về mặt chiều chiều sâu, nghiên
cứu tiếp theo có thể gia tăng kích thƣớc mẫu tại các quốc gia và vùng khu vực
ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam do hiệu quả hoạt động kinh doanh
giảm sút. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản tại điểm đảo chiều sự ổn định tài
chính của các NHTM Việt Nam chính là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản tối
ƣu, mà tại mức tỷ lệ này sự ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam là cao
nhất.
Thứ ba, nghiên cứu chỉ ra ảnh hƣởng của khủng hoảng tài chính đến sự ổn
định tài chính của ngân hàng, kết quả nghiên cứu ý nghĩa thống kê ở mức 5% và
mang dấu âm, cho thấy rằng trong điều kiện khủng hoảng sẽ làm gia tăng sự bất
ổn định của các NHTM Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra ảnh
hƣởng cụ thể của vốn chủ sở đến sự ổn định tài chính của các NHTM dƣới ảnh
hƣởng của điều kiện khủng hoảng: trong thời kỳ khủng hoảng, sự gia tăng tỷ lệ
vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản sẽ làm gia tăng sự bất ổn định của các NHTM
Việt Nam.
Thứ tư, bên cạnh việc tìm kiếm bằng chứng về tác động của rủi ro tín dụng
đến sự ổn định tài chính của ngân hàng, nghiên cứu còn xem xét tác động này
trong điều kiện khủng hoảng tài chính vào những năm 2008 và 2009. Kết quả hồi
quy cho thấy, hệ số hồi quy của biến khủng hoảng có ý nghĩa thống kê ở mức 5%
và mang dấu âm cho thấy rằng trong điều kiện khủng hoảng, tác động ngƣợc chiều
của rủi ro tín dụng đến sự ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam trong điều
kiện khủng hoảng và chỉ số Z-score: sự gia tăng tỷ lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ sẽ
làm giảm sự ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam khi các yếu tố khác
không đổi, điều này phù hợp với kết quả của các nghiên cứu trƣớc của các quốc
gia trên thế giới.
13
Cuối cùng, thông qua kết quả ƣớc lƣợng của mô hình hồi quy, tác giả đã đề
xuất những kiến nghị quản trị vốn, quản trị rủi ro tín dụng cho các NHTM Việt
Nam nhằm gia tăng sự ổn định tài chính của các NHTM.
Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
Chƣơng này trình bày quy trình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu; các
mô hình nghiên cứu sử dụng trong luận án; cách thức thu thập và nguồn dữ liệu
cũng nhƣ các phƣơng pháp ƣớc lƣợng phù hợp đối với kiểu dữ liệu, ƣớc tính số
14
lƣợng mẫu cần thu thập và mô hình của luận án nhằm đạt đƣợc kết quả ƣớc lƣợng
tốt nhất.
-
Chương 4: Kết quả nghiên cứu tác động của vốn chủ sở hữu và rủi ro
tín dụng đến sự ổn định tài chính của ngân hàng thương mại Việt Nam.
Chƣơng 4 trình bày về mô tả thống kê các biến phụ thuộc và các biến độc
lập của các mô hình nghiên cứu và chi tiết kết quả ƣớc lƣợng đối với từng mô
hình. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của vốn chủ sở hữu, rủi ro tín
dụng đến sự ổn định tài chính của NHTM Việt Nam lần lƣợt đƣợc trình bày. Kết
quả này cũng đƣợc tiến hành kiểm tra tính vững của ƣớc lƣợng nhằm khẳng định
các ƣớc lƣợng của luận án là vững và đáng tin cậy. Kết quả và sự nhất quán khi
kiểm định tính vững của ƣớc lƣợng là cơ sở để thực hiện chƣơng tiếp theo, liên
quan đến các hàm ý chính sách đối với hệ thống NHTM cũng nhƣ quản lý của
NHNN nhằm nâng cao tính ổn định tài chính của NHTM Việt Nam.
-
Chương 5: Kết luận và giải pháp tăng cường sự ổn định tài chính của
NHTM Việt Nam
Vốn chủ sở hữu của NHTM là nguồn vốn riêng của Ngân hàng do chủ sở
hữu đóng góp ban đầu và đƣợc bổ sung trong quá trình kinh doanh (Trần Huy
Hoàng, 2011).
Đối với các NHTM, về cơ bản, theo nghĩa hẹp, vốn chủ sở hữu là khoản
tiền mà các cổ đông, các chủ sở hữu đóng góp (vốn thực góp) để đƣợc hƣởng các
thu nhập của ngân hàng trong tƣơng lai. Theo nghĩa rộng, vốn chủ sở hữu ngân
hàng đƣợc nhìn nhận nhƣ các khoản nguồn vốn của chủ ngân hàng dành cho việc
16
hỗ trợ các hoạt động ngân hàng. Định nghĩa nhƣ vậy bao gồm các quỹ dự trữ của
ngân hàng và đƣợc gọi là nguồn vốn của các cổ đông. Trải qua quá trình hoạt
động, vốn chủ sở hữu có thể tích tụ tăng lên hoặc giảm xuống. Tuy nhiên đối với
các nhà quản lý Nhà nƣớc, vấn đề về tính đầy đủ của vốn ngân hàng là trọng yếu,
đặc biệt sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến một trong
những giải pháp mà chính phủ một số nƣớc hay sử dụng để cứu vãn các ngân hàng
là cứu trợ và quốc hữu hóa, sử dụng nguồn vốn của chính phủ để cứu vãn sự sụp
đổ của các ngân hàng.
2.1.2. Thành phần vốn chủ sở hữu của ngân hàng thƣơng mại
Năm 1987, Uỷ ban giám sát ngân hàng Basel (Basel Committee on
Banking Supervision - BCBS) đã soạn thảo những đề xuất cho tiêu chuẩn mới về
vốn, áp dụng cho các ngân hàng, tổ chức tài chính nhằm khuyến khích các ngân
hàng lớn củng cố trạng thái vốn, hạn chế sự không bình đẳng trong quy định giữa
các quốc gia khác nhau và xem xét những rủi ro đối với hoạt động ngoài bảng cân
đối kế toán mà các ngân hàng thực hiện trong thời gian gần đó. Năm 1988, đề xuất
này chính thức đƣợc thông qua dƣới cái tên Hiệp ƣớc Basel 1988. Hiện nay đƣợc
biết đến nhƣ là Basel I, nhằm phân biệt với bản sửa đổi bổ sung Basel II năm
1999. Hiệp ƣớc này đƣợc cƣỡng chế thi hành theo luật quốc gia của các nƣớc G10
từ năm 1992 và đến nay, hơn 100 nƣớc trên thế giới cũng đã áp dụng những
lƣỡng tính (Hybrid instruments), các khoản nợ dài hạn không đƣợc hoàn trả trong
một khoảng thời gian nhất định (thƣờng là dài) và có thứ tự ƣu tiên thanh toán sau
những ngƣời gửi tiền (Subordinated term debt), các khoản dự trữ không đƣợc tiết
lộ (Undisclosed reserves): những khoản này tuy không phổ biến, nhƣng vẫn đƣợc
chấp nhận bởi một số nhà quản lý khi một ngân hàng kinh doanh có lãi nhƣng điều
này không đƣợc thể hiện rõ trong các khoản lợi nhuận giữ lại hoặc các quỹ dự trữ
thông thƣờng. Những khoản này ở các nƣớc không thống nhất với nhau phụ thuộc
vào quy định của mỗi quốc gia. Khi tính toán, phải loại từ vốn cơ sở và bổ sung
một số khoản nhƣ: lợi thế thƣơng mại (chênh lệch giá mua lớn hơn so với giá trị
ghi sổ của tài sản khi ngân hàng mua tài sản tài chính), vốn góp vào các công ty
con, tổ chức tín dụng khác, một phần của quỹ đánh giá lại tài sản, …
2.2. Lý luận về rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại
2.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài
sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm
một khoản chi phí để có thể hoàn thành đƣợc một nghiệp vụ tài chính nhất định.
Boyd, J. H., và cs (1988) cho rằng, rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng
vay hoặc đối tác của ngân hàng không thực hiện đƣợc nghĩa vụ trả nợ theo các
điều khoản đã thỏa thuận trƣớc trong hợp đồng với ngân hàng. Từ đó, dòng tiền
18
của một số tài sản trong danh mục của ngân hàng sẽ không đƣợc thanh toán đầy
đủ.
Rủi ro tín dụng là rủi ro mà đối tác hoặc ngƣời giao ƣớc sẽ không thực hiện
đƣợc hợp đồng pháp lý. Nó tập trung vào rủi ro mà dòng tiền của tài sản sẽ không
đƣợc trả đủ, theo điều khoản hợp đồng (Blaschke và cộng sự, 2001)
Theo Uỷ ban Basel (2009) thì: “rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng
vay hoặc bên đối tác không thực hiện đƣợc các nghĩa vụ của mình theo những điều
bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và
hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật
xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát
sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, đƣợc
phân chia thành 02 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng, mang tính
riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất
phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
+ Rủi ro tập trung: là trƣờng hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá
nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong
cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc
cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
2.2.3. Đo lƣờng rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại
Đo lƣờng rủi ro trong hoạt động tín dụng là việc tính toán ra con số cụ thể
về mức độ rủi ro mà ngân hàng đang đối mặt và những tổn thất mà nó gây ra. Có
rất nhiều phƣơng pháp để đo lƣờng rủi ro tín dụng, một số phƣơng pháp tiêu biểu
gồm:
Phương pháp đo lường rủi ro tín dụng dựa trên mức dự phòng (Bangladesh
Bank, 2010). Phƣơng pháp này đƣợc thực hiện thông qua đánh giá ảnh hƣởng của
sự gia tăng nợ xấu (NPL) của ngân hàng/tổ chức tài chính và từ đó làm gia tăng
các khoản dự phòng tƣơng ứng.
20
Tăng tỷ lệ nợ xấu theo một tỷ lệ giả định (%) và theo đó là tăng trích lập dự
phòng rủi ro tƣơng ứng. Phần nợ xấu tăng thêm này đƣợc giả định sẽ chuyển thẳng
sang nhóm nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5), phải trích lập dự phòng 100%.
khả năng không trả đƣợc nợ cho ngân hàng nhƣ số dƣ tiền gửi, hạn mức thấu chi.
Từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó
tính đƣợc xác suất không trả đƣợc nợ của khách hàng. Đó có thể là mô hình tuyến
tính, mô hình probit và thƣờng đƣợc xây dựng bởi các tổ chức tƣ vấn chuyên
nghiệp.
Thứ hai, EAD là tổng dƣ nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng
không trả đƣợc nợ. Đối với khoản vay có kỳ hạn, EAD đƣợc xác định không quá
khó khăn. Tuy nhiên, đối với khoản vay theo hạn mức tín dụng, tín dụng tuần hoàn
thì vấn đề lại khá phức tạp. Theo thống kê của ủy ban Basel, tại thời điểm không
trả đƣợc nợ, khách hàng thƣờng có xu hƣớng rút vốn vay tới mức gần xấp xỉ hạn
mức đƣợc cấp. Do đó, ủy ban Basel II yêu cầu tính EAD nhƣ sau:
EAD = Dƣ nợ bình quân + LEQ x Hạn mức tín dụng chƣa sử dụng bình
quân. Trong đó, LEQ - Loan Equivalent Exposure là tỷ trọng phần vốn chƣa sử
dụng có nhiều khả năng sẽ đƣợc khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả đƣợc
nợ. “LEQ x Hạn mức tín dụng chƣa sử dụng bình quân” chính là phần dƣ nợ
khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả đƣợc nợ ngoài mức dƣ nợ bình quân.
Việc xác định LEQ - tỷ trọng phần vốn rút thêm có ý nghĩa quyết định đối
với độ chính xác của ƣớc lƣợng về dƣ nợ của khách hàng tại thời điểm không trả
đƣợc nợ. Cơ sở xác định LEQ là các số liệu quá khứ. Điều này dẫn đến những khó
khăn lớn trong tính toán. Chẳng hạn, khách hàng uy tín, trả nợ đầy đủ thƣờng hiếm
khi rơi vào tình trạng này. Do đó, không thể tính chính xác đƣợc LEQ của một
khách hàng tốt. Ngoài ra, một số vấn đề dẫn đến sự phức tạp của LEQ có thể còn
gồm: loại hình kinh doanh của khách hàng, khả năng khách hàng tiếp cận với thị
trƣờng tài chính, quy mô hạn mức tín dụng, tỷ lệ dƣ nợ đang sử dụng so với hạn
mức,...
Thứ ba, LGD là tỷ trọng tổn thất ƣớc tính - đây là tỷ trọng phần vốn bị tổn
thất trên tổng dƣ nợ tại thời điểm khách hàng không trả đƣợc nợ. LGD không chỉ
bao gồm tổn thất về khoản vay mà còn bao gồm các tổn thất khác phát sinh khi
23
Hai là, Workout LGD - tỷ trọng tổn thất căn cứ vào việc xử lý các khoản tín
dụng không trả đƣợc nợ. Ngân hàng sẽ ƣớc tính các dòng tiền trong tƣơng lai,
khoảng thời gian dự kiến thu hồi đƣợc dòng tiền và chiết khấu các dòng tiền này.
Việc xác định lãi suất chiết khấu phù hợp là vấn đề mấu chốt và nan giải nhất.
Ba là, Implied Market LGD - xác định tỷ trọng tổn thất căn cứ vào giá các
trái phiếu rủi ro trên thị trƣờng.
Nhƣ vậy, thông qua các biến số LGD, PD và EAD, ngân hàng sẽ xác định
đƣợc EL - tổn thất ƣớc tính của các khoản cho vay.
Do khó khăn trong việc thu thập dữ liệu nên rủi ro tín dụng trong nghiên
cứu này đƣợc tác giả tính toán theo phƣơng pháp đo lƣờng rủi ro tín dụng dựa trên
mức dự phòng. Nhƣ vậy, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ sẽ đƣợc tác giả sử dụng để
đại diện cho rủi ro tín dụng.
2.2.4 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi
ro tín dụng. Hiểu theo tiêu thức chủ thể gây ra rủi ro, rủi ro tín dụng xảy ra do
nguyên nhân đến từ khách hàng, nguyên nhân đến từ môi trƣờng kinh tế vĩ mô và
các nguyên nhân đến từ NHTM. Trong phạm vi giới hạn về nghiên cứu, luận án
tiếp cận nguyên nhân rủi ro tín dụng theo sự thất bại của thị trƣờng mà nguyên
nhân bắt đầu từ hiện tƣợng thông tin bất cân xứng, rủi ro đạo đức nảy sinh cho
thấy thất bại từ thị trƣờng từ chính hoạt động kinh doanh của ngân hàng và từ
khách hàng sử dụng vốn của các ngân hàng thƣơng mại (NHTM). Hậu quả của
thông tin bất cân xứng do hai chủ thể này gây nên lại do ngƣời gửi tiền vào ngân
hàng và chính ngân hàng đó gánh chịu.
2.2.4.1 Lý thuyết Thông tin bất cân xứng
Theo Mankiw (2003), thông tin bất cân xứng là hiện tƣợng phổ biến trong
thị trƣờng. Ngƣời bán thƣờng biết nhiều hơn về chất lƣợng của sản phẩm so với
hiện trong bối cảnh việc quản trị kinh doanh gắn liền với những nghiên cứu về
hành vi của ngƣời chủ và ngƣời làm thuê thông qua các hợp đồng. Những nghiên
cứu đầu tiên tập trung vào những vấn đề về thông tin không hoàn hảo trong những
hợp đồng của ngành bảo hiểm (Spence và Zeckhauser, 1971; Ross, 1973), và