Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế thi hành án dân sự ở việt nam (tt) - Pdf 42

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ ANH TUẤN

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 62380103

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


2

Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học:

Phản biện 1: TS. Nguyễn Văn Cường
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thị Quế Anh
Phản biện 3: TS. Lê Thu Hà

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp trường,
họp tại Trường Đại học Luật Hà Nội, vào hồi

hợp pháp của người được THA và quyền lợi hợp pháp của đương sự
khác trong THADS, vẫn còn không ít số việc và tiền THADS tồn
đọng hàng năm chuyển sang năm sau, một số vụ án lớn chưa được
cưỡng chế thi hành hiệu quả. Trong khi đó, công tác xây dựng, hoàn
thiện pháp luật về cưỡng chế THADS còn chậm, tổ chức cán bộ
THADS, cơ sở vật chất, trang thiết bị của cơ quan THADS còn
chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến hiệu quả cưỡng chế THADS. Nhiều quy định pháp luật về


2
cưỡng chế THADS được xây dựng chưa dựa trên những cơ sở lý
luận sâu sắc, đúng đắn và khoa học, còn có sự mâu thuẫn, chồng
chéo, chưa phù hợp với thực tiễn THADS. Tình trạng lúng túng trong
áp dụng pháp luật về cưỡng chế THADS, vi phạm trong thực hiện
cưỡng chế THADS còn diễn ra ở nhiều nơi, nhiều chủ thể tiến hành
cưỡng chế THADS, với nhiều hình thức vi phạm khác nhau, từ khâu
xác minh điều kiện cưỡng chế THADS, bảo đảm quyền yêu cầu
cưỡng chế THADS của đương sự, ra quyết định cưỡng chế THADS,
đến tổ chức việc cưỡng chế THADS, thanh toán tiền thu được từ
cưỡng chế THADS; hàng năm nhiều CHV bị kỷ luật vì vi phạm
pháp luật trong khi tiến hành cưỡng chế THADS, nhiều vụ việc vi
phạm dẫn đến phải xử lý, khắc phục hậu quả rất phức tạp, phải bồi
thường thiệt hại với số tiền rất lớn, bị truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với CHV cơ quan THADS. Nhiều vụ việc cưỡng chế THADS
không thành công, phải huy động lực lượng lớn, với những chi phí
rất tốn kém; kết quả cưỡng chế THADS trong nhiều vụ việc chưa
thực sự bảo vệ quyền lợi của các đương sự, nhất là trong trường hợp
kê biên, bán đấu giá tài sản, thời gian tiến hành cưỡng chế THADS
kéo dài. Nhiều trường hợp người phải THA chống đối quyết liệt việc

hiện nay về cưỡng chế THADS, cho phép luận chứng được các giải
pháp có tính cơ bản, lâu dài để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả thực hiện cưỡng chế THADS trong thực tiễn được bền vững là
yêu cầu cấp thiết hiện nay. Với những lý do nêu trên, việc lựa chọn
đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế THADS ở
Việt Nam” làm đề tài của Luận án nhằm làm rõ những vấn đề lý luận,
đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện để đề xuất những
giải pháp bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể


4
trong cưỡng chế THADS, nâng cao hiệu quả của hoạt động cưỡng
chế THADS là cấp thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Luận án hướng tới mục đích nghiên cứu một cách hệ thống các
vấn đề lý luận cơ bản về cưỡng chế THADS cũng như thực tiễn thực
hiện cưỡng chế THADS, làm rõ yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu
quả cưỡng chế THADS ở Việt Nam. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
tập trung vào một số vấn đề lý luận về cưỡng chế THADS, nội dung
pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS ở
Việt Nam, có sự so sánh, đối chiếu với các quy định trước đây
trong lịch sử pháp luật Việt Nam cũng như các quy định về cưỡng
chế THADS của một số nước trên thế giới, định hướng làm rõ về
mặt lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật, đặc biệt là những hạn chế,
bất cập của pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế
THADS, từ đó đưa ra các yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả
cưỡng chế THADS ở Việt Nam. Các nội dung trong Luận án được
nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận đúng đắn, khoa học của
chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp
luật, mặt khác sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học
chuyên ngành phù hợp khác như: phân tích, chứng minh, so sánh,

Ngoài phần mở đầu, tổng quan về vấn đề nghiên cứu, kết luận,
danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận án được trình bày với kết
cấu gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cưỡng chế thi hành án dân sự
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp
luật về cưỡng chế thi hành án dân sự ở Việt Nam
Chương 3:

u c u và gi i pháp nâng cao hiệu qu cưỡng chế

thi hành án dân sự ở Việt Nam


6
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trên diễn đàn nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài đã
có nhiều công trình nghiên cứu bình luận, đánh giá liên quan đến
cưỡng chế THADS.
1. S liên qu n

á

ng trình

ng bố

Một là, về sự li n quan c a các c ng tr nh đ c ng bố đến lý
luận về cưỡng chế THADS, có thể thấy hầu hết các công trình chưa
khái quát chung và dễ dẫn đến nhầm lẫn khái niệm cưỡng chế
THADS với khái niệm “biện pháp cưỡng chế THADS”, chưa thể

THADS, làm rõ các ý nghĩa của cưỡng chế THADS, luận giải cơ sở
của việc xây dựng các quy định pháp luật về cưỡng chế THADS, các
yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả cưỡng chế THADS, các nguyên tắc,
tiêu chí đánh giá hiệu quả cưỡng chế THADS, sự hình thành và phát
triển pháp luật về cưỡng chế THADS ở Việt Nam, làm rõ hơn kinh
nghiệm pháp luật nước ngoài về cưỡng chế THADS.
Thứ hai, về thực trạng pháp luật về cưỡng chế THADS ở Việt
Nam: Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về cưỡng chế THADS
ở Việt Nam để có cái nhìn khái quát nhất pháp luật về cưỡng chế
THADS; các yếu tố khác tác động đến cưỡng chế THADS; nhận diện
và làm rõ nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong pháp luật về
cưỡng chế THADS.
Thứ ba, về thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS ở
Việt Nam: Luận án phản ánh thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng
chế THADS, với những số liệu cụ thể về cưỡng chế THADS 08 năm
từ năm 2009 đến hết năm 2016 (30/9/2016) của từng biện pháp
cưỡng chế THADS và một số vụ việc cưỡng chế THADS điển hình,
hiệu quả, phức tạp, khó khăn để làm minh chứng cho những luận
điểm về sự hợp lý, những bất cập, hạn chế và nguyên nhân đối với
các biện pháp cưỡng chế THADS và thủ tục cưỡng chế THADS theo
pháp luật hiện hành ở Việt Nam.


8
Thứ tư, về

u c u và gi i pháp nâng cao hiệu qu cưỡng chế

THADS ở Việt Nam: Việc tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những giải
pháp nâng cao hiệu quả cưỡng chế THADS là một trong những

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, ặ

iểm và ý nghĩ

ưỡng hế THADS

1.1.1. Khái niệm cưỡng chế THADS
Cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước buộc tổ chức, cá nhân
nhất định phải tuân theo, đó là một phương thức sử dụng và bảo đảm
cho quyền lực nhà nước được thực hiện bởi biện pháp nhất định và do
chủ thể có thẩm quyền tiến hành. Cưỡng chế THADS bao giờ cũng sử
dụng quyền lực nhà nước để buộc cá nhân, tổ chức liên quan trực tiếp
đến việc thực hiện bản án, quyết định. Cưỡng chế THADS được đặt
ra và tiến hành với mục đích cụ thể là thi hành việc THADS nhưng
mục đích chung là thi hành nghiêm ch nh bản án, quyết định được thi
hành theo thủ tục THADS. Vì thế, cưỡng chế THADS là việc ch thể
có thẩm qu ền dùng qu ền lực nhà nước thực hiện biện pháp cưỡng
chế theo qu định c a pháp luật về THADS đối với tổ chức, cá nhân
nhằm b o đ m thi hành tr n thực tế qu ền, nghĩa vụ đ được xác
định trong b n án, qu ết định được thi hành theo th tục THADS
1.1.2. Đặc điểm của cưỡng chế THADS
- Cưỡng chế THADS thể hiện qu ền lực nhà nước, ch có cá
nhân thuộc cơ quan chức năng của Nhà nước hoặc người thuộc tổ
chức được Nhà nước trao quyền mới có thẩm quyền tiến hành cưỡng
chế THADS.
- Cưỡng chế THADS là một biện pháp THADS nhưng biện pháp
THADS thực hiện thông qua cưỡng chế THADS ch khi người phải

đúng đắn và khắc phục những hạn chế, tồn tại, vi phạm trong quá
trình điều tra, truy tố, xét xử và THADS.
1.2. Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy đị nh pháp
luật về cưỡng chế THADS


11
1.2.1. Việc xây dựng các quy định pháp luật về cưỡng chế
THADS trên cơ sở lý luận về nghĩa vụ dân sự
1.2.2. Việc xây dựng các quy định về cưỡng chế THADS phải
dựa trên cơ sở bảo đảm quyền con người, quyền sở hữu của chủ thể
1.2.3. Việc xây dựng các quy định về cưỡng chế THADS phải
bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch, đơn giản cũng như bảo đảm tính
tương thích, thống nhất của hệ thống pháp luật có liên quan
1.2.4. Việc xây dựng các quy định về cưỡng chế THADS phải
xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn THADS nhằm bảo đảm tính khả
thi và hiệu quả của cưỡng chế THADS
1.3. Cá yếu tố ảnh hưởng và tiêu hí ánh giá hiệu quả
ưỡng hế THADS
1.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả cưỡng chế THADS
- ếu tố phong tục, tập quán, tính đến những đặc thù văn hóa
dân tộc, sự cố kết cộng đồng của bộ phân cư dân tại những vùng
miền, tôn giáo của đối tượng bị cưỡng chế THADS.
- ếu tố tâm lý, phải được tính toán trong quy định pháp luật
cưỡng chế THADS phù hợp, có khả thi và việc tiến hành cưỡng chế
THADS phải chú trọng vận động, thuyết phục, lập kế hoạch cưỡng
chế có khả năng thực hiện hiệu quả trong cưỡng chế THADS.
- Điều kiện kinh tế - x hội, là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến
cưỡng chế THADS, nhất là đối với người phải THA và người được THA.
- ếu tố dân trí, ý thức pháp luật, nhất là của đương sự, nếu


ưỡng hế THADS

1.4.1. Chỉ được cưỡng chế THADS khi có căn cứ được pháp
luật quy định, cá nhân, tổ chức phải THADS nếu không tự nguyện
THA thì phải bị cưỡng chế THADS, tuy nhiên muốn cưỡng chế
THADS đối với cá nhân, tổ chức phải có căn cứ.


13
1.4.2. Cưỡng chế THADS do người có thẩm quyền tiến hành,
chủ thể có thẩm quyền tiến hành cưỡng chế THADS phải được pháp
luật quy định được áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS. Tùy điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà nước đó trao quyền cho chủ
thể được quyền tiến hành cưỡng chế THADS.

Việt Nam hiện nay,

chủ thể có quyền tiến hành cưỡng chế THADS là CHV và TPL.
1.4.3. Cưỡng chế THADS bằng các biện pháp do luật định,
với những quy định cụ thể về cách thức thực hiện biện pháp cưỡng
chế THADS. Biện pháp cưỡng chế càng rõ ràng thì việc cưỡng chế
THADS càng chính xác và ch được cưỡng chế THADS bằng biện
pháp cưỡng chế THADS pháp luật quy định.
1.4.4. Không cưỡng chế THADS trong thời gian và trường
hợp nhất định do luật định, đó là khoảng thời gian ngủ, ngh nhất
định, thường là trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm
sau, các ngày ngh , ngày lễ theo quy định của pháp luật, phong tục,
tập quán hoặc là thời gian tự nguyện THA hoặc trường hợp mà cá
nhân người phải THADS không thể thực hiện được nghĩa vụ

Quốc hội.
1.6. Kinh nghiệm lập pháp

một số nướ trên thế giới về

ưỡng hế THADS và bài họ kinh nghiệm ho Việt N m
Nghiên cứu pháp luật của một số nước trên thế giới cho thấy
nhìn chung pháp luật về cưỡng chế THADS của các quốc gia có
nhiều nét tương đồng, tuy nhiên cũng có những đặc thù riêng. Có thể
nói, trên thế giới có nhiều mô hình tổ chức THADS, mỗi mô hình tổ
chức THADS đều có mặt tích cực và mặt hạn chế nhất định. Mặc dù
ở mô hình tổ chức THADS nào thì cũng đều có quy định pháp luật về
cưỡng chế THADS là cơ sở để tham khảo trong việc hoàn thiện pháp
luật và áp dụng vào thực tiễn cưỡng chế THADS ở Việt Nam.


15
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM
2.1. Th

trạng pháp luật về ưỡng hế THADS

2.1.1. Thực trạng các quy định chung về cưỡng chế THADS
- Chưa có điều kho n nào qu định về ngu n t c cưỡng chế
THADS hoặc dẫn chiếu tới các nguyên tắc chung của pháp luật về
THADS trong cưỡng chế THADS; nhiều vấn đề mới được quy định
trong BLDS chưa được cụ thể hóa trong các quy định về cưỡng chế

2.1.2. Thực trạng các quy định về cưỡng chế thi hành nghĩa
vụ trả tiền
- Về khấu trừ tiền trong tài kho n, quy định về thời hạn khấu trừ
tiền trong tài khoản còn chưa đáp ứng yêu cầu về tính hiệu quả của
cưỡng chế; thời hạn tự nguyện THA và thời hạn cưỡng chế khấu trừ
tiền trong tài khoản còn mâu thuẫn; chưa có quy định cụ thể về
khoản tiền không được cưỡng chế trong tài khoản.
- Về thu hồi, xử lý tiền, giấ tờ có giá c a người ph i THA, pháp
luật hiện hành không có quy định cụ thể về thu tài sản của người phải
THA đang do chính họ nắm giữ; quy định về quyền hạn của CHV
trong thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá và tài sản khác của người phải
THA còn hạn chế; chưa có chế tài đủ mạnh đối với người thứ ba
không thực hiện giao nộp tiền, giấy tờ có giá hoặc tài sản khác.
- Về trừ vào thu nhập c a người ph i THA, điều kiện áp dụng
còn chưa rõ ràng và mức khấu trừ còn chưa phù hợp; chưa có quy
định cụ thể về việc khấu trừ thu nhập đối với trường hợp đặc thù; chưa
thống nhất với Luật Bảo hiểm xã hội; chưa có quy định về chế tài cụ


17
thể đối với cơ quan, tổ chức không thực hiện quyết định cưỡng chế
trừ vào thu nhập của người phải THA.
- Về k bi n, xử lý tài s n c a người ph i THA, quy định về
cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản là QSDĐ rất khó thực hiện trên thực
tế, không có quy định cụ thể về diện tích đất để lại cho người phải
THA khi kê biên QSDĐ; quy định về xử lý tài sản trên đất kê biên có
tính khả thi không cao; chưa có quy định chung mang tính khái quát
và thiếu cơ chế về việc xử lý tài sản của người phải THA gắn liền với
QSDĐ của người khác; quy định của pháp luật liên quan đến cưỡng
chế kê biên QSDĐ còn chưa phù hợp với thực tiễn; kê biên, xử lý

thực tiễn, chưa có cơ chế phù hợp để hỗ trợ trong các quy định về
cưỡng chế trả nhà.
- Cưỡng chế giao, tr giấ tờ, đã dự liệu và có sự phân hóa về
phương án xử lý trong trường hợp giấy tờ không thể thu hồi được
nhưng có thể cấp lại cũng như trách nhiệm của cơ quan có thẩm
quyền trong việc cấp lại giấy tờ. Tuy nhiên, quy định về cấp giấy
chứng nhận QSDĐ trong THADS chưa tạo ra sự đồng bộ trong pháp
luật về đất đai; việc cưỡng chế giao, trả giấy tờ không thành công
đồng nghĩa với việc bản án, quyết định của Tòa án về giao, trả giấy
tờ không thi hành được.
- Cưỡng chế chu ển giao QSDĐ, bên cạnh những ưu điểm trên
thì pháp luật THADS hiện hành cũng còn có những hạn chế nhất
định, chẳng hạn như chưa có sự cập nhật các quy định về quyền
hưởng dụng hoặc quyền bề mặt của BLDS để thiết lập các quy định
tương ứng trong cưỡng chế THADS.
2.1.4. Thực trạng các quy định về cưỡng chế bu c thực hiện
hoặc không được thực hiện công việc nhất định


19
- Về cưỡng chế buộc thực hiện c ng việc nhất định, pháp luật đã
thiết lập một cơ chế hợp lý, linh hoạt và hiệu quả để bảo đảm thi
hành quyền lợi của người được THA là kết hợp giữa phạt tiền, giao
cho người khác thực hiện và buộc người phải THA chịu chi phí, đề
nghị truy cứu trách nhiệm hình sự chưa có quy định cụ thể như thế
nào là cưỡng chế thi hành nghĩa vụ phải thực hiện công việc nhất định;
tuy nhiên, chưa có quy định cụ thể như thế nào là cưỡng chế thi hành
nghĩa vụ phải thực hiện công việc nhất định.
- Về cưỡng chế buộc kh ng được thực hiện c ng việc nhất định,
chưa chú trọng đến chế tài vật chất đối với hành vi không chấm dứt

hợp khiếu nại kéo dài; khiếu nại, tố cáo không đúng nhằm trì hoãn
việc cưỡng chế THADS.
- Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, về khách quan là do
pháp luật còn nhiều hạn chế; số lượng việc và tiền THADS thụ lý thi
hành ngày càng tăng; nhiều trường hợp tài sản cưỡng chế đã kê biên,
thẩm định giá nhưng rất khó bán; tổ chức bộ máy THADS chưa thực
sự được kiện toàn; cơ sở vật chất, kinh phí cho việc cưỡng chế
THADS còn rất khó khăn; nhiều bản án, quyết định của Tòa án tuyên
không rõ, khó thi hành, có căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm; ý thức tuân thủ pháp luật trong cưỡng chế
THADS của một số tổ chức, cá nhân chưa cao. Về chủ quan thì khả
năng và trình độ xây dựng pháp luật của những người tham mưu ban
hành văn bản quy phạm pháp luật về THADS còn hạn chế nhất định;
công tác quản lý, ch đạo cưỡng chế THADS trong các cơ quan
THADS vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; nhiều cơ quan THADS, CHV,
TPL chưa thật sự quyết liệt, thiếu giải pháp cụ thể, hiệu quả trong việc
tổ chức cưỡng chế THADS; năng lực chuyên môn, ý thức trách nhiệm,
tính gương mẫu đi đầu của một số cán bộ lãnh đạo quản lý, CHV còn
chưa cao dẫn đến sai sót, vi phạm trong cưỡng chế THADS; chưa khai
thác, phát huy được tối đa tính năng, lợi ích của công nghệ thông tin
trong cưỡng chế THADS.


21
CHƯƠNG 3
YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM
3.1. Yêu ầu nâng o hiệu quả ưỡng hế THADS ở Việt N m
3.1.1. Đáp ứng yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền
Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

áp dụng, nâng mức cao nhất được trừ vào thu nhập, quy định rõ về
khấu trừ thu nhập đối với khoản tiền chế độ chính sách.
+ Bổ sung quy định thủ tục kê biên, bán đấu giá tài sản của cơ
quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước để THADS. Quy định cụ thể
về kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất, tài sản của người phải THA xây
dựng trên đất của người khác và trên đất của người phải THA có tài
sản của người khác, kê biên, xử lý tàu bay, tàu biển, QSDĐ nông
nghiệp, tài sản không được kê biên, cách thức xác định giá tài sản, định
giá và bán đấu giá cổ phiếu, giao bảo quản tài sản THA.
+ Quy định cưỡng chế trả nhà là một biện pháp cưỡng chế độc lập
trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế THADS, quy định đặc thù và
cụ thể về cưỡng chế trả nhà, khuyến khích người được THA hỗ trợ tạo
lập chỗ ở mới cho người phải THA và gia đình họ.
+ Quy định tách riêng biện pháp cưỡng chế buộc thực hiện công
việc nhất định và không được thực hiện công việc nhất định thành hai
mục riêng trong hệ thống các quy định về cưỡng chế THADS và quy
định cụ thể về các biện pháp cưỡng chế THADS này.
+ Bổ sung quy định người được THA tạm ứng chi phí cưỡng
chế THADS. Ban hành quy trình cưỡng chế THADS. Quy định cụ
thể trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan trong cưỡng
chế THADS; các biện pháp hỗ trợ cưỡng chế THADS, chế tài đối với
hành vi vi phạm trong cưỡng chế THADS.


23
+ Quy định thủ tục buộc người phải THA tập trung lao động bắt
buộc và tính toán tiền công cho phạm nhân khi họ tập trung cải tạo
lấy tiền thanh toán nghĩa vụ THADS.
+ Quy định cơ chế ưu tiên cho người bị cưỡng chế giao nhà, trả
nhà không có nơi ở được mua, thuê nhà ở xã hội để bảo đảm thuận lợi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status