BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN PHƯƠNG THUỲ
PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG KINH NGHIỆM PHÁP LÝ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ ÁP DỤNG
TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN PHƯƠNG THUỲ
PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG KINH NGHIỆM PHÁP LÝ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ ÁP DỤNG
TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực
của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của
các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt khóa học cũng như thời
gian nghiên cứu đề tài luận văn.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành
đến PGS. TS Phạm Thị Giang Thu - giảng viên kính mến đã hết lòng giúp đỡ, tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện nghiên cứu luận văn
của mình.
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu,
toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong các Phòng, Khoa của trường Đại học Luật Hà
Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn thạc sỹ.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
Tác giả
năm 2016
Nguyễn Phương Thùy
DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
AML
Anti Money Laundering - Chống rửa tiền
GAFI
Groupe d'action financière - Nhóm hành động tài chính
BSA
Bank Secrecy Act - Luật bảo mật ngân hàng
PEPs
Politically Exposed Persons - Những người có ảnh hưởng
chính trị
WTO
World Trade Oganization - Tổ chức Thương mại thế giới
ASEAN
Association of Southeast Asian Nations - Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN, PHÁP LUẬT VỀ
PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ............................... 6
1.1. Tổng quan về hoạt động rửa tiền qua hệ thống ngân hàng ............................ 6
1.1.1. Khái niệm về rửa tiền ............................................................................. 6
2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại, bất cập................................................ 63
CHƯƠNG 3. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG,
CHỐNG RỬA TIỀN TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG VIỆT NAM .......... 69
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về phòng, chống rửa tiền qua hệ thống
ngân hàng Việt Nam .......................................................................................... 69
3.1.1. Xuất phát từ xu hướng phát triển của kinh tế thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng ................................................................................................ 69
3.1.2. Xuất phát từ các khuyến nghị của các tổ chức quốc tế về phòng, chống
rửa tiền (APG, FATF) và kinh nghiệm của các quốc gia................................. 72
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực ngân
hàng tại Việt Nam. ............................................................................................. 74
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật phòng, chống rửa tiền .......................................... 74
3.2.2. Hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến phòng, chống rửa tiền . 81
KẾT LUẬN CHUNG........................................................................................... 88
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu Đề tài
Hiện nay, vấn nạn rửa tiền xuyên quốc gia đã trở nên tinh vi, phức tạp, công
tác phòng chống rửa tiền ngày càng trở nên cấp bách, là thành viên của Nhóm châu
Á - Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG), Việt Nam đã tích cực tham gia cùng
cộng đồng quốc tế trong nỗ lực phòng, chống rửa tiền.
Mặc dù Việt Nam đã có hệ thống các quy định về phòng chống rửa tiền trong
Bộ luật Hình sự năm 1999 và sửa đổi bổ sung năm 2009, Luật Ngân hàng Nhà nước
và Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, mới đây nhất là Luật Phòng, chống rửa tiền
năm 2012 nhưng các tiêu chí, quy định cụ thể và cập nhật về các nguy cơ và hành
động rửa tiền, các biện pháp phòng chống rửa tiền còn chưa thực sự xác định và
Từ những lý do trên, học viên đã chọn Đề tài: Phòng, chống rửa tiền trong
lĩnh vực ngân hàng- kinh nghiệm pháp lý của một số quốc gia và áp dụng tại Việt
Nam làm Luận văn tốt nghiệp cao học Luật tại trường Đại học Luật Hà Nội.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng là yếu tố quan trọng nhằm
ngăn chặn các mối nguy hiểm của tội phạm rửa tiền đối với hệ thống chính trị, kinh
tế và môi trường đầu tư của nước ta. Dưới góc độ nghiên cứu khoa học nói chung,
một số khóa luận tốt nghiệp ở bậc đại học và Luận văn Thạc sỹ đã đề cập đến vấn
đề rửa tiền và phòng chống rửa tiền ở Việt Nam, có thể kể đến: (i) Phòng, chống
rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam, năm 2010 của tác giả Lê Xuân Hiền,
Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, (ii) Hoạt động phòng, chống rửa tiền ở
Mỹ và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, năm 2010 của tác giả Nguyễn Thị Kim
Oanh, Đại học Ngoại thương Hà Nội, (iii) Rủi ro về rửa tiền và tài trợ khủng bố đối
với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, năm 2010 của tác giả Nguyễn Thị
Minh Thơ, Học viện Tài chính, (iv) Phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam, năm 2013 của tác giả Dương Thị Lim Loan, Đại học Kinh tế
thành phố Hồ Chí Minh; một số đề tài nghiên cứu gồm “Giải pháp phòng chống
rửa tiền tại các NHTM Việt Nam”, năm 2010 của tác giả Phạm Huy Hùng và Hệ
thống giải pháp phòng, chống rửa tiền ở Việt Nam đến năm 2020, năm 2014 của
Nhóm nghiên cứu Cục Phòng, chống rửa tiền, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Ở khía cạnh nghiên cứu Luật học, một số khóa luận tốt nghiệp ở bậc đại học
và Thạc sỹ cũng đã đề cập đến vấn đề này, đó là: (i) “Pháp luật về phòng, chống
rửa tiền trong hoạt động ngân hàng, thực trạng và phương hướng hoàn thiện” năm
2009 của tác giả Tào Thu Minh Nguyệt, Đại học Luật Hà Nội, (ii) Pháp luật về
phòng chống rửa tiền trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, năm 2010 của tác
giả Thiệu Thị Minh Thủy, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh.
Có thể nói, hầu hết các nghiên cứu của các tác giả và nhóm tác giải nêu trên
đã tiếp cận vấn đề về các giải pháp phòng, chống rửa tiền ở khía cạnh hoạt động
1
quốc tế về phòng, chống rửa tiền của các tổ chức quốc tế và một số nước trên thế
giới qua đó rà soát, so sánh với các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động phòng,
chống rửa tiền trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hiện nay cũng như thực tiễn thi
hành, thấy được những tồn tại, vướng mắc cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Trên
cơ sở đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh mảng
pháp luật này.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mac- Lenin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhất là Nghị quyết
số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng tổng
hợp các phương pháp nghiên cứu bao gồm: phương pháp mô tả, phương pháp thống
kê, phân tích, so sánh và tổng hợp,…
- Phương pháp mô tả nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về khung khổ pháp luật
về rửa tiền của một số nước trên thế giới và Việt Nam và đối chiếu các quy định của
pháp luật Việt Nam với pháp luật một số nước trên thế giới và chuẩn mực quốc tế.
- Phương pháp thống kê các số liệu có liên quan nhằm tập hợp các số liệu và
đánh giá thực trạng rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay.
- Phương pháp phân tích những nguy cơ dẫn đến hoạt động rửa tiền được sử
dụng khi đánh giá thực trạng pháp luật về phòng, chống rửa tiền ở Việt Nam.
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong việc đánh giá khái quát, rút ra
kết luận về từng vấn đề trong phạm vi nghiên cứu, cũng như đưa ra các kiến nghị để
hoàn thiện pháp luật về phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng Việt Nam.
6. Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
rửa tiền trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là thực trạng khung khổ pháp lý về
phòng, chống rửa tiền trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.
Bên cạnh đó, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy
Luật Tài chính - ngân hàng, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các
đối tượng liên quan.
Những so sánh, kiến nghị và giải pháp được đưa ra trong luận văn có tính
thực tiễn cao, có thể áp dụng để nâng cao hiệu quả của pháp luật phòng, chống rửa
tiền trong lĩnh vực ngân hàng thời gian tới.
9. Kết cấu của luận văn
Ngoài mục lục, danh mục các từ viết tắt, lời nói đầu, kết luận, tài liệu tham
khảo, luận văn được kết cấu thành 03 chương với các phần chính sau đây:
Chương I. Lý luận về phòng, chống rửa tiền, pháp luật về phòng, chống rửa
tiền của một số quốc gia
Chương II. Thực trạng pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực
ngân hàng tại Việt Nam.
Chương III. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phòng, chống rửa tiền trong
lĩnh vực ngân hàng Việt Nam.
6
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN, PHÁP
LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA
1.1. Tổng quan về hoạt động rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
1.1.1. Khái niệm về rửa tiền
Rửa tiền không phải là một hiện tượng mới trong xã hội phát triển của chúng
ta ngày nay mà đã ra đời và đồng hành cùng dòng chảy lịch sử qua hàng nghìn
năm. Cụm từ “rửa tiền” lần đầu tiên xuất hiện, cùng với mối quan tâm đối với “rửa
tiền” thực sự tăng lên từ vụ bê bối Watergate trên chính trường Mỹ của Tổng thống
Richard Nixon vào những năm 70 của thế kỷ 20. Mặc dù vậy, phải đợi 5 năm sau
pháp của chúng và nhằm hợp pháp hóa những món lợi bất chính từ hành vi phạm
tội”.
Theo khoản 1, Điều 4, Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2012, rửa tiền là hành
vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà
có, bao gồm:
a. Hành vi được quy định trong Bộ luật Hình sự;
b. Trợ giúp cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến tội phạm nhằm trốn tránh
trách nhiệm pháp lý bằng việc hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có;
c. Chiếm hữu tài sản nếu tại thời điểm nhận tài sản đã biết rõ tài sản đó do
phạm tội mà có, nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc tài sản.
Một cách đơn giản, rửa tiền là việc biến đồng tiền phạm pháp thành đồng
tiền hợp pháp để sử dụng.
1.1.2. Đặc điểm
Từ những phân tích nêu trên có thể thấy, mặc dù hiện nay có nhiều cách hiểu
và định nghĩa khác nhau về rửa tiền nhưng nhìn chung hoạt động rửa tiền chứa
đựng một số đặc điểm nhận diện sau:
Một là, nguồn gốc của tiền được rửa là tiền hoặc tài sản có được từ các hoạt
động phạm pháp. Những hoạt động tội phạm này được coi là nguồn của hoạt động
rửa tiền. Đối với từng quốc gia khác nhau thì cách quy định tội phạm nguồn cũng có
sự khác nhau nhưng hầu như được quy định rất rộng. Theo khuyến nghị của FATF
thì có khoảng 20 nhóm tội phạm được chỉ định là tội phạm nguồn của tội rửa tiền
như tội phạm có tổ chức, buôn người, ma túy, tham nhũng…3.
Như vậy, dù nguồn gốc của tiền đem rửa là đa dạng, nhưng bản chất thì đó là
tiền bất hợp pháp có được từ những hoạt động phạm tội.
Hai là, chủ thể của hoạt động rửa tiền rất đa dạng. Đó có thể là người trực
tiếp phạm tội hoặc là người liên quan đến tội phạm hoặc bị mua chuộc, dụ dỗ, đó
2
Lực lượng đặc nhiệm tài chính về chống rửa tiền-FATF, ngày
truy cập 16/5/2016.
Điều này cho thấy hoạt động rửa tiền không chỉ đơn thuần gây nguy hiểm cho từng
quốc gia mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế thế giới nói chung.
Sáu là, hình thức rửa tiền ngày càng trở nên tinh vi, phức tạp hơn. Nếu như
trước đây hoạt động rửa tiền thường sử dụng phương thức mua vàng, đá quý, bất
động sản… bằng tiền mặt thì hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống
tài chính toàn cầu, tội phạm rửa tiền đã hướng đến việc sử dụng hệ thống ngân hàng
để thực hiện các giao dịch tài chính phức tạp, khó lần dấu vết nhằm đưa những
khoản tiền khổng lồ vào hệ thống tài chính thành những khoản thu nhập hợp pháp
làm lũng đoạn nền kinh tế.
9
Hoạt động rửa tiền, bề ngoài có vẻ vô hại nhưng thực tế lại là loại hoạt động
có tổ chức và vô cùng nguy hiểm. Rửa tiền vừa là công cụ, vừa là động lực của các
tổ chức tội phạm. Khi tiền bẩn được đem đi rửa có nghĩa là trước đó đã xảy ra hoạt
động phạm pháp. Tiền có rửa được thì các băng nhóm tội phạm mới tồn tại được và
càng lao vào phạm tội để kiếm tiền bất hợp pháp. Rửa tiền là khâu cuối cùng và
quan trọng nhất trong những hoạt động phạm pháp nhằm đem lại những tài khoản
kếch xù.
Hình minh họa 1. Các nguồn hình thành tiền bẩn
1.1.3. Đối tượng tham gia vào các hoạt động rửa tiền
Đối tượng của hoạt động rửa tiền bao gồm những cá nhân và pháp nhân tham
gia vào quá trình rửa tiền với mong muốn hợp pháp hóa tiền và tài sản có được từ
hoạt động tội phạm và sử dụng tài sản đó.
Có thể xếp những người rửa tiền thành các nhóm sau:
- Những người buôn lậu (ma túy, vũ khí, lao động bất hợp pháp…).
- Những người tham nhũng.
- Những người muốn tránh thuế, nói chung là những người muốn giữ kín thu
và quy mô hơn.
Nhìn chung, hình thức rửa tiền cũng đang trải qua nhiều thay đổi: bên cạnh
hình thức truyền thống như tiền mặt, hệ thống ngân hàng… bọn tội phạm còn sử
dụng nhiều hơn các công cụ và thị trường tài chính khác (như chứng khoán) hoặc
hình thức “hàng đổi hàng” (như ma túy đổi lấy vũ khí).
Từ thập kỷ 1990, “công nghiệp rửa tiền” có thêm nhiều “cú hích” do các thay
đổi về thể chế và chính sách tài chính cũng như những tiến bộ về công nghệ, từ đó
tạo cơ hội cho nạn rửa tiền ngày càng phát triển. Một số điều kiện và “cú hích” có
thể kể đến đó là:
Thứ nhất, Sự khiếm khuyết, chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật
Tội phạm rửa tiền được định nghĩa lần đầu tiên trong Công ước Vienna của
Liên Hợp Quốc từ năm 1988. Đến tháng 7/1989, Nhóm hành động tài chính
(Groupe d'action financière - GAFI) được thành lập với sự tham gia của 130 chuyên
4
Nguyễn Thị Thu Hoài (2015), Tạp chí Tài chính, kỳ 2 số tháng 12-2015, Hà Nội, tr.15-18.
11
gia đến từ 15 quốc gia, và nhóm này đã đưa ra 14 nghị quyết về phòng, chống lạm
dụng hệ thống ngân hàng vào mục đích bất hợp pháp, củng cố hệ thống hình sự của
các nước thành viên và phát triển hợp tác quốc tế. Ở góc độ quốc gia, mãi đến cuối
những năm 1980 và 1990, hầu hết các quốc gia trên thế giới mới đưa tội rửa tiền
vào bộ luật hình sự. Một số nước như: Trung Quốc, Đan Mạch, Bồ Đào Nha,
Luxembourg mới chỉ quy định các tội rửa tiền liên quan tới ma túy. Trong khi đó
các nước như: Đức, Tây Ban Nha, Hy Lạp quy định rửa tiền nằm trong các nhóm
tội phạm nghiêm trọng như: buôn bán ma túy, vũ khí, mại dâm, buôn người. Một số
nước như: Mỹ, Thụy Điển, Pháp, Bỉ, Áo … và Việt Nam lại quy định tội rửa tiền
cho các loại tội phạm.
trên thế giới. Phí giao dịch cũng hạ thấp: phí ngân hàng có thể được giảm tới 40%
khi khách hàng giao dịch qua điện thoai/fax thay vì đích thân đến ngân hàng, và
giảm tới 98% khi dịch vụ ấy được thực hiện qua internet.
Cuối cùng, phải kể đến những lối rửa tiền mới, sử dụng internet. Những trang
web “đen” như trang sex, cờ bạc, cá cược... thường được dùng để rửa tiền vì các cơ
quan chức năng khó có thể truy ra tiền ấy từ đâu đến và vào tay ai5.
Những điều kiện và kẽ hở này đã được bọn tội phạm rửa tiền lợi dụng triệt
để. Trong khi đó, các cơ quan thực thi pháp luật, đặc biệt là Ngân hàng Trung ương
tỏ ra chậm chạp hơn nhiều, nhất là khi thực hiện sự phối hợp với các ngân hàng
thương mại hay với các cơ quan quản lý của các nước. Do vậy, để đảm bảo cho các
nền kinh tế trên thế giới được phát triển một cách bền vững, công tác phòng, chống
rửa tiền phải đặt ra ở tất cả quốc gia trên thế giới, không chỉ ở những nước phát
triển mà còn ở những nước đang phát triển, thông qua việc xây dựng luật phòng,
chống rửa tiền và các văn bản quy phạm pháp luật hướng tới kiểm soát chặt chẽ,
hạn chế những điều kiện như trên để từ đó đẩy lùi dần nạn rửa tiền.
1.1.5. Quy trình và các phương thức rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
Tiền “bẩn” thường có nguồn gốc từ nhiều nguồn khác nhau…tuy nhiên, dù
hình thành từ hành vi phạm tội nào, để tiến hành rửa tiền, những kẻ rửa tiền thường
thực hiện qua các giai đoạn: sắp xếp, phân lớp và hòa nhập trong một quy trình
nhằm biến những đồng tiền có nguồn gốc phi pháp thành những đồng tiền có vẻ
ngoài hợp pháp như sau:
- Giai đoạn 1: sắp xếp (cài đặt)
Đây là giai đoạn đầu tiên trong quy trình rửa tiền liên quan đến việc bố trí
các khoản tiền phi pháp vào trong hệ thống tài chính ngân hàng hoặc các hệ thống
khác. Việc này có thể được thực hiện bằng cách gửi tiền vào các tài khoản ngân
hàng, mua bán chứng khoán, bảo hiểm… Trong giai đoạn này, khả năng phát hiện
ra các giao dịch liên quan đến rửa tiền là cao nhất. Khi thực hiện hành vi phạm tội,
tội phạm thường thích tiền mặt vì tính vô danh, thanh khoản cao, nhưng khi những
đồng tiền này được sắp xếp đưa vào các định chế tài chính và phi tài chính, thì theo
5
mua bán, chuyển tiền và cuối cùng là hòa nhập vào nền kinh tế, lúc này nó dường
như đã trở thành đồng tiền “sạch” và được bọn tội phạm sử dụng mà không lo các
cơ quan thực thi pháp luật lần ra dấu vết.
Về cơ bản, quy trình rửa tiền gồm ba giai đoạn trên. Mặc dù vậy, không phải
vụ rửa tiền nào cũng bắt buộc trải qua tất cả các giai đoạn mà có thể xảy ra theo
từng giai đoạn riêng rẽ và khác biệt, nhưng trong nhiều vụ việc chúng có thể xảy ra
đồng thời, điều này tùy thuộc vào phương thức, thủ đoạn rửa tiền được kẻ rửa tiền
lựa chọn, thực hiện.
14
1.1.6. Cách thức rửa tiền qua hệ thống ngân hàng
Việc nghiên cứu cách thức, thủ đoạn rửa tiền rất hữu ích đối với các nhà
quản lý ngân hàng, giúp các nhà quản lý ngân hàng hiểu được các khách hàng có
dấu hiệu nghi vấn hay không để đưa ra các quy định, biện pháp phòng ngừa kịp
thời.
Có rất nhiều cách để bọn tội phạm có thể rửa tiền như đã trình bày ở trên, tuy
nhiên, dưới góc độ rửa tiền qua hệ thống ngân hàng thì có thể kể đến một số phương
thức chủ yếu sau:
1.1.6.1. Rửa tiền thông qua việc sử dụng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp
- Sử dụng Visa, hộ chiếu giả để mở tài khoản.
- Tiền gửi “tí hon”: phương pháp này đòi hỏi phải chia số tiền lớn thành
những khoản nhỏ thấp hơn hạn mức ngân hàng phải báo cáo giao dịch với cơ quan
chức năng nhằm giảm thiểu nghi ngờ.
- Sử dụng các ngân hàng nước ngoài: bọn rửa tiền thường gửi tiền thông qua
các tài khoản nước ngoài khác nhau ở các nước có luật bảo mật ngân hàng, tức cho
phép giao dịch ngân hàng ẩn danh. Hiện nay, các “thiên đường bảo mật" hàng đầu
bao gồm Thụy Điển, Mỹ, Bahrain, quần đảo Cayman, Hồng Kông, Panama và
Singapore6.
những chịu áp lực ngày càng gia tăng của bọn tội phạm trong nước mà còn phải đối
phó với nguy cơ các tổ chức tội phạm quốc tế lợi dụng bởi lẽ hệ thống ngân hàng và
tài chính ở các nước khác nhau có sự phát triển không tương đồng, với các quốc gia
đang phát triển thì tỷ trọng sử dụng tiền mặt còn khá cao đã trở thành địa chỉ mà
bọn rửa tiền tìm đến. Do vậy, nhằm hạn chế và kiểm soát dần nạn rửa tiền, các tổ
chức quốc tế đã xây dựng nên một hệ thống chuẩn mực quốc tế về phòng, chống rửa
tiền và các văn bản pháp lý quốc tế khác có liên quan, trong đó bao gồm là các
khuôn khổ về phòng, chống rửa tiền qua hệ thống ngân hàng.
1.2.1. Một số vấn đề về phòng, chống rửa tiền
Xét về mặt thời gian, công tác phòng, chống rửa tiền gồm hai giai đoạn: giai
đoạn phòng và giai đoạn chống; và mỗi giai đoạn đều có vai trò nhất định của nó và
có mối liên hệ chặt chẽ, khăng khít với nhau, bổ trợ cho nhau. Giai đoạn phòng
ngừa thường “đi trước” và được thực hiện trước giai đoạn chống. Công tác phòng
ngừa hoạt động rửa tiền được thực hiện bởi “tiền tuyến” - những người, theo chức
năng, nhiệm vụ được phân công của từng tổ chức, có trách nhiệm giao tiếp, tiếp xúc
với các chủ thể có những nguồn tiền phạm tội, bao gồm cả những người có chủ ý và
tìm mọi phương thức để rửa tiền và cả những người vô tình có hành vi rửa tiền mà
không hề hay biết, do sự thiếu hiểu biết về pháp luật.
Nếu hiểu một cách chung nhất thì phòng ngừa hiệu quả hoạt động phòng
chống rửa tiền chính là những biện pháp được triển khai nhằm hạn chế lượng lớn
tiền bẩn, không cho “xâm nhập” hay hòa trộn vào các loại nguồn vốn sạch khác
16
trong nền kinh tế. Đồng nghĩa với điều này, công tác phòng ngừa tội phạm rửa tiền
sẽ góp phần bảo vệ những nhà đầu tư chân chính, đảm bảo hiệu quả khai thác và sự
cạnh tranh lành mạnh của những nguồn vốn sạch. Giai đoạn chống được coi là giai
đoạn sau của công tác phòng, chống rửa tiền. “Chống” đồng nghĩa với việc “xử lý”
khi tiền bẩn đã nằm trong các quy trình rửa tiền nhưng bị các cơ quan chức năng
17
giới. Và như vậy, công tác phòng, chống rửa tiền sẽ minh bạch hóa, lành mạnh hóa
bộ máy nhà nước của một quốc gia, làm gia tăng sự bền vững của hệ thống tài chính
thế giới và tăng cường sự phối kết hợp, tương trợ nhau giữa các quốc gia trên thế
giới. Cơ chế phòng, chống rửa tiền tại các quốc gia trên thế giới hiện nay vô cùng
chặt chẽ, bao gồm khuôn khổ pháp lý đồng bộ liên quan để đảm bảo có một “hàng
rào” bảo vệ vững chắc cho nền kinh tế. Vì vậy, nếu một quốc gia được coi là nơi ẩn
náu của tội phạm rửa tiền hoặc là “thiên đường” để chu chuyển các luồng vốn bất
hợp pháp thì quốc gia đó phải đối mặt với những khó khăn trong mọi quan hệ với
cộng đồng quốc tế. Các quốc gia trên thế giới sẽ áp dụng các biện pháp đối kháng
như: hạn chế hoặc chấm dứt mối quan hệ ngân hàng đại lý, không cho mở mới hoặc
rút giấy phép hoạt động của các chi nhánh của các định chế tài chính, tăng cường
kiểm soát đối với mọi giao dịch phát sinh liên quan đến tổ chức, cá nhân của quốc
gia đó hoặc phát sinh có liên quan đến quốc gia đó. Khi bị đánh giá là một quốc gia
có cơ chế phòng, chống rửa tiền yếu kém, một quốc gia có thể bị giảm sút về uy tín
trên trường quốc tế, nguồn vốn đầu tư nước ngoài sẽ bị giảm sút và sẽ chịu nhiều
chi phí, lãi suất cao hơn so với những quốc gia được đánh giá là có hệ thống phòng,
chống rửa tiền mạnh. Chính vì vậy, công tác phòng, chống rửa tiền có hiệu quả sẽ
làm gia tăng uy tín của một quốc gia, từ đó củng cố được lòng tin của các nhà đầu
tư và thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài hơn.
1.2.2. Sự cần thiết phải có pháp luật về phòng chống rửa tiền
Hiện nay, cùng với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế thì sự giao lưu kinh tế
giữa các quốc gia vì đó cũng phát triển theo. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của
kinh tế xã hội thì hoạt động rửa tiền vì thế cũng phát triển theo dòng lưu chuyển vốn
tự do đó. Như đã phân tích ở trên hoạt động rửa tiền có tác hại rất nghiêm trọng tới
kinh tế - xã hội và hệ thống ngân hàng của một quốc gia. Vì vậy, phòng chống rửa
tiền là một việc làm cần thiết và cấp thiết. Có nhiều phương pháp để phòng, chống
nhằm tạo ra các thiết chế xuyên quốc gia để những nỗ lực phòng, chống rửa tiền
hiệu quả hơn trên thực tế.
Tóm lại, công cuộc phòng, chống rửa tiền hiện nay đang yêu cầu các quốc gia
phải có một hệ thống quy phạm pháp luật phòng, chống rửa tiền đủ mạnh và yêu
cầu về công tác hợp tác quốc tế để ngăn chặn và chống lại các hành vi rửa tiền cũng
như tháo gỡ hậu quả mà rửa tiền gây ra.
1.2.3. Pháp luật phòng chống rửa tiền của một số nước trên thế giới
1.2.3.1. Pháp luật về phòng, chống rửa tiền tại Mỹ
Mỹ là nước có hệ thống luật pháp về phòng, chống rửa tiền toàn diện và
nghiêm ngặt nhất trên thế giới, trong đó tất cả các tổ chức tài chính và nhân viên
đều phải tuân theo Đạo luật bảo mật ngân hàng (BSA) năm 1970 và Đạo luật sửa
đổi, bổ sung BSA (BSA*). Mục đích của BSA và BSA* là tạo ra một khung khổ
pháp lý tạo điều kiện điều tra tội phạm trốn thuế, rửa tiền… bằng cách yêu cầu các