Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phục vụ của bộ phận lễ tân tại khách sạn thái bình dương - Pdf 48

Chuyên Đề Thực Tập

GVHD: Th.S Võ Thị Quỳnh Nga

33

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài
Trải qua hàng thế kỷ con người đã từng bước đạt được những thành tựu đáng kể
trên mọi lĩnh vực. Trong đó không thể không nhắc đến những bước nhảy ngoạn mục
của lĩnh vực khoa học công nghệ, kéo theo sự tăng trưởng vượt bậc của kinh tế trên
toàn thế giới. Trong bối cảnh đó nhu cầu và mong muốn của con người ngày càng gia
tăng , đặc biệt là nhu cầu đi du lịch đã trở nên phổ biến đối với Việt Nam nói riêng và
các nước khác trên thế giới nói chung.
Bên cạnh đó Việt Nam được xem là điểm đến hấp dẫn đối với nhiều quốc gia
bởi nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng cùng với nền văn hóa lâu đời
được thế giới công nhân trong đó có thể kể đến: Vịnh Hạ Long, quần thể di tích Cố đô
Huế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn…Đã thu hút được nhiều du khách đến tham
quan. Song song với sự gia tăng về lượt khách quốc tế và khách nội địa là sự bùng nổ
trong hoạt động xây dựng và kinh doanh khách sạn. Hệ thống nhà nghỉ, khách sạn Việt
Nam tăng một cách nhanh chóng nhưng thiếu quy hoạch, cạnh tranh gay gắt về giá cả
và chất lượng. Chính vì vậy các nhà kinh doanh khách sạn đã nhận thức được rằng “uy
tín và chất lượng là yếu tố hàng đầu không thể thiếu”. Để tạo ra uy tín cao trên thị
trường du lịch thì nhất thiết các nhà kinh doanh du lịch không thể bỏ qua một yếu tố
đó là chất lượng phục vụ của doanh nghiệp mình.
Chất lượng phục vụ được tạo ra bởi chất lượng của nhiều bộ phận cấu thành
nên hoạt động kinh doanh của khách sạn. Trong đó phải kể đến bộ phận lễ tân được ví
như hệ thống thần kinh trung ương của khách sạn . Nhân viên lễ tân là người đại diện
cho khách sạn, nhà hàng đón tiếp khách và phục vụ khách, lễ tân viên được ví như bộ
mặt của khách sạn. Họ có vai trò của người tiếp thị, quảng bá, cung cấp các thông tin
liên quan đến dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ khác của khách sạn. Do tiếp xúc

Dương. Qua đó xác định các nguyên nhân tác động đến chất lượng dịch vụ của bộ
phận này.
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ Lễ Tân tại khách
sạn Thái Bình Dương.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Là những vấn đề lý luận thực tiễn về chất lượng phục vụ của bộ phận lễ tân
trong khách sạn, các yếu tố liên quan đến hoạt động đặt phòng, đón tiếp, phục vụ
khách, thanh toán cho khách và thái độ phục vụ của bộ phận lễ tân tại Khách sạn Thái
Bình Dương.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Các hoạt động liên quan đến phục vụ và chất lượng phục vụ tại bộ phận lễ tân
thông qua các tài liệu thu thập được, kết hợp với việc nghiên cứu thực tế tại bộ phận lễ
tân tại Khách sạn Thái Bình Dương, kết quả hoạt động kinh doanh của Khách sạn Thái
Bình Dương trong 3 năm 2009, 2010, 2011.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
1.4.1. Phương pháp thu thập dữ liệu:
1.4.1.1. Dữ liệu thứ cấp:
Được thu thập từ phòng kinh doanh và kế toán của khách sạn.
1.4.1.2. Dữ liệu sơ cấp:

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trang

-2-


Chuyên Đề Thực Tập

GVHD: Th.S Võ Thị Quỳnh Nga


33

LỜI MỞ ĐẦU
Chương I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHÁCH SẠN VÀ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH KHÁCH SẠN
1.1.Nội dung về kinh doanh khách sạn và bộ phận lễ tân trong khách sạn
1.1.1. Kinh doanh khách sạn
1.1.1.1. Khái niệm kinh doanh khách sạn
Ban đầu, kinh doanh khách sạn theo các chuyên gia trong lĩnh vực này thường
sử dụng hai khái niệm:
Theo nghĩa rộng, kinh doanh khách sạn là hoạt động cung cấp các dịch vụ phục
vụ nhu cầu nghỉ ngơi và ăn uống cho khách.Theo nghĩa hẹp,kinh doanh khách sạn chỉ
việc đảm bảo việc phục vụ nhu cầu ngủ, nghỉ cho khách
Cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch, sự cạnh tranh giữa các khách sạn
nhằm thu hút ngày càng nhiều khách và nhất là những khách có khả năng tài chính cao
đã làm tăng tính đa dạng trong hoạt động của ngành. Chính vì vậy, trên phương diện
chung nhất có thể đưa ra khái niệm về kinh doanh khách sạn như sau:
" Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh dựa trên cơ sở cung cấp các
dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng các nhu cầu
ăn, nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi".
* Khái niệm kinh doanh khách sạn theo thông tư 01/2001/ TT – TCDL của tổng
cục du lịch cấp ngày 27/04/2001: “ khách sạn là công trình kiến trúc được xây dựng
độc lập, có qui mô từ 10 buồng ngủ trở lên; đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất,
trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch”
1.1.1.2 Các lĩnh vực hoạt động trong kinh doanh khách sạn
* Hoạt động kinh doanh lưu trú: là hoạt động kinh doanh ngoài lĩnh vực sản
xuất vật chất, cung cấp các dịch vụ cho thuê buồng ngủ và các dịch vụ bổ sung khác
cho khách trong thời gian lưu trú tạm thời tại các địa điểm du lịch nhằm mục đích có
lãi. Là hoạt động cơ bản nhất trong hoạt động kinh doanh khách sạn.
* Hoạt động kinh doanh ăn uống: bao gồm các hoạt động chế biến thức ăn, bán và

- Sản phẩm khách sạn về cơ bản là không lưu kho, lưu bãi được vì một ngày
buồng không tiêu thụ được nghĩa là một khoản thu nhập bị mất không không thể thu
lại được .
- Sản phẩm của khách sạn được sản xuất và tiêu thụ tại chỗ và có sự tham gia
trực tiếp hoặc không có sự tham gia của khách hàng vào quá trình này nên những sai
sót, khuyết điểm khó có thể che dấu và sửa chữa được .
b. Đặc điểm về hoạt động kinh doanh khách sạn:
Kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên du lịch tại điểm du lịch. Thực
tế cho thấy, kinh doanh khách sạn chỉ được tiến hành thành công ở những nơi có tài
nguyên du lịch, bởi lẽ tài nguyên du lịch là yếu tố thúc đẩy, thôi thúc con người đi du
lịch. Mà khách du lịch chính là đối tượng khách hàng quan trọng nhất của một khách
sạn. Vậy rõ rang tài nguyên du lịch có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến việc kinh doanh
của khách sạn.


Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng vốn đầu tư lớn. Đặc điểm này xuất phát
từ nguyên nhân do yêu cầu về tính chất lượng cao của sản phẩm khách sạn, đòi hỏi
các thành phần cơ sở vật chất kĩ thuật của khách sạn cũng cần có chất lượng cao.
Tức là chất lượng của cơ sở vật chất kĩ thuật của khách sạn tăng lên cùng với sự
tăng lên của thứ hạng khách sạn. Sự sang trọng của các trang thiết bị được lắp đặt

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trang

-5-


Chuyên Đề Thực Tập

GVHD: Th.S Võ Thị Quỳnh Nga


lễ tân là nơi tập trung mọi hoạt động kinh doanh khách sạn và được ví như " thần kinh
trung ương của khách sạn"
(Theo tác giả Phạm Thị Cúc-Lý thuyết giáo trình nghiệp vụ lễ tân-nxb Hà Nội, 200
1.1.2.2 Vai trò của bộ phận lễ tân trong khách sạn
* Là cầu nối giữa khách và các bộ phận trong khách sạn.
* Là trung tâm, phối hợp hoạt động của các bộ phận trong khách sạn.
* Đóng vai trò quan trọng trong công việc bán hàng, tiếp thị các sản phẩm của
khách sạn
* Là nơi tiếp nhận các yêu cầu của khách. Đồng thời giải quyết mọi thắc mắc và
phàn nàn của khách.

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trang

-6-


Chuyên Đề Thực Tập

GVHD: Th.S Võ Thị Quỳnh Nga

33

* Đóng vai trò quan trọng trong việc giúp giám đốc đề ra các chiến lược , các sản
phẩm và thị trường nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của khách sạn
* Đại diện cho khách sạn trong việc mở rộng các mối liên hệ, liên doanh, liên kết
trong công tác thu hút khách cho khách sạn
1.1.2.3 Các dịch vụ của bộ phận lễ tân:
* Giai đoạn trước khi khách đến khách sạn:
Tổ chức hoạt động nhận đăng ký buồng khách sạn: Trong giai đoạn này khách
xem xét, tìm hiểu và lựa chọn khách sạn thông qua nhiều yếu tố: ấn tượng tốt đẹp từ

Chuyên Đề Thực Tập

GVHD: Th.S Võ Thị Quỳnh Nga

33

suốt thời gian lưu trú của khách lễ tân còn phải theo dõi, cập nhật, tổng hợp các chi phí
của khách để phục vụ cho việc thanh toán cho khách khi khách trả phòng và rời khỏi
khách sạn.
* Khi khách rời khách sạn :
Nhân viên lễ tân làm thủ tục thanh toán cho khách và tiễn khách. Công việc chủ
yếu là thanh toán, chuyển khoản hóa đơn cho khách, nhận lại chìa khóa, tiễn khách tận
tình chu đáo để khách cảm nhận được sự quan tâm của khách sạn đối với mình và
khuyến khích quay lại trong tương lai.
1.2 Các vấn đề cơ bản về chất lượng phục vụ
1.2.1 Một số khái niệm về “ chất lượng dịch vụ”
"Dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô
hình, diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và ( hoặc)
các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa và ( hoặc) các hệ thống cung ứng dịch vụ được
cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vẫn đề của khách hàng"
( Theo Gronross,1990, dẫn theo Paul Lawrence Miner, 1998)
Theo Philip B.Crosby thì " chất lượng là sự phù hợp đối với nhu cầu"
Theo American Society For Quality " Chất lượng thể hiện sự vượt trội của hàng
hóa và dịch vụ, đặc biệt đạt đến mức độ mà người ta có thể thỏa mãn mọi nhu cầu và
làm hài lòng khách hàng"
Theo Parasuraman & ctg-1985 " Chất lượng dịch vụ là khoảng cách của sự
mong đợi về dịch vụ của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ"
Chất lượng theo tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9000 "chất lượng dịch vụ là mức phù
hợp của sản phẩm dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua,
nhà cung ứng phải định kỳ xem xét lại các yêu cầu chất lượng"

nhận được

Phán xét

1.1 Mô hình mối quan hệ của 3 góc độ về chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ mà khách hàng chờ đợi: Khách hàng đề cập đến dịch vụ với
một nhu cầu ít nhiều rõ ràng và thành hình, với một hình ảnh hình dung về nguồn cung
ứng và người cung ứng dịch vụ. Những mong đợi của khách hàng về mặt chất lượng
có từ quá trình mua của họ và chủ yếu là:
+ Những tín hiệu được cảm nhận từ đầu nguồn của quá trình. Những dấu hiệu
này phát đi hoặc một cách tự nguyện bởi nhà cung ứng ( quảng cáo, các hình thức
truyền thông khác), hoặc bởi một người thứ 3 ( quảng cáo truyền miệng).
+ Thái độ đối với dịch vụ: những lý do mua khác nhau, những kinh nghiệm
khác nhau về việc tiêu dùng dịch vụ có thể làm nảy sinh những mong đợi hết sức khác
nhau về chất lượng dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng mong muốn: Trên thực tế không
một doanh nghiệp nào có thể đáp ứng tất cả những chờ đợi của toàn bộ thị trường. Căn
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trang

-9-


Chuyên Đề Thực Tập

GVHD: Th.S Võ Thị Quỳnh Nga

33

cứ vào thị trường mục tiêu, vào môi trường cạnh tranh, doanh nghiệp phải lựa chọn
mức chất lượng cần đạt được tương ứng với định vị của mình. Một chính sách hợp lý


SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trang

- 10 -


Chuyên Đề Thực Tập

GVHD: Th.S Võ Thị Quỳnh Nga

33

(Tham khảo tác giả Th.S Võ Thị Quỳnh Nga- giáo trình quản trị cung ứng dịch vụ-ĐH
Kinh Tế)
1.2.3 Các mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ
1.2.3.1 Mô hình Servqual
Parasuraman (1985) đã xây dựng một công cụ đo lường hỗn hợp, gọi là
SERVQUAL mô hình SERVQUAL đo lường chất lượng dịch vụ dựa trên sự cảm nhận
bởi chính các khách hàng sử dụng dịch vụ được xác định như sau:
Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận - giá trị kỳ vọng
Parasuraman cho rằng, bất kỳ dịch vụ nào, chất lượng dịch vụ cảm nhận bởi
khách hàng có thể diễn đạt theo 10 thành phần, đó là:
a. Tin cậy: nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay
lần đầu tiên.
b. Đáp ứng: nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung
cấp các dịch vụ cho khách hàng.
c. Năng lực phục vụ: Nói lên trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ. Khả
năng phục vụ biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên trực tiếp thực
hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu để nắm bắt thông tin liên quan cần thiết cho việc
phục vụ khách hàng.

* Ưu điểm:
- Mô hình SERVQUAL thể hiện được thông tin then chốt ảnh hưởng đến mức
độ cảm nhận chất lượng dịch vụ của khách hàng, đó là sự kỳ vọng của khách hàng.
- Một số người cho rằng SERVQUAL kiểm tra được toàn diện và triệt để các
nhu cầu dịch vụ và chất lượng dịch vụ cung cấp.
- Theo Parasuraman (1985) đây là một mô hình đo lường chất lượng dịch vụ
đáng tin cậy, chính xác và được sử dụng rộng rãi trong việc đo chất lượng của các loại
hình dịch vụ.
* Khuyết điểm
- Phức tạp, tốn thời gian và chi phí khảo sát.
- Bảng câu hỏi của SERQUAL dài gây nhàm chán và mất thời gian cho người trả
lời
- Mô hình này vẫn còn có sự tranh luận của nhiều chuyên gia. Trong đó có
Francis Buttle, Ông đặc biệt lưu ý rằng SERVQUAL của 5 yếu tố (độ tin cậy, đảm bảo,
hữu hình, Đồng cảm, phản hồi) không phải là phổ quát, và mô hình không thu hút trên
lý thuyết kinh tế, thống kê và tâm lý được thành lập. Mặc dù giá trị xây dựng của
SERVQUAL không có gì nghi ngờ, nó được sử dụng rộng rãi trong các hình thức xuất
bản và sửa đổi để đo lường mong đợi của khách hàng và nhận thức về chất lượng dịch
vụ.( Francis Buttle năm 1996, "SERVQUAL: xem xét, phê bình, nghiên cứu chương
trình nghị sự", châu Âu Tạp chí Marketing, Tập.30, Số 1, pp.8-31)
1.2.3.2 Mô hình năm sai lệch
Trên thực tế, việc quản lý và đảm bảo chất lượng của hàng hoá thông thường đã
là rất khó.Trong khi đó, sản phẩm dịch vụ mang tính vô hình nên công việc đảm bảo
lại càng khó hơn.
Trong quá trình quản lý và đảm bảo chất lượng dịch vụ, cần phải phân biệt 3
cách nhìn về nó: chất lượng dịch vụ mà khách hàng chờ đợi, chất lượng mà doanh
nghiệp mong muốn và chất lượng mà khách hàng cảm nhận được. Việc làm này cho

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trang


các tiêu chí chất lượng dịch vụ. Khoảng cách này tồn tại vì nhà quản lý có thể hiểu
được mong muốn của khách hàng, nhưng đôi khi nhà quản lý không thể lấy thông tin
đó để đưa ra các tiêu chí dịch vụ thích hợp
- Sai lệch loại 3: Khoảng cách giữa các tiêu chí chất lượng dịch vụ với việc cung
cấp dịch vụ. Khi nhà quản lý nhận ra được sụ mong muốn của khách hàng, đã thiết kế
ra tiêu chuẩn dịch vụ đáp ứng được yêu cầu của khách hàng ( quy định thời gian phục
vụ nhanh như khách hàng mong đợi), nhưng trong quá trìn thực hiện nhân viên không
thực hiện theo đúng tiêu chuẩn đề ra. Khoảng cách này do kỹ năng kém hoặc do nhân
viên không sẵn lòng cung cấp dịch vụ tân tâm.
- Sai lệch loại 4: Khoảng cách giữa việc cung cấp dịch vụ và thông tin ra bên
ngoài (đến khách hàng). Quảng cáo trên thông tin đại chúng và các mối quan hệ giao
tiếp khác của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến kỳ vọng của khách hàng. Nếu kỳ
vọng đóng vai trò quan trọng trong nhận định về chất lượng dịch vụ của khách hàng,
thì doanh nghiệp cần phải chắc chắn là không nên hứa hẹn trên quảng cáo nhiều hơn
thực tế có thể cung cấp vì sẽ tạo ra một kỳ vọng cao nơi khách hàng. Thông tin ra bên
ngoài có thể gây ảnh hưởng không chỉ đối với kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ mà
còn nhận định của khách hàng về dịch vụ được cung cấp.
- Sai lệch loại 5: Khoảng cách giữa kỳ vọng (mong đợi) và dịch vụ nhận được
(cảm nhận). Có vẻ sự đánh giá cao, thấp đối với chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào sự
nhận định của khách hàng đối với kết quả dịch vụ thực tế và sự kỳ vọng của khách
hàng về dịch vụ đó. Chất lượng mà một khách hàng nhận định đói với dịch vụ là một
hàm số của độ rộng và độ lớn của khoảng cách giữa dịch vụ được kỳ vọng và dịch vụ
cảm nhận được.

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trang

- 14 -


Chuyên Đề Thực Tập

nghiệp mong muốn
SL 2
Nhận thức của nhà quản trị
về chất lượng mong đợi của
khách hàng

Sơ đồ 1.2: Mô hình các sai lệch của chất lượng dịch vụ.
* Ưu điểm:
- Tạo điều kiện cho khách sạn kiểm soát chất lượng hiệu quả.
- Giảm tranh chấp có thể xảy ra về thủ tục hay chất lượng đối với các đối tượng
hiện hữu trong quá trình cung ứng dịch vụ
- giúp doanh nghiệp nhận ra các kẻ hở về chất lượng, tạo cơ hội khắc phục tức
thì, tiêu chuẩn hóa quá trình, nắm bắt nhu cầu khách hàng
* Nhược điểm:
- Phức tạp trong việc
+ xác định chính xác yêu cầu của khách hàng
+ Thông tin đầy đủ về dịch vụ để khách hàng hiểu rõ
+ xây dựng chuyên gia đánh giá
- Tốn kém thời gian và chi phí khảo sát.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trang

- 15 -


Chuyên Đề Thực Tập

GVHD: Th.S Võ Thị Quỳnh Nga

33


liệu thu thập.
- Bảng câu hỏi của SERVPERF ngắn gọn hơn một nữa so với SERQUAL,

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trang

- 16 -


Chuyên Đề Thực Tập

GVHD: Th.S Võ Thị Quỳnh Nga

33

không gây nhàm chán và mất thời gian cho người trả.
* Nhược điểm
- Mô hình SERVPERF không thể hiện được thông tin then chốt ảnh hưởng
đến mức độcảm nhận chất lượng dịch vụ của khách hàng, đó là sự kỳ vọng của khách
hàng.
- Một số người cho rằng SERVPERF chưa kiểm tra được toàn diện và triệt
để các nhu cầu dịch vụ và chất lượng dịch vụ cung cấp.
1.2.3.4 Mô hình căn cứ vào sự đánh giá và cảm nhận của khách hàng
Trên thế giới, có nhiều phương pháp được sử dụng để đo lường chất lượng của
dịch vụ, nhưng phổ biến và đem lại hiệu quả hơn cả là phương pháp đo lường căn cứ
vào sự thỏa mãn của khách hàng.
Như chúng ta biết khách hàng, một trong hai yếu tố cơ bản tạo ra sản phẩm
dịch vụ, là đích cuối cùng mà các nhà sản xuất hướng tới để phục vụ. Cho nên biết
được khách hàng thực sự cảm nhận như thế nào về chất lượng dịch vụ của khách sạn
mình là điều hết sức cần thiết. Việc đặt mình vào vị trí của khách hàng vẫn là một
phương pháp có hiệu quả nhất để tìm hiểu về chất lượng. Một cuộc điều tra thành công

dịch vụ
* Chỉ tiêu cơ bản thứ nhất: Độ tin cậy
- Tính bảo mật các thông tin cá nhân khách hàng của bộ phẫn Lễ tân
- Khả năng thực hiện dịch vụ cam kết một cách chắc chắn và tương đối chính xác
và hoàn chỉnh
* Chỉ tiêu cơ bản thứ hai: Các yếu tố hữu hình
- Tác phong và trang phục của nhân viên bộ phận Lễ tân
- Tiện nghi khu vực tiền sảnh
- Cách bày trí và phối hợp màu sắc và phong cách trang thiết bị tại khu vực lễ tân
* Chỉ tiêu cơ bản thứ ba: Sự nhạy bén
- Khả năng nhạy bén và đáp ứng nhu cầu của khách hàng
- Khả năng nhận dạng khách hàng quen thuộc của khách sạn
- Việc xử lý thời gian khi phục vụ khách
* Chỉ tiêu cơ bản thứ tư: Sự chắc chắn
Trình độ nghiệp vụ, sự hiểu biết và kiến thức của nhân viên qua các quy trình
- Khi khách đặt phòng
- Khi chào đón khách
- Khi khách làm thủ tục đăng ký phòng
- Khi cung cấp cho khách các dịch vụ và thông tin
- Cách thức xử lý phàn nàn và thông tin
- Khi thanh toán và tiễn đưa khách
* Chỉ tiêu cơ bản thứ năm: Sự thấu cảm
- Thái độ tìm hiểu, giải quyết và quan tâm đến những mong muốn của từng cá
nhân khách hàng.
1.3.2 Cách thức đo lường chất lượng dịch vụ
* Phương pháp đo lường: Dựa vào sự đánh giá và cảm nhận của khách hàng.
Như chúng ta biết khách hàng là đích cuối cùng mà các nhà sản xuất hướng tới để
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trang

- 18 -

*Công cụ :
- Phiếu điều tra
- Phần mềm SPSS 16.0 để xử lý dữ liệu.
- Sử dụng thang đo khoảng (Interval scale) và thang điểm Likert
1.3.3 Vai trò của việc đánh giá chất lượng dịch vụ bộ phận lễ tân
- Bộ phận lễ tân được xem là nơi đầu tiên tiếp xúc với khách và là “ trung tâm
thần kinh” tiếp xúc với khách. Vì vậy, nâng cao chất lượng dịch vụ của bộ phận Lễ
Tân là góp phần nâng cao chất lượng chung của khách sạn.
- Góp phần thu hút khách hàng tiềm năng trong tương lai. Điều đó quyết định
đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của khách sạn.
SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trang

- 19 -


Chuyên Đề Thực Tập

GVHD: Th.S Võ Thị Quỳnh Nga

33

- Tăng khả năng cạnh tranh cho khách sạn.

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG PHỤC VỤ CỦA BỘ
PHẬN LỄ TÂN TẠI KHÁCH SẠN THÁI BÌNH DƯƠNG
2.1 Khái quát về khách sạn Thái Bình Dương:
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển :
Khách sạn Thái Bình Dương được đầu tư xây dựng và bắt đầu đi vào hoạt
động từ năm 1995 dưới sự quản lý của nhà nước. Khách sạn với những ưu thế về vị trí
như nằm gần trung tâm thành phố thuận tiện cho việc đi lại, tham quan của du khách

GVHD: Th.S Võ Thị Quỳnh Nga

33

Tên giao dịch quốc tế: Công Ty Cổ Phần Thương Mại Thái Bình Dương
Hạng: 3 sao
Địa chỉ: 92 Phan Chu Trinh, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Điện thoại: 84. 5113 868777 – 868999
Fax: 84. 5113 868555
Email: [email protected] .
Webside: http://www.pacifichotel.vn
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ khách sạn Thái Bình Dương
2.1.2.1 Chức năng
- Sản xuất và tổ chức phục vụ những dịch vụ về nhu cầu nghỉ ngơi, ăn uống và
một số nhu cầu bổ sung khác
- Tổ chức hội nghị, hội thảo, tiệc liên hoan quy mô nhỏ và tổ chức các dịch vụ
tham quan cho du khách.
- Hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế nhằm mục đích thu lợi nhuận ,
khách sạn phải quản lý tốt hoạt động sản xuất, bán và trao đổi cho khách những dịch
vụ đạt chất lượng cao
2.1.2.2 Nhiệm vụ
- Tổ chức tốt quá trình cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ
sung khác nhằm phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước đến với doanh nghiệp.
- Thực hiện đầy đủ và nghiêm túc các quy định do Tổng cục du lịch và Sở du lịch
địa phương ban hành. Đồng thời nộp thuế đầy đủ theo đúng pháp lệnh của nhà nước.
- Sử dụng hiệu quả và quản lý tốt cơ sở vật chất kỹ thuật, vật tư, tiền vốn, nguồn
nhân lực nhằm nâng cao chất lượng, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy để đảm bảo an toàn tài sản cũng
như tính mạng của du khách nghỉ ngơi tại đây
- Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho nhân viên. Đồng thời đảm bảo đảm bảo cho

CHÍNH

BP Nhà
Hàng

BP Buồng

BP KẾ
TOÁN

BP Bảo Vệ

BP Kỹ thuật

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của khách sạn Thái Bình Dương.
Ghi chú:

: Quan hệ trực tuyến
: Quan hệ chức năng
( Nguồn: Bộ Phận kế toán khách sạn Thái Bình Dương)

2.1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban
Giám đốc: Là người có thẩm quyền cao nhất trong khách sạn, là người chịu
trách nhiệm lãnh đạo và quản lý mọi hoạt động kinh doanh cũng như vạch ra các chiến
lược của khách sạn. Đảm bảo cho hoạt động của khách sạn diễn ra đồng bộ tăng năng
suất lao động và tăng hiệu quả kinh doanh. Đồng thời Giám đốc cũng là người chịu
trách nhiệm trước Nhà nước và pháp luật trước các đơn vị cấp trên và trước khách về
chất lượng phục vụ.
Trợ lý giám đốc: Là người tham mưu trực tiếp và giúp đỡ cho giám đốc trong
việc quản lý mọi hoạt động trong khách sạn, giúp giám đốc trong việc đưa ra các quyết

toán,.. Giải quyết các khiếu nại, phàn nàn của khách.
Bộ phận buồng: Đây là bộ phận tạo ra doanh thu chính cho khách sạn. Là bộ
phận chăm lo sự nghỉ ngơi của khách trong thời gian lưu trú tại khách sạn và đảm bảo
an toàn tính mạng, tài sản cho khách. Bảo quản các trang thiết bị nội thất và vệ sinh
hàng
ngày cho khách sạn. Nhận chuyển các yêu cầu của khách như giặt là, massage
và các dịch vụ bổ sung khác. Thông báo chi cho bộ phận lập hoá đơn các tài khoản tiêu
dùng của khách thuộc phạm vi quản lý. Làm nhiệm vụ vệ sinh làm sạch toàn bộ khách
sạn cả trong và ngoài.
Bộ phận nhà hàng: Đảm nhận tất cả các công việc từ phục vụ khách ăn uống
hàng ngày cho đến các bữa tiệc lớn nhỏ. Thực hiện chức năng tiêu thụ và bán hàng,
đưa ra thực đơn giới thiệu các món ăn và thuyết phục khách sử dụng. Đảm bảo chất
lượng vệ sinh an toàn thực phẩm để đảm bảo về uy tín chất lượng của khách sạn và
thoả mãn mọi nhu cầu của khách về ăn uống.
Bộ phận kế toán: Nộp báo cáo kế toán đáp ứng nhu cầu kế toán nội bộ và báo
cáo kế toán đáp ứng yêu cầu quản lý của cơ quan tài chính, ngân hàng và cấp trên,
kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch kinh doanh, kế hoạch thu chi, thanh toán và việc
sử dụng vật tư thiết bị, tiền vốn, kinh phí kịp thời uốn nắn đúng với quy định của cấp

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trang

- 23 -


Chuyên Đề Thực Tập

GVHD: Th.S Võ Thị Quỳnh Nga

33



Suite
Deluxe
Superior
Standard
Tổng cộng

48
34
24
18

8
7
25
18
58

Phòng đơn

Phòng đôi

850
731
561
391

1020
861
646

* Bộ phận Sale Marketing: Đây là bộ phận giữ vai trò chủ đạo trong công tác
quản lý kinh doanh của khách sạn, bộ phận này là đầu mối vận hành và giám sát các
hoạt động khác. Chức năng của bộ phận marketing là nghiên cứu, điều tra thị trường,
tuyên truyền quảng bá và giới thiệu sản phẩm của khách sạn trong và ngoài nước nhằm
thu hút kháchvà tối đa hoá lợi nhuận.. Thực hiện hợp đồng liên kết với các công ty du
lịch và khách sạn trong cả nước.
Bộ phận hành chính: Chịu trách nhiệm đảm bảo nguồn nhân lực cho khách sạn
vào mọi thời điểm. Giải quyết các hồ sơ giấy tờ của khách sạn một cách hợp lý.
Bộ phận lễ tân: Có chức năng đại diện cho khách sạn trong mở rộng các mối
quan hệ, tiếp xúc với khách. Có vai trò quan trọng trong việc thu hút khách, làm cầu
nối liên hệ giữa khách với các bộ phận khác trong khách sạn, trong định hướng tiêu
dùng của khách và giới thiệu các dịch vụ của khách sạn với khách hàng. Bán dịch vụ
phòng nghỉ và các dịch vụ cho khách, tham gia vào các hoạt động kinh doanh phòng
ngủ của khách sạn như : đón tiếp khách, bố trí phòng ngủ, giữ đồ cho khách, thanh
toán,.. Giải quyết các khiếu nại, phàn nàn của khách.
Bộ phận buồng: Đây là bộ phận tạo ra doanh thu chính cho khách sạn. Là bộ
phận chăm lo sự nghỉ ngơi của khách trong thời gian lưu trú tại khách sạn và đảm bảo
an toàn tính mạng, tài sản cho khách. Bảo quản các trang thiết bị nội thất và vệ sinh
hàng
ngày cho khách sạn. Nhận chuyển các yêu cầu của khách như giặt là, massage
và các dịch vụ bổ sung khác. Thông báo chi cho bộ phận lập hoá đơn các tài khoản tiêu
dùng của khách thuộc phạm vi quản lý. Làm nhiệm vụ vệ sinh làm sạch toàn bộ khách
sạn cả trong và ngoài.
Bộ phận nhà hàng: Đảm nhận tất cả các công việc từ phục vụ khách ăn uống
hàng ngày cho đến các bữa tiệc lớn nhỏ. Thực hiện chức năng tiêu thụ và bán hàng,

SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Trang

- 25 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status