Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế thi hành án dân sự ở việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ ANH TUẤN

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ ANH TUẤN

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 62380103


: Bộ luật Dân sự

BLTTDS

: Bộ luật Tố tụng dân sự

CHV

: Chấp hành viên

HĐND

: Hội đồng nhân dân

LTHADS

QSDĐ

: Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được
sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014
: Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày
18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi
hành án dân sự
: Quyền sử dụng đất

TAND

: Tòa án nhân dân


MỞ ĐẦU
8
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
26
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƯỠNG CHẾ THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ
26
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của cưỡng chế thi hành án dân sự
1.2. Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định pháp luật về cưỡng
chế thi hành án dân sự
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá hiệu quả cưỡng chế thi
hành án dân sự
1.4. Các nguyên tắc cưỡng chế thi hành án dân sự
1.5. Sự hình thành và phát triển các quy định về cưỡng chế thi hành án
dân sự ở Việt Nam
1.6. Kinh nghiệm lập pháp của một số nước trên thế giới về cưỡng chế
THADS và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở
VIỆT NAM
2.1. Thực trạng pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự

38
43
52
55
65
71

168
172


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
THADS có vai trò quan trọng trong việc góp phần đảm bảo hiệu lực thi hành
bản án, quyết định dân sự của Toà án và quyết định của Trọng tài thương mại, Hội
đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. “Đây là công đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng,
bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành nghiêm chỉnh, góp
phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã
hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước” [12, tr.1]. Để hiện thực
hóa các quyền, nghĩa vụ đã ghi nhận trong bản án, quyết định của Tòa án cũng như
quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền được thi hành theo thủ tục THADS
thì bên cạnh việc thuyết phục đương sự tự nguyện THA, trong nhiều trường hợp cần
phải áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS. Tuy nhiên, cưỡng chế THADS trực tiếp
tác động đến quyền về tài sản, về nhân thân của người phải THA và những người có
liên quan, làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể.
Do vậy, các quy định về cưỡng chế THADS cần phải đáp ứng tiêu chí về bảo đảm
hiệu quả của việc THA, chống lại hành vi trốn tránh, cản trở, chống đối, trì hoãn
việc THA đồng thời phải bảo đảm tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ
thể có liên quan. Các quy định về biện pháp, trình tự, thủ tục cưỡng chế THADS
cần được quy định phù hợp với tính chất của từng nghĩa vụ phải thi hành. Việc
nghiên cứu cho thấy về cơ bản các quy định về cưỡng chế THADS được pháp luật
Việt Nam ghi nhận và bảo đảm thực hiện trên thực tế. Trước đây, trong các Pháp
lệnh THADS năm 1989, 1993 và Pháp lệnh THADS năm 2004 đều có quy định về
cưỡng chế THADS. Tuy nhiên, quy định về cưỡng chế THADS tại các pháp lệnh
này còn chưa đầy đủ, thiếu tính cụ thể và hệ thống. Trên cơ sở kế thừa và phát triển

THADS; hàng năm nhiều CHV bị kỷ luật vì vi phạm pháp luật trong khi tiến hành
cưỡng chế THADS, nhiều vụ việc vi phạm dẫn đến phải xử lý, khắc phục hậu quả
rất phức tạp, phải bồi thường thiệt hại với số tiền rất lớn, bị truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với CHV cơ quan THADS. Nhiều vụ việc cưỡng chế THADS không
thành công, phải huy động lực lượng lớn, với những chi phí rất tốn kém; kết quả
cưỡng chế THADS trong nhiều vụ việc chưa thực sự bảo vệ quyền lợi của các
đương sự, nhất là trong trường hợp kê biên, bán đấu giá tài sản, thời gian tiến hành
cưỡng chế THADS kéo dài. Nhiều trường hợp người phải THA chống đối quyết liệt
việc cưỡng chế THADS, cố tình chây ỳ, tẩu tán tài sản, thậm chí là hủy hoại tài sản
đã kê biên hoặc tự thiêu để cản trở cưỡng chế THADS. Thực trạng trên đòi hỏi phải
có sự nghiên cứu sâu sắc về cưỡng chế THADS dưới cả dưới góc độ lý luận, luật
thực định và thực tiễn thực hiện nhằm làm rõ cơ sở khoa học của việc xây dựng các
quy định về cưỡng chế THADS, đánh giá đúng thực trạng pháp luật và đề ra giải
pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả cưỡng chế THADS ở Việt Nam.
Xét theo góc độ đường lối của Đảng về cải cách tư pháp thì nâng cao hiệu
quả công tác cưỡng chế THADS, hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế THADS là một
trong những nội dung quan trọng của cải cách tư pháp được đề cập tại nhiều văn


3
bản của Đảng, như: Nghị quyết Trung ương 8 Khoá VII, Nghị quyết Trung ương 3
Khoá VIII, Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IX. Nghị quyết số 08-NQ/TW
ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Chín của Ban chấp hành Trung
ương Đảng Khoá IX tiếp tục xác định “đẩy mạnh đổi mới tổ chức và hoạt động của
các cơ quan tư pháp...tập trung thực hiện tốt công tác THA, nhất là THADS, khắc
phục cơ bản tình trạng tồn đọng kéo dài”, Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày
23/11/2012 của Quốc hội khóa XIII “về công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp
luật và tội phạm, công tác của VKSND tối cao, của TAND tối cao và công tác THA
năm 2013” và Nghị quyết số 111/2015/QH13 ngày 27/11/2015 “về công tác phòng,

2. Mục đích nghiên cứu đề tài Luận án
Luận án hướng tới mục đích nghiên cứu một cách hệ thống các vấn đề lý
luận cơ bản về cưỡng chế THADS cũng như thực tiễn thực hiện cưỡng chế THADS,
xây dựng được khái niệm và làm rõ đặc điểm, ý nghĩa, nguyên tắc cưỡng chế
THADS, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả cưỡng chế THADS, các tiêu chí đánh
giá hiệu quả cưỡng chế THADS.
Luận án còn hướng tới việc làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam về cưỡng
chế THADS chỉ ra những hạn chế, bất cập trong những quy định của pháp luật hiện
hành về cưỡng chế THADS và những hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện các
quy định đó trong thực tiễn cưỡng chế THADS ở Việt Nam. Trên cơ sở phân tích,
làm rõ các nội dung về lý luận, thực tiễn cũng như những hạn chế, bất cập trong
pháp luật và thực tiễn cưỡng chế THADS, Luận án làm rõ yêu cầu và giải pháp
nâng cao hiệu quả cưỡng chế THADS ở Việt Nam.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án
Để đạt được mục đích nghiên cứu, Luận án hướng tới đạt được các nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
- Xác định đúng đắn và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về cưỡng chế
THADS.
- Phân tích, đối chiếu với lý luận để đánh giá thực trạng các quy định của
pháp luật Việt Nam hiện hành về cưỡng chế THADS và khảo sát, đánh giá thực tiễn
thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS, từ đó xác định những vướng mắc, bất
cập và nguyên nhân làm tiền đề cho việc đề xuất giải pháp bảo đảm hiệu quả của
cưỡng chế THADS.
- Xác định rõ các yêu cầu đặt ra đối với công tác cưỡng chế THADS, trên cơ
sở đó đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế
THADS và tổ chức thực hiện để bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các
chủ thể, nâng cao hiệu quả cưỡng chế THADS ở Việt Nam.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án tập trung vào những vấn đề sau:

- Việc nghiên cứu về thực tiễn công tác cưỡng chế THADS chủ yếu được
tiến hành trên thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về
cưỡng chế THADS trong thời gian từ khi có Luật THADS năm 2008 đến thời điểm
30/9/2016.
5. Phương pháp nghiên cứu
Các nội dung trong Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp
luận đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước và pháp luật; công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế THADS
phải quán triệt, tuân theo các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về
cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, vì thế các
kiến nghị hoàn thiện pháp luật được xuất phát và thực hiện dựa trên những quan


6
điểm chỉ đạo đó. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài Luận án còn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác, như: phân tích, chứng minh,
so sánh, diễn giải và phương pháp xã hội học, khảo sát thực tế tại một số cơ quan
THADS, sử dụng kết quả thống kê của Chính phủ, Bộ Tư pháp, cơ quan THADS và
một số cơ quan khác để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu trong Luận án.
Hệ thống các phương pháp nghiên cứu trong Luận án được sử dụng linh
hoạt, có sự kết hợp giữa các phương pháp nghiên cứu tùy theo từng nội dung nghiên
cứu, từng vấn đề nghiên cứu và từng phần nghiên cứu được triển khai trên thực tế;
do đó, các phương pháp nghiên cứu được đồng thời sử dụng, có sự kết hợp chứ
không áp dụng vào Luận án một cách rời rạc, tách biệt, hết phương pháp này mới áp
dụng phương pháp khác; phương pháp logic và hệ thống bảo đảm tính nhất quán,
liên thông giữa các nội dung, các chương, tiết của Luận án. Tuy nhiên, phương pháp
nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong phần tổng quan về vấn đề nghiên cứu và
từng chương của Luận án khác nhau:
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp thống kê để
phát hiện một cách đầy đủ các công trình nghiên cứu có liên quan đến Luận án;

chế, tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong cưỡng chế THADS, cả
về pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS.
- Đưa ra những yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả cưỡng chế THADS ở
Việt Nam, với 05 yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của
công dân; huy động sự tham gia tích cực của các cơ quan, tổ chức, cá nhân vào hoạt
động cưỡng chế THADS; phù hợp và phục vụ đường lối đổi mới, chủ trương cải
cách hành chính, cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước; đồng bộ, có tính khả thi
và 03 nhóm giải pháp về hoàn thiện pháp luật, tổ chức thực hiện cưỡng chế
THADS, bảo đảm các điều kiện cần thiết để cưỡng chế THADS.
7. Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên cứu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục, Luận án được trình bày với kết cấu gồm 03 chương như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cưỡng chế thi hành án dân sự
- Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng
chế thi hành án dân sự ở Việt Nam
- Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả cưỡng chế thi hành án
dân sự ở Việt Nam.


8
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Khái quát về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án
Trên diễn đàn nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài đã có nhiều
công trình nghiên cứu thể hiện dưới dạng đề tài khoa học, luận án, luận văn, sách,
bài đăng tạp chí chuyên ngành, hội thảo bình luận, đánh giá liên quan đến cưỡng
chế THADS. Các công trình đã công bố gần đây được Nghiên cứu sinh nghiên cứu
là cơ sở quan trọng để phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu của các công trình và
hệ thống các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án cần giải quyết. Trong số
các công trình đã công bố, có nhiều công trình nổi bật có nội dung khá sâu về cưỡng

- “Sổ tay CHV", TS Lê Thu Hà (chủ biên), NXB Thống Kê, Hà Nội, 2009.
- “Xử lý tình huống trong THADS và các văn bản pháp luật về THADS”,
Nguyễn Thanh Thuỷ - Lê Thị Kim Dung (chủ biên), NXB Tư pháp, Hà Nội, 2010.
- “Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật THADS Việt Nam”, Lê Thu Hà,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
1.1.4. Bài đăng tạp chí
- “Thử bàn mấy vấn đề lý luận về THA” của PGS, TS Lê Minh Tâm, Tạp
chí Luật học số 2/2001.
- “Đánh giá các quy định pháp luật về THADS hiện hành trong mối quan hệ
với hệ thống pháp luật” của tác giả Lê Thị Hoàng Thanh, Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật, Số chuyên đề “Thực hiện Luật THADS”, 2012.
- “Bàn về quan hệ phối hợp giữa cơ quan THA với các cơ quan hữu quan
trong THADS”, Thạc sĩ Lê Thị Lệ Duyên, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số
01/2013.
1.2. Các công trình trong nước có nội dung chuyên sâu về cưỡng chế
THADS
1.2.1. Luận án, luận văn
- "Các biện pháp cưỡng chế THADS, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn
thiện” của tác giả Nguyễn Công Long, Luận án Thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2000.
- "Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản trong THADS", Nguyễn Thanh
Phương, Luận văn Thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2011.
1.2.2. Giáo trình, sách chuyên khảo
- “Luật THADS Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn", TS. Nguyễn
Công Bình (chủ biên), NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2007.
- “Cưỡng chế THADS; khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về
THADS theo quy định của Luật THADS năm 2008”, ThS. Lê Anh Tuấn và ThS.
Bùi Công Quang, Đặc san tuyên truyền pháp luật số 6/2009, Hội đồng phối hợp
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ.
- “Giáo trình Kỹ năng THADS”, TS. Lê Thu Hà (chủ biên), Học viện Tư
pháp, NXB Tư pháp, Hà Nội, 2012.
- “Một số vấn đề lưu ý chung về cưỡng chế THADS” của tác giả Tuấn Lê,
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề THADS, 2010.
1.3. Tài liệu nước ngoài
- “Một số tình huống THA thảo luận”, Tài liệu Khóa học do SIDA Thụy
Điển tài trợ, tháng 4/2003, Mr. Eugene Palme, phụ trách cơ quan thuế của Thụy
Điển và Mss. Monica Burman, giảng viên Khoa luật, Trường đại học tổng hợp
UMEA Thụy Điển, Sổ tay CHV, Cục THADS, Bộ Tư pháp.
- “Báo cáo và các đề xuất của STAR Việt Nam về dự thảo Bộ luật THA của
nước cộng hòa XHCN Việt Nam”, James F. Harrigan - Chuyên gia tư vấn pháp lý
cho Cơ quan THA San Francisco, California, Hoa Kỳ, tháng 3/2005.
- “Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc lựa chọn mô hình tổ chức

hành dân sự Nhật Bản”, Mitani Takayuki, Giáo sư Khoa nghiên cứu luật, Đại học
Kagawa Nhật Bản, Tài liệu hợp tác của Tổ chức JICA Nhật Bản, ngày 11/01/2013.
- “Bán” và “Phân chia” trong cưỡng chế thi hành, Giáo sư Sakai, Đại học
Nagoya Nhật Bản, Tài liệu hợp tác của Tổ chức JICA Nhật Bản, tháng 01/2013.
2. Phân tích, đánh giá về sự liên quan của các công trình đã công bố với
đề tài Luận án
Nhìn chung, các công trình đã công bố nêu trên đề cập đến nhiều khía cạnh
khác nhau của lý luận và thực tiễn về THADS, trong đó có cưỡng chế THADS,
như: vị trí, vai trò, thực trạng và phương hướng, giải pháp đổi mới tổ chức, hoạt
động THA nói chung, THADS nói riêng; khái niệm, bản chất THADS; khái niệm,
đặc điểm, nội dung pháp luật THADS; đặc trưng và các loại hình THA; vai trò,
nguyên tắc của THADS; mô hình tổ chức và hoạt động THADS; tiêu chí, quan
điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật THADS, các biện pháp bảo đảm, cưỡng chế


12
THADS và một số vấn đề lý luận và thực tiễn cưỡng chế THADS. Phân tích, đánh
giá các công trình đã đề cập đến lý luận và thực tiễn cưỡng chế THADS cho thấy
những nội dung cơ bản sau đây liên quan đến đề tài Luận án:
2.1. Sự liên quan của các công trình đã công bố đến lý luận về cưỡng chế
THADS
- Về khái niệm cưỡng chế THADS: ThS. Nguyễn Công Long trong Luận án
tốt nghiệp Thạc sĩ luật ở thời điểm năm 2000 cho rằng “Cưỡng chế THADS là các
biện pháp được pháp luật quy định, thể hiện quyền lực của Nhà nước, do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền áp dụng, nhằm buộc người phải THA thi hành đúng bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án” [35, tr.26]. Xuất phát từ cách
hiểu cưỡng chế THADS theo nghĩa hẹp là các biện pháp cưỡng chế cụ thể được
pháp luật quy định, tác giả Hoàng Thọ Khiêm cho rằng “cưỡng chế THADS là các
biện pháp được pháp luật quy định, do cơ quan THA áp dụng, nhằm buộc người
phải THA thi hành đúng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án”

để thu hồi tiền THA đã chi trả không đúng cho người khác. Với cách tiếp cận như
đã nêu trên dẫn đến chưa thể hiện chính xác và đầy đủ nội hàm của khái niệm
cưỡng chế THADS.
- Về đặc điểm của cưỡng chế THADS: Theo tác giả Nguyễn Công Long thì
cưỡng chế THADS có 05 đặc điểm: Là quyền năng đặc biệt của Nhà nước, là một
nguyên tắc cơ bản trong THADS, đối tượng cưỡng chế THADS là tài sản hoặc hành
vi của người phải THA, người phải THA phải chịu mọi chi phí về cưỡng chế và
hiệu lực của quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế có giá trị bắt buộc đối với
người phải THA [35, tr.26-28]. Tuy nhiên, trong số 05 đặc điểm mà tác giả Nguyễn
Công Long đưa ra thì có đặc điểm không còn phù hợp với pháp luật hiện nay. Ví dụ
đặc điểm "người phải THA phải chịu mọi chi phí về cưỡng chế" là chưa phù hợp
bởi vì theo quy định của LTHADS thì trong một số trường hợp người được THA
hoặc Ngân sách Nhà nước phải chịu chi phí cưỡng chế THADS. Mặt khác, trong
bối cảnh xã hội hóa THADS hiện nay thì đặc điểm về chủ thể cưỡng chế là CHV (đại
diện cho cơ quan THADS) không phù hợp vì TPL cũng có thẩm quyền cưỡng chế
THADS.
- Về ý nghĩa của cưỡng chế THADS: Mặc dù đã có công trình đề cập đến ý
nghĩa của áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS nhưng không nhiều công trình
phân tích sâu, làm rõ ý nghĩa của cưỡng chế THADS. Có quan điểm cho rằng đã nói
đến THA là nói đến cưỡng chế, vì vậy trong quá trình THA, biện pháp cưỡng chế
phải xem là biện pháp chính, còn biện pháp giáo dục thuyết phục chỉ là biện pháp
hỗ trợ [35, tr.21-22]. Quan điểm này xuất phát từ lý do quá trình giáo dục thuyết
phục đã được thực hiện ở giai đoạn xét xử của Tòa án, còn sau khi bản án đã có
hiệu lực pháp luật thì phải thực hiện theo đúng quy định của Hiến pháp; những vụ
việc mà cơ quan THA phải tổ chức cưỡng chế thi hành chiếm tỷ lệ tương đối lớn,
mỗi năm có đến hàng nghìn vụ việc cưỡng chế THADS; hơn nữa sau khi bản án,
quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành nhưng chậm được thi hành là chưa đảm
bảo nguyên tắc pháp chế XHCN.



Nội do TS. Nguyễn Công Bình (chủ biên) đưa ra khái niệm "biện pháp cưỡng chế
THADS là biện pháp THADS dùng quyền lực của Nhà nước buộc người phải THA
thực hiện nghĩa vụ THADS của họ, do CHV áp dụng trong trường hợp người phải
thi hành có điều kiện thi hành mà không tự nguyện THA”[34, tr.195]. Một số công
trình nêu khái niệm về từng biện pháp cưỡng chế THADS như khái niệm về biện
pháp cưỡng chế kê biên tài sản; thu hồi, xử lý giấy tờ có giá; cưỡng chế giao vật,


15
giao nhà, trả lại tài sản khác và QSDĐ; cưỡng chế buộc thực hiện hoặc không được
thực hiện công việc nhất định [34, tr.26-28]. Về đặc điểm của biện pháp cưỡng chế
THADS: Cuốn “Giáo trình Luật THADS Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà
Nội do TS. Nguyễn Công Bình (chủ biên) cho rằng biện pháp cưỡng chế THADS
có 05 đặc điểm: Thứ nhất, thể hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được bảo
đảm thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước; thứ hai, được CHV áp dụng trong
trường hợp người phải THA không tự nguyện THA nhằm buộc họ phải thực hiện
nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của Tòa án; thứ ba, đối tượng của biện
pháp cưỡng chế THADS là tài sản hoặc hành vi của người phải THA; thứ tư, khi áp
dụng biện pháp cưỡng chế THADS, người bị áp dụng ngoài việc phải thực hiện các
nghĩa vụ trong bản án, quyết định do Tòa án tuyên họ còn phải chịu mọi chi phí
cưỡng chế THADS; thứ năm, các biện pháp cưỡng chế được CHV quyết định áp
dụng không những có hiệu lực đối với người phải THADS mà còn có hiệu lực cả
đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan [34, tr.198-199]. Các biện pháp
cưỡng chế THADS là công cụ quan trọng để bảo vệ triệt để quyền, lợi ích hợp pháp
của người được THA, bởi lẽ các biện pháp cưỡng chế THADS được áp dụng sẽ
buộc người phải THA phải thực hiện một cách thực tế, đầy đủ nghĩa vụ dân sự của
họ, từ đó thực sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của người được THA; trong
chừng mực nào đó thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS còn có ý nghĩa
kết thúc việc THA, tránh cho người phải THA không phải chịu những phí tổn về
tiền lãi suất do chậm THA đem lại. Ngoài hai ý nghĩa trên, việc áp dụng biện pháp

pháp cưỡng chế THADS theo quy định tại Pháp lệnh THADS năm 1989, 1993,
2004 và Luật THADS năm 2008 có sự thay đổi nhất định nhưng đều có phân loại và
quy định thành các biện pháp cưỡng chế THADS. Hầu hết các tác giả cho rằng có
06 biện pháp cưỡng chế THADS gồm: (1) Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử
lý tiền, giấy tờ có giá của người phải THA, (2) Trừ vào thu nhập của người phải
THA, (3) Kê biên, xử lý tài sản của người phải THA, kể cả tài sản đang do người
thứ ba giữ, (4) Khai thác tài sản của người phải THA, (5) Buộc chuyển giao vật,
chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ, (6) Buộc người phải THA thực hiện hoặc không
được thực hiện công việc nhất định; căn cứ vào tính chất của từng loại biện pháp
cưỡng chế, đồng thời căn cứ vào tính chất của loại nghĩa vụ phải thi hành của người
phải THA để phân chia thành 03 nhóm biện pháp cưỡng chế THADS: Thứ nhất,
nhóm biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ trả tiền (gồm có các biện pháp trừ vào
tài khoản, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền của người phải THA ở ngân hàng, tổ
chức tín dụng, kho bạc nhà nước hoặc do người thứ ba giữ; trừ vào thu nhập của
người phải THA; kê biên và bán tài sản của người phải THA). Thứ hai, nhóm biện
pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ giao tài sản (gồm có các biện pháp cưỡng chế
giao đồ vật, cưỡng chế trả nhà, cưỡng chế chuyển QSDĐ). Thứ ba, nhóm các biện
pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc làm hoặc không được làm công việc nhất
định (gồm có các biện pháp cưỡng chế buộc phải làm công việc nhất định, cưỡng
chế không được làm công việc nhất định) [33, tr.207-208]. Về thủ tục áp dụng biện
pháp cưỡng chế THADS, Cuốn giáo trình đào tạo nguồn CHV do tác giả Lê Thu Hà


17
(chủ biên) đề cập đến thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS với trình tự khá
chi tiết của từng biện pháp cưỡng chế THADS.
- Về lược sử pháp luật THADS Việt Nam về cưỡng chế THADS: Trong Luận
án của Thạc sĩ Nguyễn Công Long đã khái quát về lược sử của chế định cưỡng chế
THADS trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử từ trước Cách mạng tháng
Tám năm 1945 đến năm 2000, khẳng định một trong những thuộc tính chung của


18
người phải THA phải thanh toán nghĩa vụ. Để đảm bảo hiệu quả của việc cưỡng chế
THA, trong trường hợp người phải THA không hoàn thành nghĩa vụ bằng tiền và
khó xác định được tài sản của người phải THA, người được THA có thể yêu cầu
Tòa án ra lệnh cho người phải THA cung cấp danh mục tài sản, trong đó nêu rõ
danh mục nào thuộc sở hữu của người phải THA. Nếu người phải THA không tuân
thủ lệnh của Tòa hoặc cung cấp danh mục giả thì người phải THA có thể bị phạt tù,
phạt tiền hoặc bị tạm giữ. Ngoài ra, còn có biện pháp cung cấp thông tin cho các tổ
chức tài chính về tình trạng THA của người phải THA để buộc người phải THA có
trách nhiệm phải thi hành. Tòa án, theo yêu cầu của người được THA sẽ điều tra nơi
các cơ quan lưu trữ thông tin về bất động sản hoặc tài sản tài chính của người phải
THA dưới hình thức dữ liệu điện tử [9, tr.389].
Tuy nhiên, nhiều nội dung về cưỡng chế THADS theo quy định của pháp
luật cũng như thực tiễn thực hiện ở nước ngoài chưa được các công trình phản ánh
sâu sắc nên cần được tiếp tục nghiên cứu, như: Chủ thể tiến hành cưỡng chế, các
biện pháp cưỡng chế THADS.
2.2. Sự liên quan của các công trình đã công bố đến thực trạng pháp luật
và thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS
Một số công trình đã phản ánh thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện
pháp luật về cưỡng chế THADS với những số liệu khá cụ thể ở một số địa phương
và toàn quốc ở một số năm, đưa ra những sai sót, vi phạm mang tính điển hình trong
cưỡng chế THADS ở Việt Nam. Có công trình nhận xét, đánh giá quá trình thực
hiện cưỡng chế THADS đối với vụ việc cụ thể trong cưỡng chế trả giấy tờ từ thực
tiễn cưỡng chế THADS đề xuất, kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật và biện
pháp tăng cường, nâng cao hiệu quả thực hiện cưỡng chế THADS.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào phản ánh đầy đủ thực trạng pháp luật và
thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS, với số liệu cưỡng chế THADS
đối với tất cả các biện pháp cưỡng chế THADS trong phạm vi toàn quốc. Mặt khác,
các công trình nghiên cứu đã đề cập ở trên cũng chủ yếu phân tích về cưỡng chế thi

giả Bùi Văn Tấn trong bài “Một số vướng mắc trong việc kê biên, bán đấu giá
QSDĐ nông nghiệp ở Đồng Tháp” kiến nghị trong trường hợp người được THA
đề nghị kê biên, bán đấu giá QSDĐ nông nghiệp thì phải tạm ứng chi phí cho việc
đo đạc, kê biên, thẩm định giá và chi phí thông báo bán đấu giá; trong trường hợp
cần thiết, CHV có thể kê biên, bán đấu giá diện tích đất phù hợp với tập quán canh
tác và các quy định khác ở địa phương nhằm tạo thuận lợi cho người có nhu cầu
mua QSDĐ nông nghiệp bị cưỡng chế kê biên, bán đấu giá để THA. Tuy nhiên
chưa có công trình nào đưa ra tổng thể, đầy đủ các yêu cầu và giải pháp nâng cao
hiệu quả cưỡng chế THADS ở Việt Nam.
3. Hệ thống những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận án
Từ kết quả phân tích, đánh giá các công trình đã công bố, Nghiên cứu sinh
đưa ra hệ thống những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận án, gồm:
3.1. Một số vấn đề lý luận về cưỡng chế THADS



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status