BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ NHUNG
MỘT SỐ SAI SÓT TRONG QUÁ TRÌNH SOẠN THẢO
VÀ KÝ KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đồng Ngọc Ba
HÀ NỘI – 2016
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực
của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của các
thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt khóa học cũng như thời gian
nghiên cứu đề tài luận văn.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến
TS. Đồng Ngọc Ba – người hết lòng giúp đỡ, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi
điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn của mình.
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban Giám hiệu, toàn
thể quý thầy cô, cán bộ phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Pháp luật Kinh tế
và cán bộ Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
MỤC LỤC
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA ....................... 7
1.1.
Khái quát về hoạt động mua bán hàng hóa ....................................................... 7
1.2. Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa ........................................................... 9
1.2.1. Khái niệm ...................................................................................................... 9
1.2.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa ...................................................... 9
1.3.
Điều kiện có hiệu lực hợp đồng mua bán hàng hóa ......................................... 16
1.3.1. Người tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự ............................. 17
1.3.2. Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không
trái đạo đức xã hội. ................................................................................................. 18
1.3.3. Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. ............................................. 18
1.3.4. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường
hợp pháp luật có quy định ....................................................................................... 19
1.4.
Những điểm tiến bộ của Bộ luật dân sự năm 2015 về hợp đồng....................... 22
1.4.1. Quy định về người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ............................... 23
1.4.2. Quy định về hình thức giao dịch dân sự - điều kiện có hiệu lực của giao dịch .. 23
1.4.3. Quy định về thời hiệu khởi kiện hợp đồng ..................................................... 25
1.4.4. Bộ luật dân sự năm 2015 bổ sung thêm quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn
cảnh thay đổi cơ bản. .............................................................................................. 26
Chương 2THỰC TRẠNG MỘT SỐ SAI SÓT TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG
2.5.
Không thỏa thuận cụ thể về sự kiện bất khả kháng .......................................... 49
2.6.
Không thỏa thuận cụ thể về thời điểm chuyển rủi ro ....................................... 50
2.7.
Không thỏa thuận rõ về bảo hành hàng hóa .................................................... 49
2.8.
Không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không đúng về phạt hợp đồng .................... 54
2.9. Không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không đúng về phạt hợp đồng
51
Chương 3: NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÒNG NGỪA, HẠN CHẾ MỘT SỐ
SAI SÓT TRONG QUÁ TRÌNH SOẠN THẢO VA KÝ KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA................................................................................................................... 56
3.1. Nguyên nhân một số sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán
hành hóa …
.52
3.1.1. Chủ thể tham gia hợp đồng có hiểu biết pháp luật về mua bán hàng hóa còn hạn
chế…………..
đóng góp vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế đất nước. Hoạt động mua bán
hàng hóa là hoạt động rất phổ biến và đóng góp thị phần lớn trong nền kinh tế
quốc dân.
Tuy nhiên do đặc thù hoạt động mua bán hàng hóa là hoạt động nhằm mục
tiêu lợi nhuận, luôn gắn liền với sự biến động của thị trường, nhu cầu cũng như
thị hiếu của khách hàng, vì vậy hoạt động mua bán hàng hóa cũng chứa đựng
nhiều rủi ro cho các bên tham gia giao dịch mua bán hàng hóa. Hơn nữa, ở
nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại thực trạng là sự hiểu biết pháp luật, tôn trọng
pháp luật của người dân còn ở mức thấp. Vì vậy tình trạng hợp đồng mua bán
hàng hóa còn nhiều sai sót, nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa bị vô hiệu, ảnh
hưởng đến quyền lợi của các bên khi tham gia giao dịch.
Quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa là quá trình tiền
đề để đưa ra hợp đồng mua bán hang hóa – là căn cứ pháp lý để các bên thực
hiện quyền và nghĩa vụ sau khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Những
sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hang hóa không
chỉ gây nhiều thiệt hại cho các bên tham gia hoạt động mua bán mà còn ảnh
hưởng đến sự phát triển chung của nền kinh tế. Việc nghiên cứu những sai sót
trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa và tìm ra
những giải pháp hạn chế những sai sót phát sinh trong hợp đồng hàng hóa ở
2
Việt Nam là rất cần thiết. Vì vậy tác giả lựa chọn và phân tích đề tài: “Một số
sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đến thời điểm hiện tại, có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đề
tài hợp đồng mua bán hàng hóa, cụ thể như:
Trước hết, có nhiều giáo trình, bài giảng của các trường đại học đào tạo
chuyên ngành Luật có viết về nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa như:
dẫn: PGS.TS Nguyễn Như Phát năm 2007. Nhìn chung, những công trình
nghiên cứu này đã tiếp cận nhiều góc độ khác nhau về hợp đồng mua bán hàng
hóa như thực trạng pháp luật về mua bán hàng hóa, nguồn luật điều chỉnh, xử lý
vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa, kinh nghiệm giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa của nước ngoài… Tuy nhiên nội dung liên quan đến sai sót trong hợp
đồng mua bán hàng hóa, giải pháp hạn chế sai sót trong hợp đồng mua bán
hàng hóa chưa được đề cập một cách có hệ thống.
Ngoài ra, đến thời điểm hiện tại cũng có rất nhiều các bài báo, tạp chí, bài
nghiên cứu khoa học về đề tài hợp đồng mua bán hàng hóa như bài viết “Vận
dụng bất khả kháng để miễm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng
hoá Quốc tế” của tác giả Hoàng Ngọc Thiết, in trên tạp chí Luật Học số 6 năm
1998;bài viết “Quan điểm xử lý khi nghiên cứu, giải quyết loại án tranh chấp
hợp đồng mua bán hàng hoá do lỗi của bên bán” của tác giả Lê Song Lê in trên
tạp chí Viện Kiểm sát nhân dân số 05/2009; bài viết“Mua bán hàng hóa, lập
hợp đồng loại nào?”của Luật sư Lê Văn Đài bài viết đăng trên báo điện tử của
Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đăng ngày 07/06/2016;
đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Pháp luật về mua bán hàng hoá quốc
tế của Việt Nam - Sự phát triển và hoàn thiện trong xu thế hội nhập kinh tế
quốc tế” của trường Đại học Luật Hà Nội do Nông Quốc Bình chủ nhiệm đề
tài…Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu về những
nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa, quy định của pháp luật về
hợp đồng mua bán hàng hóa còn nội dung cụ thể về những sai sót trong hợp
đồng mua bán hàng hóa chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về nội dung này.
4
Chính vì vậy, việc tìm hiểu về những sai sót trong hợp đồng mua bán hàng
hóa ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp là cần thiết và không trùng lặp với bất
kỳ công trình nghiên cứu nào đã thực hiện trước đây.
ở Việt Nam, việc áp dụng quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
trên thực tế ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế một số sai sót
trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu về các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán
hàng hóa ở Việt Nam, một số sai sót mà các chủ thể tham gia giao dịch có thể
gặp phải trong quá trình soạn thảo, ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, một số
giải pháp để hạn chế một số sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp
đồng mua bán hàng hóa. Bởi quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán
hàng hóa là quá trình tiền đề cơ bản để đưa ra bản hợp đồng mua bán hàng hóa
cho các bên thực hiện. Vì vậy nếu phát hiện và đưa ra được các giải pháp hạn
chế sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa thì
các bên sẽ có được một bản hợp đồng mua bán hàng hóa hoàn chỉnh để thực
hiện. Tác giả nghiên cứu đề tài luận văn này với mong muốn tìm ra được giải
pháp tổng thể để góp phần hỗ trợ các chủ thể tham gia giao dịch có thể ứng
dụng để hạn chế một số sai sót có thể gặp phải khi giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa, qua đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể,
đảm bảo sự công bằng về quyền lợi hợp pháp cho các bên.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn được triển khai xoay quanh các câu hỏi sau:
- Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về hợp đồng mua bán hàng
hóa?
- Những điểm mới của pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng
hóa?
- Những sai sót trong quá trình soạn thảo và ký kết hợp đồng mua bán
hàng hóa là những sai sót nào?
6
Chương 2: Thực trạng sai sót trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Chương 3: Những giải pháp khắc phục một số sai sót trong hợp đồng mua
bán hàng hóa.
8
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1.
Khái quát về hoạt động mua bán hàng hóa
Theo cách hiểu thông thường thì mua bán hàng hóa là việc trao đổi hàng
hóa của bên bán cho bên mua, còn bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên
bán.
Điều3LuậtThươngmạinăm2005quy định:“Mua bán hàng hoá là hoạt động
thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng
hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên
bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận”.
Điều 46 Luật thương mại năm 1997 định nghĩa về hoạt động mua bán
hàng hóa như sau: “Mua bán hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người
bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người mua và
nhận tiền; người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người bán và nhận hàng theo
thoả thuận của hai bên”.
Như vậy hoạt động mua bán hàng hóa được quy định trong Luật Thương
mại năm 2005 cơ bản giống như định nghĩa về hoạt động mua bán hàng hóa
trong Luật thương mại năm 1997, bổ sung thêm quyền “nhận quyền sở hữu
hàng hoá” cho bên mua. Theo đó mua bán hàng hóa bao gồm hai hoạt động là:
bán hàng hóa và mua hàng hóa. Trong đó bên bán phải chuyển giao quyền sở
hữu hàng hóa, giao hàng hóa cho bên mua còn bên mua phải thực hiện nghĩa vụ
thanh toán cho bên bán và nhận quyền sở hữu hàng hóa.
Chủ thể của hoạt động mua bán hàng hóa là những cá nhân, pháp nhân
tham gia vào quá trình đàm phán, thỏa thuận giao kết hợp đồng và thực hiện
hoạt động mua bán hàng hóa.
Theo quy định của Luật thương mại năm 2005 hoạt động mua bán hàng
hóa được thực hiện bởi các chủ thể được quy định như: (i) Thương nhân hoạt
10
động thương mại theo quy định tại Điều 1 của Luật Thương mại (2005); (ii) Tổ
chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại.
i. Chủ thể giao dịch là thương nhân.
Theo điều 6 Luật thương mại năm 2005 thương nhân bao gồm tổ chức
kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc
lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam thương nhân có thể là cá nhân hoặc là
tổ chức kinh tế thỏa mãn các điều kiện sau: Hoạt động thương mại một cách
độc lập; hoạt động thương mại thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
Khác với pháp luật của nhiều nước trên thế giới như: Hợp chủng quốc Hoa
Kỳ, Cộng hòa liên bang Đức, Cộng Hòa Pháp, nhìn nhận “Thương nhân là người
thực hiện hành vi thương mại thường xuyên như một nghề nghiệp” (Xem điều
L121 – 1 của Bộ luật thương mại Công Hòa Pháp),pháp luật Việt Nam không đi
theo hướng thừa nhận cả những thương nhân thực tế (không có đăng ký) mà Việt
Nam chỉ thừa nhận những các cá nhân, tổ chức kinh tế phải có đăng ký kinh doanh
mới được coi là thương nhân. Việc không công nhận thương nhân thực tế là hợp
lý, tuy nhiên chính việc không công nhận thương nhân thực tế dẫn đến tình trạng
không kiểm soát được một lực lượng lớn các đối tượng vẫn tiến hành hoạt động
thương mại nhưng không có đăng ký kinh doanh.
Chủ thể hoạt động mua bán hàng hóa là thương nhân, bao gồm: Công ty
cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh; công ty nhà nước, doanh nghiệp tư
a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
b) Những vật gắn liền với đất đai”.
Như vậy, đối tượng hàng hóa theo quy định của Luật thương mại năm
2005 được mở rộng hơn so với đối tượng hàng hóa theo quy định của Luật
thương mại năm 1997. Ngoài những động sản hiện đang có sẵn trên thị trường
thì cả những động sản sắp hình thành trong tương lai cũng được coi là đối
tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa. Mặt khác nhà và các công tŕnh xây
12
dựng cũng đều được xem là hàng hóa. Việc mở rộng đối tượng của hợp đồng
mua bán hàng hóa như vậy góp phần thúc đẩy hoạt động mua bán hàng hóa,
hoạt động thương mại trong nước phát triển, phù hợp với cơ chế chung phát
triển thương mại của thị trường.
Khái niệm hàng hóa được quy định trong Luật thương mại năm 2005
cũng tương đồng với pháp luật của các nước trên thế giới, đều thừa nhận tất
cả mọi thứ là động sản đều là hàng hóa kể cả nhà ở, công trình xây dựng. Bộ
Luât thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) đưa ra khái niệm hàng hóa như
sau:
Hàng hóa là mọi thứ (bao gồm cả những hàng hóa được sản xuất đặc
biêt) mà là động sản tại thời điểm tham gia hợp đồng, khác hơn tiền chứng
khoán đầu tư và những quyền vô hình. Hàng hóa cũng bao gồm súc vật chưa
ra đời và cây trồng và những vật nhận biết khác gắn liền với bất động sản
như được mô tả trong phần nói về hàng hóa được tách rời từ bất động sản.
Luật thương mại năm 2005 đã quy định về đối tượng của hợp đồng mua
bán hàng hóa rộng hơn so với Luật cũ. Tuy nhiên để đảm bảo cho hoạt động
mua bán hàng hóa diễn ra lành mạnh, đảm bảo dưới sự quản lý chặt chẽ của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đảm bảo phù hợp với đạo đức, văn hóa của
dân tộc và phù hợp với đường lối phát triển chung của đất nước trong từng thời
chứa chất phóng xạ, thiết bị phát bức xạ hoặc nguồn phóng xạ; hóa chất bảng 2
và bảng 3 (theo Công ước quốc tế); thực vật, động vật hoang dã quý hiếm (bao
gồm cả vật sống và các bộ phận của chúng đã được chế biến); thuốc lá điếu, xì
gà và các dạng thuốc lá thành phẩm khác; rượu các loại.
Tại phụ lục III của Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm
2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ
cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện cũng quy định
về các hàng hóa kinh doanh có điều kiện. Theo đó, các chủ thể chỉ được kinh
doanh khi đảm bảo các điều kiện pháp luật các mặt hàng sau: xăng, dầu các
loại, khí đốt các loại; các thuốc dùng cho người, thực phẩm thuộc Danh mục
thực phẩm có nguy cơ cao; thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật; nguyên liệu sản
14
xuất thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật; di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; phim,
băng, đĩa hình; nguyên liệu thuốc lá.
Như vậy đối tượng được phép trao đổi, mua bán được pháp luật quy định
rất cụ thể. Các bên chỉ được tiến hành mua bán những hàng hóa được tự do lưu
thông trên thị trường; đối với những hàng hóa hạn chế kinh doanh thì các bên
chỉ được tiến hành mua bán khi có đủ điều kiện được phép kinh doanh theo quy
định của pháp luật. Các bên không được tiến hành mua bán những hàng hóa mà
pháp luật cấm kinh doanh. Những hợp đồng mua bán hàng hóa cấm kinh doanh
hoặc mua bán những hàng hóa hạn chế kinh doanh mà không đủ điều kiện được
phép kinh doanh theo quy định của pháp luật thì đều bị vô hiệu và bên vi phạm
phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình theo quy định của pháp
luật.
1.2.2.3. Mục đích thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
Các chủ thể thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân
nên mục đích chủ yếu khi thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa là để kinh
hình thành được hợp đồng. Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự chuyển giao
quyền sở hữu hàng hóa của bên bán cho bên mua, bên mua có nghĩa vụ thanh
toán cho bên bán. Vì vậy hợp đồng mua bán hàng hóa không thể thiếu các điều
khoản sau: chủ thể của hợp đồng, đối tượng của hợp đồng, giá cả hàng hóa,
phương thức thanh toán, thời gian thanh toán.
Các điều khoản thông thường: là những điều khoản được quy định trong
các văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù các điều khoản này không được thỏa
thuận và quy định trong hợp đồng song các bên khi thực hiện hợp đồng mặc
nhiên đã biết, phải tuân thủ nghiêm túc như pháp luật quy định. Điều khoản
thông thường không làm ảnh hưởng tới quá trình giao kết hợp đồng. Do pháp
luật đã quy định cụ thể những điều khoản này nên các bên có thể thỏa thuận
hoặc không thỏa thuận về các nội dung này. Vì vậy, nếu có tranh chấp về
những nội dung này thì quy định của pháp luật sẽ là căn cứ để xác định quyền
và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.
16
Các điều khoản tùy nghi: là những điều khoản được đưa vào hợp đồng
theo sự thỏa thuận của các bên, căn cứ vào khả năng và nhu cầu của các bên để
thỏa thuận thêm một số các điều khoản khác cho phù hợp với thực tế. Thông
qua điều khoản tùy nghi, bên có nghĩa vụ được phép lựa chọn một trong những
cách thức nhất định để thực hiện hợp đồng, sao cho thuận lợi mà vẫn bảo đảm
được quyền yêu cầu của bên kia1.
Như vậy để đảm bảo quyền lợi tối đa cho mình, các bên cần phải tìm hiểu,
nắm rõ các quy định của Bộ luật dân sự, các quy định của Luật thương mại và
các quy định của Luật chuyên ngành (nếu có). Điều này, giúp cho các bên khi
thỏa thuận nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa không có những thỏa
thuận vi phạm pháp luật, bị vô hiệu. Mặt khác, việc nắm vững các quy định
pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa còn giúp các bên thỏa thuận được
Do chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân và
hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu dưới dạng văn bản nên
trong hợp đồng mua bán hàng hóa thường có cả: chủ thể của hợp đồng và người
ký hợp đồng.
Trường hợp thứ nhất: nếu chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa là cá
nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự. Người ký hợp đồng mua bán hàng
hóa phải phải là chính chủ thể của hợp đồng hoặc là người được chủ thể của
hợp đồng ủy quyền hợp pháp.
Trường hợp thứ hai: nếu chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa là pháp
nhân thì chủ thể của hợp đồng mua bán phải có năng lực pháp luật dân sự (đối
với pháp nhân); người ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải có năng lực
hành vi dân sự và phải là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền
hợp pháp của pháp nhân.
Pháp nhân có năng lực pháp luật dân sự khithỏa mãn các điều kiện: được
thành lập hợp pháp, phải được phòng đăng ký kinh doanh nơi đặt trụ sở cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, phải đang hoạt động; trong trường hợp
kinh doanh các mặt hàng có điều kiện thì phải được các cơ quan chức năng có
thẩm quyền theo quy định cấp giấy phép đủ điều kiện khi kinh doanh ngành,
nghề có điều kiện.
18
Cá nhân có năng lực hành vi dân sự khi thỏa mãn các điều kiện: có khả
năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình; đủ 18 tuổi trở lên, không bị mắc
các bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và khả năng
điều khiển hành vi; không bị Tòa án tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành
vi dân sự.
1.3.2. Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của
pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
nước có thẩm quyền để thực hiện việc sang tên, chuyển quyền sở hữu từ bên
bán cho bên mua. Ví dụ như quy định của pháp luật về giao dịch nhà ở, nhà
chung cư tại thông tư số 03/2014/TT-BXD về việc Sửa đổi, bổ sung Điều 21
của Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01 tháng 9 năm 2010 của Bộ Xây
dựng quy định cụ thể và hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số
71/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở quy định về hình thức của hợp đồng mua bán
nhà ở, nhà chung cư như sau:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 21 của Thông tư số
16/2010/TT-BXD như sau:
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Các giao dịch về nhà ở phải được lập thành văn bản (gọi chung là hợp
đồng về nhà ở) có các nội dung quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở, Bộ Luật
dân sự, Điều 63 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP, tuân thủ các hợp đồng mẫu
và nội dung của hợp đồng về nhà ở quy định tại các phụ lục ban hành kèm theo
Thông tư này.
Đối với hợp đồng mua bán nhà ở của doanh nghiệp kinh doanh bất động
sản thì các bên phải lập thành bốn bản, một bản người mua lưu giữ, ba bản còn
lại để chủ đầu tư làm thủ tục nộp thuế, lệ phí trước bạ, làm thủ tục cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với