BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ THỊ NHÀN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60380108
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Phương Lan
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự
nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và
hướng dẫn của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè trong suốt khóa học cũng
như thời gian nghiên cứu đề tài luận văn.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến TS. Vũ Thị Phương Lan – cô giáo kính mến đã hết lòng giúp đỡ,
tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn
của mình.
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám
1.3. Vai trò của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam .................18
1.4. Pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài
làm việc tại Việt Nam ..........................................................................................20
1.4.1. Xung đột pháp luật và phương pháp giải quyết xung đột pháp luật.....20
1.4.2. Nguyên tắc điều chỉnh.............................................................................22
1.4.3. Nguồn luật điều chỉnh.............................................................................26
1.5. Lịch sử về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và pháp luật
điều chỉnh vấn đề này ..........................................................................................28
1.5.1. Giai đoạn trước khi có Bộ luật Lao động ...............................................28
1.5.2. Giai đoạn từ khi có Bộ luật Lao động đến nay ......................................30
Kết luận chương 1 ...................................................................................................33
Chương 2: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI
LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM ..............................34
2.1. Điều ước quốc tế Việt Nam là thành viên điều chỉnh quan hệ lao động
của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam .....................................34
2.1.1. Điều ước quốc tế của Tổ chức Lao động quốc tế và Liên hợp quốc về
lao động mà Việt Nam là thành viên ................................................................34
2.1.2. Điều ước quốc tế khu vực với các quốc gia trong ASEAN về hợp tác lao
động ....................................................................................................................36
2.1.3. Các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới về lao động mà Việt Nam
tham gia ký kết ...................................................................................................39
2.1.4. Hiệp định tương trợ tư pháp và hiệp định song phương giữa Việt Nam
và các quốc gia khác về lao động ......................................................................41
2.2. Quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ lao động của
người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam ............................................43
2.2.1. Quy định về chủ thể trong quan hệ lao động của người lao động nước
ngoài làm việc tại Việt Nam ..............................................................................45
2.2.2. Quy định về xác lập, thực hiện và chấm dứt hợp đồng lao động giữa
với dòng di chuyển của hàng hóa cũng xuất hiện sự di chuyển lao động từ Việt Nam
ra nước ngoài và ngược lại. Sự di chuyển lao động này có tác động mạnh mẽ đến sự
phát triển của kinh tế - xã hội của Việt Nam. Với những chính sách mở cửa của
chính phủ nhiều năm gần đây, Việt Nam không chỉ là một nước xuất khẩu lao động
ra nước ngoài mà còn là một nước thu hút lao động nước ngoài đến làm việc và tìm
kiếm cơ hội phát triển. Số lượng lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có
xu hướng ngày một tăng cao, rất đa dạng về quốc tịch, nghề nghiệp, trình độ, độ
tuổi,.... Lao động nước ngoài có thể bù đắp những thiếu hụt về lao động trong nước,
đem lại những kỹ năng, kinh nghiệm hữu ích và đóng góp một phần không nhỏ cho
nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, ngoài những tác động tích cực như kể trên thì lao
động nước ngoài làm việc tại Việt Nam còn đặt ra nhiều vấn đề, hạn chế về thị
trường lao động, về công tác quản lý và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và xã
hội, đặc biệt là vấn đề lao động nước ngoài nhập cư bất hợp pháp.
Những quy định của pháp luật lao động hiện tại tuy đã ngày càng hoàn thiện,
góp phần không nhỏ giúp các cơ quan nhà nước quản lý lao động nước ngoài nhưng
vẫn chưa bao quát, toàn diện và xuất hiện một vài điểm hạn chế, bất cập. Mục tiêu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa đã gia tăng sự phức tạp, biến động
của vấn đề lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Đặc biệt là trong bối cảnh
Việt Nam đã tham gia, ký kết các Hiệp định hợp tác thương mại thế hệ mới (Hiệp
định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam –
EU...), việc gia nhập các công ước cơ bản về lao động di trú của Liên hợp quốc và
việc hoàn thiện, sửa đổi các quy định pháp luật lao động để phù hợp với các cam kết
quốc tế là điều cần thiết hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam đã được nhận được
sự quan tâm của các chuyên gia pháp lý, chuyên gia kinh tế. Đây không phải vấn đề
mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế
giới năm 2007, nhưng vấn đề này mới chỉ được các nhà khoa học tập trung nghiên
nước ngoài tại Việt Nam”- Luận văn thạc sỹ của Phạm Thị Hương Giang năm
2015…
3
Ở cấp độ sách chuyên khảo đề cập đến lao động nước ngoài làm việc tại Việt
Nam, có cuốn sách Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam của Khoa
Luật-Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Lao động xã hội năm 2011...
Các công trình trên đã có nhiều thành tựu và kết quả nhất định khi nghiên cứu
về vấn đề lao động nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên hiện nay, chưa có công
trình nào đề cập đến pháp luật điều chỉnh vấn đề người lao động nước ngoài làm
việc tại Việt Nam, bao gồm cả pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, đặc biệt
thời điểm hiện tại Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định thương mại liên quan đến các
cam kết lao động. Vì vậy, kế thừa những thành tựu đã đạt được của các công trình
nghiên cứu đi trước, luận văn này tiếp tục nghiên cứu toàn diện về pháp luật điều
chỉnh vấn đề người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, do người lao động nước ngoài hiện nay làm việc tại Việt Nam theo rất
nhiều hình thức khác nhau, phạm vi nghiên cứu của luận văn sẽ tập trung phân tích,
đánh giá các quy định pháp luật quốc tế điều chỉnh vấn đề lao động nước ngoài mà
Việt Nam tham gia, ký kết và quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về người
lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo hình thức hợp đồng lao động. Từ
những đánh giá đó, tác giả đề xuất một vài giải pháp để hoàn thiện quy định về
người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Luận văn có mục tiêu nghiên cứu tổng quát là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận
và thực trạng người lao động nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam hiện nay.
giải pháp khắc phục, sửa đổi bổ sung.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn đã phân tích và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
pháp luật điều chỉnh người lao động nước ngoài và quan hệ lao động của người lao
động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Từ những phân tích của luận văn có thể rút
ra những kết luận cần thiết, những ý kiến đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện quy
định pháp luật về người lao động nước ngoài tại Việt Nam, các biện pháp khác để
quản lý tốt hơn lực lượng lao động nước ngoài và áp dụng có hiệu quả các quy định
pháp luật trong thực tiễn đời sống.
5
8. Bố cục của luận văn
Ngoài mục lục, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về người lao động nước ngoài làm
việc tại Việt Nam
Chương 2: Pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước
ngoài làm việc tại Việt Nam
Chương 3: Thực trạng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và một số
giải pháp hoàn thiện pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm của người lao động nước ngoài và quan hệ lao động
đang được người sử dụng lao động của mình thực hiện tại quốc gia đó;
8
- Nhân công lao động chuyên dụng: chỉ những lao động di trú mà được người
sử dụng lao động của mình cử đến quốc gia nơi có việc làm trong một khoảng thời
gian hạn chế nhất định để đảm nhiệm một công việc hoặc nhiệm vụ cụ thể mang
tính chuyên môn kỹ thuật ở quốc gia nơi có việc làm;
- Nhân công tự chủ: chỉ những lao động di trú tham gia làm một công việc có
hưởng lương nhưng không phải dưới dạng hợp đồng lao động mà thường là bằng
cách làm việc độc lập hoặc cùng với các thành viên gia đình của mình, hoặc dưới
các hình thức khác mà được coi là nhân công tự chủ theo pháp luật của quốc gia nơi
có việc làm hoặc theo các hiệp định song phương và đa phương
Thêm vào đó, nhằm làm rõ hơn khái niệm người lao động di trú, dựa trên tiêu
chí nghề nghiệp, điều 3 Công ước đã liệt kê các đối tượng không được coi là lao
động di trú, bao gồm các dạng chính sau:
- Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi các cơ quan và tổ chức quốc tế,
hoặc bởi một nước sang một nước khác để thực hiện các chức năng chính thức;
- Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi một nước hoặc người thay mặt
cho nước đó ở nước ngoài tham gia các chương trình phát triển và chương trình hợp
tác khác;
- Những người sống thường trú ở một nước không phải quốc gia xuất xứ để
làm việc như những nhà đầu tư;
- Những người tị nạn và không có quốc tịch;
- Sinh viên và học viên;
- Những người đi biển hay người làm việc trên các công trình trên biển không
được nhận vào để cư trú và tham gia vào một công việc có hưởng lương ở quốc gia
nơi có việc làm.
Định nghĩa về người lao động di trú trong Công ước này đã cụ thể hóa và bổ
tế của Tổng thống cũng ước tính nền kinh tế đầu tàu thế giới mỗi năm thu được
khoảng 37 tỷ USD nhờ những người nhập cư2. Năm 2011, theo ước tính của Ngân
hàng Thế giới, lao động di trú đóng góp cho nền kinh tế thế giới khoảng 440 tỷ
USD, trong đó có hơn 350 tỷ USD được chuyển giao cho các nước đang phát triển
bằng hình thức tiền gửi. Ngân hàng Thế giới cũng ước tính nếu các nước đang có
dân số giảm cho thêm 14 triệu lao động nhập cư trong khoảng thời gian từ 20012025 thì mỗi năm nền kinh tế thế giới sẽ có thêm khoảng 365 tỷ USD. Phần lớn số
2
TTXVN/Vietnam+ (2010), “Dân di cư đóng góp lớn cho nền kinh tế nước phát triển”, Vietnamplus tại địa
chỉ: ngày truy cập
25/06/2015
10
tiền này sẽ chảy về và tạo thành nguồn vốn quan trọng cho các nước đang phát
triển3. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực trên, lao động di trú có thể có
ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế xã hội nước tiếp nhận lao động. Sự xuất hiện của họ
một phần làm gia tăng sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường lao động, hạn chế cơ
hội việc làm của lao động nước tiếp nhận. Thực tế cho thấy bên cạnh phần lớn
người lao động ra nước ngoài làm việc theo các cách thức hợp pháp, một số lại đi
theo con đường bất hợp pháp như vượt biên, giả dạng khách du lịch, đi thăm nhân
thân ở nước đến rồi tìm cách ở lại,… Điều này gây ra những hệ lụy không nhỏ đến
an ninh trật tự, trị an ở những nước tiếp nhận lao động.
Trên đây là những phân tích về khái niệm, đặc điểm của lao động di trú trong
pháp luật quốc tế. Tuy vậy, không giống như pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam
không sử dụng khái niệm lao động di trú hay lao động nhập cư để chỉ người lao
động nước ngoài đến làm việc tại Việt Nam, cũng không có sự giải thích trực tiếp
nào khái niệm người lao động nước ngoài. Tuy nhiên, thông qua khái niệm người
nước ngoài có thể phần nào đưa ra định nghĩa về người lao động nước ngoài. Pháp
nước ngoài hoặc cá nhân mang quốc tịch nước ngoài tham dự thầu tại Việt Nam”
(khoản 37 Điều 4).
Những dẫn chiếu trên cho thấy pháp luật Việt Nam khi định nghĩa người nước
ngoài thường dựa trên dấu hiệu quốc tịch. Điều này cũng tương đối hợp lý bởi quốc
tịch thể hiện mối quan hệ pháp lý gắn bó nhất giữa một cá nhân và một nhà nước
nhất định, là cơ sở pháp lý để xác minh một người có phải là công dân của một
nước nào đó hay không.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm người lao động nước ngoài
tại Việt Nam là người lao động không mang quốc tịch Việt Nam, bao gồm người lao
động mang quốc tịch nước ngoài hoặc người lao động không quốc tịch, làm việc
theo các hình thức mà pháp luật quy định. Để vào làm việc tại Việt Nam, người lao
động nước ngoài phải có đủ những điều kiện nhất định quy định tại Điều 169 Bộ
luật Lao động 2012. Đó là những điều kiện về năng lực hành vi dân sự, trình độ
chuyên môn tay nghề; điều kiện sức khỏe; điều kiện về giấy phép lao động và
không phải là người phạm tội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người lao động
nước ngoài làm việc tại Việt Nam dưới nhiều hình thức khác nhau như thực hiện
hợp đồng lao động, di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp, chào bán dịch vụ,…điều
này sẽ được phân tích tại mục 1.2.2 dưới đây.
Đặc điểm của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Từ khái niệm đã phân tích ở trên, có thể thấy người lao động nước ngoài làm
việc tại Việt Nam có một số đặc điểm sau:
12
- Mục đích, hành vi rời nước ngoài đến Việt Nam: Để tìm việc làm. Mục đích
này khác với các hành vi khác của người nước ngoài đến Việt Nam như để du lịch,
học tập, thực hiện các hoạt động tình nguyện,…;
- Nhân thân: Họ là những người không mang quốc tịch Việt Nam, có quốc tịch
nước ngoài hoặc không có quốc tịch;
lao động là vấn đề sử dụng lao động.
Bộ luật Lao động 2012 không đưa ra định nghĩa về quan hệ lao động có yếu tố
nước ngoài. Tuy nhiên, căn cứ vào khoản 2 Điều 663 Bộ luật Dân sự 2015 về quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, có thể hiểu quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài
là quan hệ lao động thuộc một trong các trường hợp sau:
- Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;
- Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng
việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài;
- Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối
tượng của quan hệ đó ở nước ngoài.
Như vậy, có thể thấy quan hệ lao động của người lao động nước ngoài làm
việc tại Việt Nam thuộc một trong những trường hợp của quan hệ lao động có yếu
tố nước ngoài, cũng như là một quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài theo Bộ luật
Dân sự và thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế. Nếu các điều ước quốc
tế (đa phương, song phương) mà Việt Nam tham gia, kí kết có quy định khác thì
quan hệ lao động của người lao động nước ngoài tại Việt Nam sẽ do các điều ước
quốc tế này điều chỉnh. Nếu không thuộc các trường hợp đó, quan hệ lao động sẽ do
pháp luật lao động của Việt Nam điều chỉnh.
1.1.2.2. Đặc điểm quan hệ lao động của người lao động nước ngoài làm việc tại
Việt Nam
Quan hệ lao động của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam mang
đặc điểm chung của quan hệ lao động và có những đặc thù riêng.
- Đặc điểm chung của quan hệ lao động:
Thứ nhất, đây là quan hệ mua bán sức lao động giữa các bên có nhu cầu.
Mục tiêu của người lao động là bán sức lao động, còn mục tiêu của người sử dụng
lao động là mua sức lao động của người lao động. Trong mối quan hệ lao động giữa
người lao động và người sử dụng lao động, người lao động phải tự mình thực hiện
4
hệ lao động, các chủ thể thiết lập một mối quan hệ xã hội - pháp lý nhằm thực hiện
mục tiêu trao đổi hàng hóa sức lao động. Do đó, khách thể của quan hệ lao động có
sự tham gia của người lao động nước ngoài chính là sức lao động của người lao
động nước ngoài. Tuy nhiên thứ hàng hóa đó là đại lượng vật chất, có thật, giá trị
nhưng vô hình, tồn tại ngay trong chính bản thân người lao động. Cả hai bên trong
mối quan hệ lao động đều hướng tới sức lao động đó, với mục tiêu của người lao
15
động nước ngoài là “bán” sức lao động của mình, còn mục tiêu của người sử dụng
lao động là “mua” sức lao động. Người lao động “bán” sức lao động của mình bằng
cách làm việc để chuyển giao sức lao động, còn người sử dụng lao động bàn giao, tổ
chức quản lý người lao động là đang nhận sức lao động được người lao động
chuyển giao.
Về căn cứ phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ lao động của người lao
động nước ngoài tại Việt Nam: Cơ sở làm phát sinh quan hệ pháp luật lao động là
hành vi của các bên trong việc giao kết hợp đồng lao động. Hầu hết các quốc gia
trên thế giới đều quy định các bên trong quan hệ lao động khi xác lập các quyền và
nghĩa vụ phải dựa trên cơ sở của hợp đồng lao động. Do có sự tham gia của người
nước ngoài nên căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao
động của người lao động nước ngoài tại Việt Nam là hợp đồng lao động có yếu tố
nước ngoài. Còn thay đổi quan hệ lao động là việc thay đổi các yếu tố của quan hệ
lao động. Quan hệ lao động cũng có thể chấm dứt do nhiều cơ sở khác nhau, hợp
pháp hoặc bất hợp pháp. Quan hệ lao động của người lao động nước ngoài tại Việt
Nam phát sinh, thay đổi, chấm dứt trên lãnh thổ Việt Nam.
Thứ hai, về pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước
ngoài tại Việt Nam: Vì quan hệ lao động của người lao động nước ngoài tại Việt
Nam là đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế nên quan hệ này chịu sự điều
chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật, bao gồm pháp luật Việt Nam - nơi quan hệ lao
quan có thẩm quyền cấp phép thành lập;
- Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính
trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp;
- Tổ chức phi chính phủ nước ngoài, tổ chức quốc tế tại Việt Nam;
- Tổ chức sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật;
- Văn phòng của dự án nước ngoài hoặc của tổ chức quốc tế tại Việt Nam;
- Văn phòng điều hành của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng hợp tác
kinh doanh hoặc của nhà thầu nước ngoài được đăng ký hoạt động theo quy định
của pháp luật;
- Các tổ chức hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định của pháp luật;
- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác
xã;
- Hội, hiệp hội doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật;
17
- Hộ kinh doanh, cá nhân được phép hoạt động kinh doanh theo quy định của
pháp luật.
Người lao động nước ngoài ở Việt Nam, tùy thuộc vào năng lực, trình độ và
những điều kiện luật định khác, có thể làm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động
nào được liệt kê như trên. Đặc điểm của từng người sử dụng lao động người nước
ngoài sẽ được phân tích cụ thể tại mục 2.2.1.2 của Luận văn này.
1.2.2. Phân loại người lao động nước ngoài theo hình thức đến làm việc tại Việt
Nam
Căn cứ quy định tại Nghị định 11/2016/NĐ-CP, người lao động nước ngoài
được chia thành các loại như sau:
- Thực hiện hợp đồng lao động;
- Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp;
- Thực hiện các hợp đồng về kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo
định của pháp luật…
Người lao động nước ngoài được xem là làm việc bất hợp pháp tại Việt Nam
khi họ không có giấy phép lao động (đối với những trường hợp bắt buộc phải có
giấy phép lao động), giấy phép lao động hết thời hạn mà vẫn ở lại Việt Nam làm
việc…
Việc phân biệt lao động nước ngoài vào làm việc hợp pháp và bất hợp pháp có
ý nghĩa quan trọng bởi điều đó sẽ liên quan đến quyền lợi của người lao động nước
ngoài. Người lao động nước ngoài làm việc hợp pháp sẽ được hưởng những quyền
và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Còn trường hợp lao
động bất hợp pháp có thể bị trục xuất khỏi Việt Nam và xử phạt theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
1.3. Vai trò của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Với đà phát triển kinh tế và hội nhập như hiện nay, Việt Nam sẽ ngày càng thu
hút nhiều người lao động nước ngoài đến làm việc và sinh sống. Người nước ngoài
làm việc tại Việt Nam có nhiều vai trò tích cực có thể kể đến như sau:
- Thứ nhất, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam làm phong phú thêm
lực lượng lao động, gia tăng tính cạnh tranh trên thị trường lao động, thay đổi cơ
cấu lực lượng lao động. Việt Nam có nhiều ngành nghề lĩnh vực đòi hỏi người lao
động có kinh nghiệm và chuyên môn, trong khi đó, chất lượng của nhân lực lao
động trong nước chưa thể đáp ứng được. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy từ kết
quả khảo sát việc sử dụng lao động người nước ngoài, thực hiện bởi Diễn đàn doanh
19
nghiệp Việt Nam năm 2014. Kết quả khảo sát này cho thấy vấn đề chuyên môn kỹ
thuật và sự thiếu hụt các ứng viên Việt Nam đủ tiêu chuẩn là hai lý do chính dẫn
đến việc sử dụng lao động người nước ngoài tại Việt Nam. Đa số lao động nước
ngoài làm việc trong Bộ phận quản lý cấp cao và các phòng ban kỹ thuật, trong đó
62% lao động nước ngoài đến từ 83 công ty được khảo sát làm việc trong Ban Giám
1.4. Pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài làm
việc tại Việt Nam
Như đã phân tích ở phần 1.2 chương 1 Luận văn, người lao động nước ngoài
làm việc ở Việt Nam dưới nhiều hình thức khác nhau. Do phạm vi của luận văn là
một số vấn đề lý luận và thực tiễn về người lao động nước ngoài làm việc tại doanh
nghiệp Việt Nam theo hợp đồng lao động, phần này chỉ đề cập đến pháp luật điều
chỉnh quan hệ lao động của người lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam theo
hình thức thực hiện hợp đồng lao động với người sử dụng lao động là doanh nghiệp
Việt Nam.
1.4.1. Xung đột pháp luật và phương pháp giải quyết xung đột pháp luật
Trong tư pháp quốc tế, xung đột pháp luật là hiện tượng pháp lí xảy ra khi hai
hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau đồng thời có thể áp dụng để điều chỉnh một
quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài. Xung đột pháp luật xảy ra do có yếu
tố nước ngoài trong quan hệ tư pháp quốc tế và do sự khác nhau giữa pháp luật các
nước trên thế giới. Có hai phương pháp giải quyết xung đột pháp luật là phương
pháp thực chất và phương pháp xung đột.
Phương pháp thực chất là việc xây dựng và áp dụng các quy phạm thực chất
để giải quyết xung đột pháp luật. Quy phạm thực chất luôn bao gồm quyền và nghĩa
vụ được áp dụng trực tiếp cho các bên tham gia quan hệ mà không cần phải dẫn
chiếu đến một hệ thống pháp luật nhất định như quy phạm xung đột. Trong lĩnh vực
lao động có yếu tố nước ngoài, số lượng các quy phạm thực chất trong pháp luật
Việt Nam khá nhiều, những quy phạm đó quy định rõ ràng, cụ thể về quyền và
nghĩa vụ, điều kiện tuyển dụng,.. của người lao động nước ngoài, chẳng hạn như các
quy định tại Nghị định số 11/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều
của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Phương pháp xung đột là phương pháp sử dụng quy phạm xung đột nhằm xác
định hệ thống pháp luật nào sẽ được áp dụng để giải quyết hiện tượng xung đột
pháp luật. Trong đó, quy phạm xung đột là quy phạm pháp luật chỉ ra hệ thống pháp
luật nước nào sẽ được áp dụng để điều chỉnh một quan hệ pháp luật tư pháp quốc tế.
Chẳng hạn như trong quan hệ lao động giữa anh X là công dân nước CHDCND