Pháp luật về thương mại điện tử ở việt nam trong xu thế hội nhập quốc tế - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ NGỌC ANH

PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
TRONG XU THẾ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên nan: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Đặng Hải Yến

HÀ NỘI - NĂM 2016


LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Pháp luật về Thương mại điện tử ở Việt
Nam trong xu thế hội nhập quốc tế”, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ và hỗ trợ của
nhiều tổ chức, cá nhân.
Với tấm lòng chân thành và sự biết ơn sâu sắc nhất, tác giả xin được gửi lời cảm
ơn đặc biệt tới Tiến sĩ Vũ Đặng Hải Yến. Cô là người đã luôn theo dõi và hướng dẫn
sát sao, giúp tác giả có những định hướng và kỹ năng nghiên cứu đúng đắn trong quá
trình triển khai đề tài.
Tác giả xin gửi lời tri ân tới các thầy cô Khoa Pháp luật Kinh tế nói chung, các
thầy cô Khoa sau Đại học Trường Đại học Luật Hà Nội nói riêng đã trang bị cho tác


Quá trình hình thành thương mại điện tử ......................................... 6

1.1.2.

Khái niệm Thương mại điện tử ......................................................... 7

1.2. Đặc điểm và vai trò của thương mại điện tử ................................................ 9
1.2.1.

Đặc điểm của thương mại điện tử..................................................... 9

1.2.2.

Vai trò của Thương mại điện tử...................................................... 11

1.3. Khái quát về pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam ............................ 14
1.3.1.

Khái niệm, đặc điểm của pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam 14

1.3.2.

Hệ thống pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam ................... 15

1.3.3.

Nội dung của pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam ............ 23

1.3.4.


2.2.3. Quy định về các vấn đề bảo về quyền lợi người tiêu dùng trong Thương
mại điện tử ..................................................................................... 49
2.2.4.

Quy định các hành vi vi phạm trong Thương mại điện tử ............... 55

CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ TMĐT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................... 61


3.1. Yêu cầu cơ bản đối với pháp luật về thương mại điện tử Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập Quốc tế .................................................................................. 61
3.1.1.

Xu hướng phát triển thương mại điện tử của thế giới và Việt Nam . 61

3.1.2.

Những yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật TMĐT ở Việt Nam... 65

3.2. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về Thương mại điện tử Việt Nam 67
3.3. Những đề xuất cụ thể nhằm nâng cao pháp luật về thương mại điện tử Việt
Nam
70
3.3.1.

Nhóm giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật ......................... 70

3.3.2.

và các thiết bị di động đã chắp thêm sức mạnh cho TMĐT ở Việt Nam.
Do hoạt động TMĐT xuất hiện và phát triển khá sớm nên pháp luật về
TMĐT chung của quốc tế và một số nước trên thế giới cũng xuất hiện tương đối
sớm như: Luật mẫu về Thương mại điện tử của Liên hiệp quốc năm 1996; hay
Luật Thương mại điện tử thống nhất của Canada 1999; Luật Thương mại điện
tử của Ấn Độ năm 1998… tạo khung pháp lý cho các hoạt động TMĐT. So với
pháp luật thế giới về TMĐT thì pháp luật TMĐT ở Việt Nam ra đời muộn hơn.
Tháng 10-2000, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW về việc đẩy
mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong đó yêu cầu tập trung phát triển các dịch vụ điện
tử trong các lĩnh vực dịch vụ và thương mại. Tháng 4-2001, tại Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX, thương mại điện tử đã được nhắc tới như một yếu tố thị
trường quan trọng cần phát triển nhằm hỗ trợ các ngành thương mại, dịch vụ
khác, thể hiện trong văn kiện về định hướng phát triển kinh tế, xác định tư
tưởng chỉ đạo của Đảng đối với thương mại điện tử. Ngày 15-9-2005, Thủ
tướng Chính phủ đã ký “Quyết định phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển
thương mại điện tử giai đoạn 2006-2010” đồng thời Luật Giao dịch điện tử
được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005. Đây được coi


2

là văn bản pháp lý chính thức đầu tiên có điều chỉnh trong lĩnh vực TMĐT. Tiếp
đó lần lượt đến các văn bản quan trọng trực tiếp điều chỉnh lĩnh vực TMĐT
như: Nghị định 57/2006/NĐ-CP về Thương mại điện tử hiện nay được thay thế
bởi Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử,… Mặc dù các quy định
cơ bản của Luật giao dịch điện tử và pháp luật TMĐT của Việt Nam tương đối
tương đồng với các Luật mẫu của UNCITRAL. Tuy nhiên, do lĩnh vực TMĐT
bao trùm khá rộng, vì vậy thực tế quy định của pháp luật Việt Nam về lĩnh vực
này còn tản mạn, tạo thành một hệ thống văn bản “đồ sộ” khi áp dụng. Bên cạnh

Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội.

-

Phạm Thị Mơ (2010), Một số vấn đề pháp lý cơ bản về hợp đồng thương
mại điện tử có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, Khoá luận tốt
nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội.


3

-

Nguyễn Mạnh Dũng (2011), Rủi ro trong giao kết và thực hiện hợp đồng
thương mại điện tử - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Khoá luận tốt
nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội.

-

Hoàng Thu Trang (2012), Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng trong thương mại điện tử, Khoá luận tốt nghiệp, Trường
Đại học Luật Hà Nội.

-

Nguyễn Thị Hòa (2012), Chế tài pháp lý đối với hành vi vi phạm quyền
lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử, Tạp chí Toà án nhân dân
số 4/2012.

-

hoàn thiện pháp luật TMĐT.
Như vậy, có thể thấy, giới hành nghề luật đã có sự quan tâm nhất định
đến pháp luật TMĐT nhưng chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu của việc hoàn
thiện pháp luật về lĩnh vực này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài


4

Luận văn đưa ra các nghiên cứu nhằm đánh giá những vấn đề cơ bản
nhất của pháp luật TMĐT so với thế giới hướng đến đưa ra được các biện pháp
hoàn thiện pháp luật TMĐT Việt Nam trong hoàn cảnh Việt Nam đang hội nhập
sâu và rộng với thế giới.
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ
cụ thể như:
-

Phân tích được khái niệm, đặc điểm của pháp luật về TMĐT;

-

Phân tích và đánh giá những nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về
TMĐT trong tương quan so với pháp luật thế giới;

-

Tìm hiểu được những xu hướng của pháp luật TMĐT thế giới;

-


Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể
sau:
-

Phương pháp phân tích, so sánh: Phương pháp này được sử dụng chủ
yếu ở Chương II của luận văn khi đánh giá các quy định của pháp luật
TMĐT Việt Nam trong tương quan so với thế giới.

-

Phương pháp quy nạp: Tức là đưa ra phân tích, căn cứ và kết luận.
Phương pháp này được sử dụng nhiều ở Chương I đặc biệt trong các
phần đưa ra định nghĩa về TMĐT và pháp luật về TMĐT.

-

Phương pháp diễn dịch: Tức là đưa ra kết luận và giải thích, làm rõ kết
luận đó. Phương pháp này được sử dụng nhiều ở Chương III luận văn khi
tác giả đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về TMĐT.

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp như thu thập, tổng
hợp và phân tích số liệu, phương pháp liệt kê… phù hợp với từng nội dung cụ
thể của luận văn.
6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có
cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thương mại điện tử và pháp luật về thương
mại điện tử ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam.
Chương 3: Đề xuất nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về

chóng mở ra một khó khăn mới cho giới làm luật về việc xác định và giải quyết
các vấn đề phát sinh từ “quyền sở hữu tài sản ảo”.
Đến đầu năm 2000, khi mà internet trở thành một phần không thể thiếu
trong sinh hoạt của giới trẻ cũng là lúc hàng loạt các trung tâm dạy nghề giới
thiệu các khóa học về TMĐT. Cho đến năm 2003 Bộ thương mại mới công bố
bản báo cáo thương mại điện tử Việt Nam đầu tiên. Báo cáo này khẳng định cho
đến năm 2003 “chúng ta mới bắt đầu đi những bước đầu tiên trên con đường tơ
lụa mới”.2

1

Nguyễn Phụng Dương (2014), Hoàn thiện pháp luật nhằm phát triển thương mại điện tử ở nước ta,
luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr15.
2

Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (2008), Pháp luật về TMĐT ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa
học, tr 5.


7

Và, kể từ đó đến nay, TMĐT Việt Nam đang có bước phát triển rất
nhanh nhờ hệ thống viễn thông phát triển vượt bậc với khoảng 1/3 dân số Việt
Nam truy cập Internet. Tỷ lệ website có tính năng đặt hàng trực tuyến là 58%,
trong đó tỷ lệ website có tính năng thanh toán trực tuyến là 15%.
Cũng theo kết quả điều tra khảo sát năm 2014 của Cục TMĐT và Công
nghệ thông tin, giá trị mua hàng trực tuyến của một người trong năm ước tính
đạt khoảng 145 USD và doanh số thu từ TMĐT B2C đạt khoảng 2,97 tỷ USD,
chiếm 2,12% tổng mức bán lẻ hàng hóa cả nước. Sản phẩm được lựa chọn tập
trung vào các mặt hàng như đồ công nghệ và điện tử (60%), thời trang, mỹ


8

Theo Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử năm 1996 thì
TMĐT là việc sử dụng “thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu trong khuôn
khổ các hoạt động thương mại” còn “Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo
ra, gửi đi tiếp nhận hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử, quang học và các
phương tiện tương tự, bao gồm, nhưng không hạn chế ở, trao đổi dữ liệu điện tử
(EDI), thư điện tử, điện tín, điện báo hoặc fax”. Đồng thời, thương mại trong
khái niệm TMĐT của Luật này được hiểu là mọi vấn đề phát sinh từ các mối
quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng, đó là một
phạm vi rất rộng, bao quát hầu như mọi hình thức của hoạt động kinh tế chứ
không chỉ dừng lại mua bán hàng hóa, dịch vụ thông thường.
Theo Ủy ban châu Âu: "Thương mại điện tử có thể định nghĩa chung là
sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá
nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay
các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến). Thuật ngữ bao
gồm việc đặt hàng và dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá
trình vận chuyển hàng hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc
bằng phương pháp thủ công."
Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng thì TMĐT không chỉ giới hạn trên
Internet mà nó bao gồm một loạt các ứng dụng khác nhau như videotext, môi
trường ngoài mạng (catolo bán hàng trên đĩa CD-ROM) cũng như là các mạng
lưới riêng của các công ty (đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng). Tuy nhiên, với
lợi thế của mình, Internet sẽ là tác nhân chủ yếu để kết nối các hình thức khác
của TMĐT và thúc đẩy TMĐT phát triển.
- TMĐT theo nghĩa hẹp
Thương mại điện tử theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm các hoạt động thương
mại được thực hiện thông qua mạng Internet. Tổ chức Thương mại thế giới và
Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương đã đưa ra khái niệm TMĐT

một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện
điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng
mở khác”.
Do đó, từ các cách hiểu trên, có thể đưa ra định nghĩa về thương mại điện
tử như sau: “Thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt
động thương mại bằng những phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet,
mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”.
1.2. Đặc điểm và vai trò của thương mại điện tử
1.2.1. Đặc điểm của thương mại điện tử
So với các hình thức thương mại khác, thương mại điện tử có những đặc
điểm sau:
-

Thứ nhất, các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không

cần phải tiếp xúc với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước.
Trong thương mại truyền thống, các bên phải gặp nhau trực tiếp để tiến
hành giao dịch. Và nơi diễn ra các giao dịch theo kiểu truyền thống này thường
là chợ: từ các chợ truyền thống đến các cửa hàng, siêu thị, trung tâm thương
mại. Các đối tác kinh doanh tham gia giao dịch thường phải gặp gỡ nhau và tiếp
xúc với nhau để tìm hiểu về thông tin, khảo hàng, thương lượng…, thậm chí họ
còn là những người đã quen biết nhau từ trước. Các giao dịch được thực hiện
chủ yếu theo “nguyên tắc vật lý” như chuyển tiền, séc, hóa đơn, vận đơn, gửi
báo cáo. Sự ra đời của các phương tiện viễn thông như fax, telex… đã làm giảm
thiểu được những cuộc tiếp xúc đôi khi không cần thiết và gây lãng phí giữa các
đối tác kinh doanh.


10


tiếng như Google, Facebook, Instagram… đóng vai trò quan trọng cung cấp
thông tin trên mạng. Các trang Web này đã trở thành các “khu chợ” khổng lồ
trên Internet. Với mỗi lần nhấn chuột, khách hàng có khả năng truy cập vào
hàng ngàn cửa hàng “ảo” khác nhau và tỷ lệ khách hàng vào thăm rồi mua hàng
là rất cao. Người tiêu dùng đã bắt đầu mua trên mạng một số các loại hàng trước
đây được coi là khó bán trên mạng. Nhiều người sẵn sàng trả thêm một chút tiền
còn hơn là phải đi tới tận cửa hàng. Một số công ty đã mời khách may đo quần
áo trên mạng, tức là khách hàng chọn kiểu, gửi số đo theo hướng dẫn tới cửa
hàng (qua Internet) rồi sau một thời gian nhất định nhận được bộ quần áo theo
đúng yêu cầu của mình. Điều tưởng như không thể thực hiện được này cũng có


11

rất nhiều người hưởng ứng. Các chủ cửa hàng thông thường ngày nay cũng đang
đua nhau đưa thông tin lên Web để tiến tới khai thác mảng thị trường rộng lớn
trên Web.
Như vậy, thực tế trong thương mại điện tử, bản chất của thông tin không
thay đổi. Thương mại điện tử chỉ biến đổi cách thức khởi tạo, trao đổi, xử lý
thông tin… mà không thay đổi bản chất của hoạt động thương mại.
- Thứ tư, quan hệ thương mại điện tử có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể.
Trong thương mại điện tử, ngoài các chủ thể tham gia giao dịch giống
như trong thương mại truyền thống (người bán, người mua) đã xuất hiện thêm
một bên thứ ba, đó là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực. Đây
là những người tạo môi trường cho các giao dịch thương mại điện tử. Các chủ
thể này có nhiệm vụ chuyển, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao
dịch thương mại điện tử, hoặc xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao
dịch thương mại điện tử.
- Thứ năm, thương mại điện tử có tính rủi ro cao hơn thương mại truyền
thống.

phân phối hàng. Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm được thay thế hoặc hỗ
trợ bởi các showroom trên mạng, ví dụ ngành sản xuất ô tô (như Ford Motor)
tiết kiệm được chi phí hàng tỷ USD từ giảm chi phí lưu kho.
 Vượt giới hạn về thời gian: Việc tự động hóa các giao dịch thông qua
Web và Internet giúp hoạt động kinh doanh được thực hiện 24/7/365 mà không
mất thêm nhiều chi phí biến đổi.
 Sản xuất hàng theo yêu cầu: Còn được biết đến dưới tên gọi “Chiến lược
kéo”, lôi kéo khách hàng đến với doanh nghiệp bằng khả năng đáp ứng mọi nhu
cầu của khách hàng. Một ví dụ thành công điển hình là Dell Computer Corp.
 Mô hình kinh doanh mới: Các mô hình kinh doanh mới với những lợi thế
và giá trị mới cho khách hàng. Mô hình của Amazon. com, mua hàng theo nhóm
hay đấu giá nông sản qua mạng đến các sàn giao dịch B2B là điển hình của
những thành công này.
 Tăng tốc độ tung sản phẩm ra thị trường: Với lợi thế về thông tin và khả
năng phối hợp giữa các doanh nghiệp làm tăng hiệu quả sản xuất và giảm thời
gian tung sản phẩm ra thị trường.
 Giảm chi phí thông tin liên lạc: Thay vì dùng điện thoại, thư tín, chúng ta
có thể tiết kiệm được một khoảng chi phí vì sử dụng thương mại điện tử.
 Giảm chi phí mua sắm: Thông qua giảm các chi phí quản lý hành chính
(80%); giảm giá mua hàng (5-15%).
 Củng cố quan hệ khách hàng: Thông qua việc giao tiếp thuận tiện qua
mạng, quan hệ với trung gian và khách hàng được củng cố dễ dàng hơn. Đồng
thời việc cá biệt hóa sản phẩm và dịch vụ cũng góp phần thắt chặt quan hệ với
khách hàng và củng cố lòng trung thành.
 Thông tin cập nhật: Mọi thông tin trên web như sản phẩm, dịch vụ, giá
cả... đều có thể được cập nhật nhanh chóng và kịp thời.
 Các lợi ích khác: Nâng cao uy tín, hình ảnh doanh nghiệp; cải thiện chất
lượng dịch vụ khách hàng; đối tác kinh doanh mới; đơn giản hóa và chuẩn hóa
các quy trình giao dịch; tăng khả năng tiếp cận thông tin; tăng sự linh hoạt trong
giao dịch và hoạt động kinh doanh.

 Thông tin phong phú, thuận tiện: Khách hàng có thể dễ dàng tìm được
thông tin nhanh chóng và dễ dàng thông qua các công cụ tìm kiếm (search
engines); các thông tin đa phương tiện (âm thanh, hình ảnh).
 Đấu giá: Mô hình đấu giá trực tuyến ra đời cho phép mọi người đều có
thể tham gia mua và bán trên các sàn đấu giá và đồng thời có thể tìm, sưu tầm
những món hàng mình quan tâm tại mọi nơi trên thế giới.
- Lợi ích đối với xã hội.
 Hoạt động trực tuyến: Thương mại điện tử tạo ra môi trường để làm việc,
mua sắm, giao dịch từ xa nên giảm việc đi lại, ô nhiễm.
 Nâng cao mức sống: Nhiều hàng hóa, nhiều nhà cung cấp tạo áp lực giảm
giá do đó khả năng mua sắm của khách hàng cao hơn, nâng cao mức sống của
mọi người.
 Lợi ích cho các nước nghèo: Những nước nghèo có thể tiếp cận với các
sản phẩm, dịch vụ từ các nước phát triển hơn thông qua Internet và thương mại


14

điện tử. Đồng thời cũng có thể học tập được kinh nghiệm, kỹ năng được đào tạo
qua mạng.
 Dịch vụ công được cung cấp thuận tiện hơn: Các dịch vụ công cộng như
y tế, giáo dục, các dịch vụ công của chính phủ, ... được thực hiện qua mạng với
chi phí thấp hơn, thuận tiện hơn. Cấp các loại giấy phép qua mạng, tư vấn y tế,
... . là các ví dụ thành công điển hình.
1.3.

Khái quát về pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam

1.3.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật thương mại điện tử ở Việt Nam
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac-Lenin: “Pháp luật là hệ thống các

Đại học Luật Hà Nội, giáo trình “Lý luận nhà nước và pháp luật”, 2010, NXB Công an nhân dân, tr
128.


15

Thứ hai, pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử gắn liền với
pháp luật về khoa học công nghệ. Có thể thấy các quy phạm điều chỉnh hoạt
động thương mại điện tử có rất nhiều quy định về kỹ thuật của công nghệ thông
tin như chữ kí điện tử, thông điệp dữ liệu, môi trường mạng,… Đây là những
quy định không thể thiếu của pháp luật thương mại điện tử, bởi lẽ, nó tạo một
khung pháp lý an toàn, điều chỉnh các nền tảng, các bộ phần cơ sở, cấu thành và
tạo nên thương mại điện tử.
Thứ ba, pháp luật thương mại điện tử có những nguyên tắc riêng nhất
định ngoài các nguyên tắc chung của thương mại truyền thống, bao gồm:
- Nguyên tắc tự nguyện lựa chọn sử dụng phương tiện điện tử để thực hiện
giao dịch;
- Nguyên tắc tự thỏa thuận về việc lựa chọn loại công nghệ để thực hiện
giao dịch;
- Nguyên tắc không một loại công nghệ nào được xem là duy nhất trong
giao dịch điện tử.
Thứ tư, pháp luật thương mại điện tử có tính quốc tế hóa nhanh chóng.
Trong xu thế toàn cầu hóa thì hầu hết các ngành kinh tế đều theo xu hướng này,
tuy nhiên do đặc tính “phi biên giới” của thương mại điện tử khiến cho pháp
luật về thương mại điện tử cũng mang tính hội nhập và quốc tế cao hơn so với
pháp luật của các lĩnh vực khác. Ví như, Luật Giao dịch điện tử 2005 của Việt
Nam được soạn thảo và xây dựng dựa trên chuẩn mực của Luật mẫu về thương
mại điện tử của Ủy ban Liên hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế và có tính
tương đồng tương đối cao so với pháp luật quốc tế. Ngoài ra, các điều ước quốc
tế, các hiệp định mà Việt Nam tham gia cũng đều có các quy định về thương

Luật Thương mại (sửa đổi) được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông
qua ngày 14/06/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/01/2006 là văn bản pháp lý làm
nền tảng cho các hoạt động thương mại, trong đó có thương mại điện tử.
- Các văn bản trực tiếp quy định và điều chỉnh hoạt động thương mại điện
tử ở Việt Nam
 Luật Giao dịch điện tử
Luật Giao dịch điện tử được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua
ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/03/2006. Luật gồm 8 chương, 54 điều
quy định về thông điệp dữ liệu, chữ ký điện tử và chứng thực chữ ký điện tử,
giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước,
an ninh, an toàn, bảo vệ, bảo mật trong giao dịch điện tử, giải quyết tranh chấp
và xử lý vi phạm trong giao dịch điện tử. Phạm vi điều chỉnh chủ yếu của Luật
là giao dịch điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong lĩnh vực
dân sự, kinh doanh, thương mại.
 Nghị định về thương mại điện tử
Nghị định đầu tiên về thương mại điện tử là Nghị định số 57/2006/NĐCP của Chính phủ ngày 09/6/2006 hiện nay đã được thay thế bằng Nghị định số
52/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/5/2013 về thương mại điện tử. Đây
được coi là văn bản quy định rõ ràng và chi tiết nhất về hoạt động thương mại
điện tử trên thực tế diễn ra ở Việt Nam.
 Nghị định về Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số
Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch
điện tử về Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số được ban hành ngày
15/2/2007. Nghị định này quy định về chữ ký số và các nội dung cần thiết liên
quan đến sử dụng chữ ký số, bao gồm chứng thư số và việc quản lý, cung cấp và
sử dụng dịch vụ chứng thực chữ ký số. Đây là những quy định nền tảng để thiết
lập một cơ chế đảm bảo an ninh an toàn cũng như độ tin cậy của các giao dịch
điện tử, thúc đẩy thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ hơn.
 Nghị định về Giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính



29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/07/2006 thể hiện một bước tiến trong việc
hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Tuy không
có quy định cụ thể liên quan trực tiếp đến lĩnh vực thương mại điện tử, nhưng
các nguyên tắc trong Luật Sở hữu trí tuệ có thể áp dụng đối với lĩnh vực này.
 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ra đời năm 2010 và có hiệu lực từ
ngày 1/7/2011được coi là khung pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng. Mặc dù Luật này không quy đinh cụ thể về hành vi xảy ra trong
thương mại điện tử, tuy nhiên đã quy định khái quát các quyền của người tiêu
dùng cũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh từ đó


18

làm cơ sở áp dụng cho việc bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực thương mại
điện tử.
Ngoài ra đối với thương mại điện tử trong từng lĩnh vực cụ thể sẽ chịu sự
điều chỉnh của các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan. Do đó, có thể
thấy, pháp luật về thương mại điện tử là tương đối rộng.
Dưới đây là bảng tổng hợp khung pháp lý cơ bản trong lĩnh vực TMĐT
tính đến hết thời điểm 1/7/2016:
Thời gian
I. Luật
Ghi chú
21/12/1999 Bộ luật Hình sự
14/6/2005

Bộ luật Dân sự

14/6/2005

chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Viễn Thông
Nghị định số 43/2011/NĐ-CP quy định
về việc cung cấp thông tin và dịch vụ
công trực tuyến trên trang thông tin

15/02/2007

23/02/2007
08/03/2007
13/08/2008
06/04/2011

13/06/2011

Bộ luật Hình sự 2015 đã
được hoãn thi hành
Bộ luật Dân sự 2015 sẽ
có hiệu lực vào ngày
1/1/2017


19

điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của
cơ quan nhà nước
23/11/2011 Nghị định số 106/2011/NĐ-CP sửa đổi,
bổ sung Nghị định số 26/2007/NĐ-CP
về Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực
chữ ký số

III. Thông tư hướng dẫn
15/09/2008 Thông tư số 78/2008/TT-BTC hướng
dẫn thi hành một số nội dung của Nghị
định số 27/2007/NĐ-CP về giao dịch
điện tử trong hoạt động tài chính
30/12/2008 Thông tư số 12/2008/TT-BTTTT


20

02/03/2009

16/03/2009

31/07/2009

14/12/2009

22/07/2010
28/9/2010

9/11/2010

20/12/2010

14/3/2011

hướng dẫn thực hiện một số nội dung
của Nghị định số 90/2008/NĐ-CP về
chống thư rác

nghiệp vụ kho bạc nhà nước
Thông tư số 32/2011/TT-BTC hướng
dẫn về khởi tạo, phát hành và sử dụng
hóa đơn điện tử bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status