NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
----------------oOo----------------
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐẢM BẢO AN TOÀN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
VIỆT NAM TRÊN CƠ SỞ ÁP DỤNG HIỆP ƯỚC
TIÊU CHUẨN VỐN BASEL II VÀ BASEL III
Người thực hiện: Ths.NGUYỄN ĐỨC TRUNG (Chủ nhiệm)
Ths.Hoàng Thị Kim Thanh
Bùi Thanh Hương
Phạm Mạnh Hùng
Phan Anh
HÀ NỘI, 2012
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
----------------oOo----------------
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐẢM BẢO AN TOÀN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
Chương 2 Kinh nghiỆm CÁC QUỐC GIA trên thẾ GIỚI khi áp dỤng hIỆP ƯỚC
TIÊU CHUẨN VỐN Basel ii VÀ iii.......................................................................29
2.1. Kinh nghiỆm cỦa MỸ khi áp dỤng khuyẾn nghỊ cỦa Ủy ban Basel [2], [3].......29
2.1.1. Lộ trình áp dụng Basel II ở Mỹ......................................................................29
2.1.2. Kinh nghiệm các NHTM của Mỹ chuẩn bị cho Basel II................................30
2.2. Kinh nghiỆm cỦa Hàn QuỐc khi áp dỤng khuyẾn nghỊ cỦa UỶ ban Basel [25]30
2.2.1. Kế hoạch tuân thủ và thực hiện Basel II tại Hàn Quốc..................................30
2.3. Kinh nghiỆm cỦa Trung QuỐc khi áp dỤng khuyẾn nghỊ cỦa Ủy ban Basel [5]32
2.4. Bài hỌc kinh nghiỆm cho ViỆt Nam trong áp dỤng Basel...................................35
2.4.1. Bài học về các điều kiện áp dụng Hiệp ước tiêu chuẩn vốn Basel.................35
2.4.2. Kinh nghiệm triển khai hiệp ước tiêu chuẩn vốn Basel.................................37
TÓM TẮT CHƯƠNG 2..........................................................................................38
Chương 3 THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO AN TOÀN ĐỐI VỚI HỆ THỐNG NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM.......................................................................39
3.1. Tình hình an toàn hỆ thỐng ngân hàng thương mẠi ViỆt Nam............................39
3.1.1. Tình hình đảm bảo an toàn vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam....39
3.1.2. Tình hình rủi ro tín dụng tại các ngân hàng...................................................42
3.1.3. Rủi ro thanh khoản và khả năng quản trị rủi ro của các NHTM....................46
3.1.4. Rủi ro lãi suất và khả năng quản trị rủi ro của các NHTM.............................48
3.1.5. Rủi ro hoạt động và khả năng quản lý rủi ro của các NHTM.........................50
3.1.6. Thực trạng giám sát an toàn hệ thống NHTM của các cơ quan giám sát ngân
hàng......................................................................................................................... 52
3.2. MỘt sỐ đánh giá thỰc trẠng an toàn ngân hàng tẠi ViỆt Nam quy chiẾu theo
khuyẾn nghỊ cỦa Ủy ban Basel...................................................................................56
3.2.1. Vấn đề an toàn vốn so với khuyến nghị của Ủy ban Basel............................56
3.2.2. Vấn đề quản trị rủi ro tín dụng so với khuyến nghị của Ủy ban Basel...........58
3.2.3. Vấn đề quản trị rủi ro thanh khoản so với khuyến nghị của ủy ban Basel.....59
3.2.4. Vấn đề quản trị rủi ro thị trường so với khuyến nghị của Ủy ban Basel........59
4.3.3. Giải pháp áp dụng Basel II & III đối với quản lý an toàn vốn tại NHTM......98
4.3.4. Phòng ngừa rủi ro hệ thống cho các NHTM Việt Nam..................................99
4.3.5. Giải pháp đảm bảo tính minh bạch thông tin...............................................101
4.4. Các kiẾn nghỊ nhẰm đẢm bẢo an toàn cho hỆ thỐng ngân hàng ViỆt Nam.....102
4.4.1. Kiến nghị về đảm bảo môi trường vĩ mô ổn định cho việc áp dụng Basel II và
Basel III tại Việt Nam............................................................................................102
4.4.2. Kiến nghị với Chính phủ nhằm tạo điều kiện tái cơ cấu hệ thống ngân hàng theo
định hướng áp dụng Basel II & III.........................................................................104
4.4.3. Kiến nghị xây dựng cơ quan giám sát tài chính hợp nhất thực hiện chức năng
giám sát toàn diện hệ thống ngân hàng..................................................................104
TÓM TẮT CHƯƠNG 4........................................................................................109
KẾT LUẬN...........................................................................................................110
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................111
PHỤ LỤC 1: KẾt quẢ kiỂm đỊnh các khuyẾt tẬt cỦA mô hình.........................114
PHỤ LỤC 2: MẪU BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU VỀ THỰC TRẠNG AN TOÀN
HOẠT ĐỘNG CÁC NHTM VIỆT NAM..............................................................115
PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ BÁO CÁO KHẢO SÁT TỔNG HỢP............................118
i
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt
Tên đầy đủ bằng tiếng Việt
AI
Tổ chức chịu sự giám sát
AMA
Phương pháp chỉ số cơ bản
BIS
Ngân hàng Thanh toán Quốc tế
BIDV
Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam
CAR
Tỷ lệ vốn tối thiểu
CBRC
Ủy ban Quản lý ngân hàng Trung Quốc
CCR
Hệ số vốn cơ bản
CQGSTCQG
Cơ quan giám sát tài chính quốc gia
CTG
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Ủy ban giám sát tài chính Hàn Quốc
FSS
Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
GSTCQGVN
Giám sát tài chính quốc gia Việt Nam
HĐQT
Hội đồng quản trị
HKMA
Cơ quan tiền tệ Hồng Kông
ii
Chữ cái viết tắt
Tên đầy đủ bằng tiếng Việt
HBB
Long
NCUA
Cục quản lý liên hiệp tín dụng Mỹ
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHTMCP
Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN
Ngân hàng thương mại Nhà nước
NHTW
Ngân hàng Trung ương
NVB
NHTM Cổ phần Nam Việt
Ủy ban về Chứng khoán & hợp đồng tương lai
SIFI
Tập đoàn tài chính
SME
Các công ty vừa và nhỏ
SSA
Phương pháp chuẩn hóa giản đơn
STB
NHTM Cổ phần Sài gòn thương tín
SCB
NHTM Cổ phần Sài Gòn Công thương
SHB
NHTM Cổ phần Sài Gòn – Hà Nội
TBTF
Quá lớn không thể đổ vỡ
UBGSTCQG
Ủy ban giám sát tài chính quốc gia
UBGSTCNN
Ủy ban giám sát tài chính Nhà nước
Ủy ban ALCO
Ủy ban quản lý tài sản nợ - có
Vietinbank
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Vietcombank
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
VCB
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
WB
Ngân hàng Thế giới
iv
29.
Tên bảng và hình
Trang
Bảng 1.1: Chi ngân sách để tái cấp vốn cho NHTM sau khủng hoảng.............
3
Hình 1.1: Ba mươi năm hiệp ước vốn ngân hàng............................................. 17
Hình 1.2: Cơ cấu của hiệp ước Basel II............................................................ 19
Bảng 1.2: Hệ số β trong phương pháp chuẩn với rủi ro hoạt động................... 26
Hình 1.3: Basel III cải cách các quy định vốn ngân hàng................................. 25
Bảng 1.3: Cơ cấu đặc trưng bền vững - cẩn trọng vi mô.................................. 27
Bảng 3.1: Vốn tự có và hệ số CAR của các NHTM NN thời điểm 31/12/2005 56
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp vốn tự có của hệ thống NHTM đến 31/12/2005...... 57
Bảng 3.3: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của một số NHTM................................. 57
Bảng 3.4: Tỷ lệ an toàn vốn của toàn ngành Ngân hàng năm 2010-2011
58
Bảng 3.5: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của một số NHTM năm 2010................ 58
Hình 3.1: Vốn điều lệ của các NHTM đến 30/6/2011...................................... 59
Bảng 3.6: Tình hình nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam qua các năm... 59
Bảng 3.7: Tỷ lệ tăng/giảm chất lượng cho vay của 8 NHTM đang niêm yết
quý I.2011 so với cuối năm 2010..................................................................... 60
Hình 3.2: Tỷ trọng tiền gửi và cho vay các TCTD khác................................... 65
Hình 3.3: Tỷ trọng tiền gửi và vay từ các TCTD khác..................................... 65
Hình 3.4: Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi khách hàng tính đến tháng 9/2011 66
Bảng 3.8: Huy động vốn của ngân hàng Việt Nam theo kỳ hạn....................... 66
Bảng 3.9: Thống kê sai sót trong nghiệp vụ luân chuyển chứng từ hạch toán
kế toán các NHTM năm 2007-2008................................................................. 72
Bảng 3.10: Thống kê các dấu hiệu rủi ro liên quan đến hệ thống công nghệ
thông tin các NHTM từ năm 2007-2009.......................................................... 73
Bảng 3.11: Mức đủ vốn, chất lượng tài sản của các công ty cho thuê tài chính 75
38. Bảng 4.3: Các chỉ số tài chính cho từng nhóm nghiệp vụ................................ 126
39. Bảng 4.4: Hệ số rủi ro liên quan cho từng nhóm nghiệp vụ............................. 126
40. Bảng 4.5: Dự kiến quy mô ngân hàng trước và sau tái cơ cấu......................... 139
41. Bảng 4.6: Lộ trình xây dựng mô hình giám sát NH giai đoạn 2012- 2015....... 149
42. Hình 4.1: Quan hệ giữa các mục tiêu giám sát tài chính.................................. 151
43. Bảng 4.7: Lộ trình hoàn thiện mô hình giám sát tài chính 2016-2020.............. 151
vi
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xuất phát từ nhu cầu đảm bảo tính thống nhất trong đánh giá hoạt động các
NHTM trên thế giới đồng thời hỗ trợ các quốc gia xây dựng những phương pháp quản
lý hiệu quả đối với hệ thống ngân hàng, ủy ban Basel đã chính thức công bố Hiệp ước
tiêu chuẩn vốn Basel II vào tháng 6/2006. Đến tháng 7/2009, ủy ban Basel tiếp tục ban
hành Hiệp ước tiêu chuẩn vốn Basel III nhằm hoàn thiện hơn nữa các khuyến nghị về
bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng. Cho đến nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã và
đang xây dựng lộ trình cũng như các giải pháp để áp dụng hiệu quả Basel II và Basel
III nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng.
Đối với Việt Nam, xuất phát từ nhu cầu đảm bảo an toàn trong hoạt động cũng
như hướng tới tuân thủ thông lệ quốc tế, hệ thống NHTM đứng trước ba yêu cầu: (i)
Các NHTM cần thực hiện hiệu quả các nguyên tắc quản trị rủi ro; (ii) Đổi mới hoạt
động giám sát hệ thống ngân hàng nhằm thực hiện đúng vai trò bảo đảm sự an toàn
của hệ thống; (iii) Đảm bảo minh bạch thông tin theo chuẩn mực quốc tế nhằm nâng
cao hiệu quả giám sát an toàn hệ thống ngân hàng. Điều kiện tiên quyết để thực hiện
ba yêu cầu trên chính là áp dụng thành công Basel II và Basel III tại Việt Nam. Chính
vì vậy, việc nghiên cứu các lý luận về an toàn hệ thống ngân hàng, các luận cứ khoa
học về áp dụng tiêu chuẩn vốn Basel II và III, đánh giá thực trạng cũng như tìm ra các
giải pháp đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng trên cơ sở áp dụng các khuyến nghị của
ủy ban Basel đã và đang tiếp tục được đặt ra. Xuất phát từ yêu cầu trên, đề tài: “Đảm
đảm bảo an toàn hệ thống NHTM.
2.2. Đối với tình hình nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, chưa có công trình khoa học nào đề cập một cách hệ thống các
nội dung liên quan đến Basel I, Basel II và Basel III cũng như giải pháp toàn diện để
áp dụng hiệp ước tiêu chuẩn vốn quốc tế vào Việt Nam nhằm đảm bảo an toàn hệ
thống NHTM. Tuy nhiên, cũng có một số tài liệu tham khảo và công trình nghiên cứu
đã truyền tải những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nội dung áp dụng các
khuyến nghị của ủy ban Basel vào Việt Nam. Mặc dù vậy, các nghiên cứu trên thường
phân tán, xét trên một hoặc một số khía cạnh riêng lẻ của hệ thống các khuyến nghị
của ủy ban Basel. Cụ thể như sau:
- Đã xuất hiện một số bản dịch về Basel II tại Việt Nam, cụ thể là bản dịch “Basel
II, Sự thống nhất quốc tế về đo lường và các tiêu chuẩn vốn”, do tác giả Khúc Quang Huy
biên dịch năm 2008 thông qua NXB Văn hóa - Thông tin. Tuy nhiên bản dịch này chưa
thể hiện rõ nét và làm người đọc dễ hiểu vì xuất hiện quá nhiều lỗi thuật ngữ.
- Trong năm 2006 và đầu năm 2007, NHNN đã tổ chức nhiều Hội thảo nghiên
cứu Basel II. Tuy nhiên, các Hội thảo vẫn chưa đề cập toàn diện các nội dung của
Basel II, đặc biệt là nội dung “Tăng cường khả năng kiểm soát của Thị trường” - cột
trụ thứ 3 của Basel II.
- Năm 2006, TS Tô Ánh Dương và nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài nghiên
cứu khoa học Ngành Ngân hàng “Những giải pháp để NHTM Việt Nam tiếp cận và áp
dụng hệ thống chuẩn mực đánh giá an toàn ngân hàng theo thỏa ước Basel II”. Đề tài
này đã cho một bức tranh khá toàn diện về Basel II cũng như thực trạng tình hình áp
dụng Basel của Việt Nam tính đến hết năm 2005.
viii
- Năm 2009, chuyên gia Peter Hayward thuộc Dự án TA 7087 VIE của ADB:
“Hỗ trợ Phát triển Thị trường vốn và Nâng cao Năng lực cho khu vực tài chính: Cơ
cấu thanh tra giám sát” cũng tiến hành phân tích thực trạng hoạt động giám sát ngân
hàng trong mối quan hệ đảm bảo an toàn hệ thống NHTM. Tuy nhiên, nghiên cứu này
khuyến nghị của ủy ban Basel, từ đó rút ra các bài học đối với Việt Nam trong khả
năng, điều kiện và lộ trình áp dụng các khuyến nghị của ủy ban Basel nhằm đảm bảo
an toàn hệ thống ngân hàng.
ix
3.2. Về khía cạnh thực tiễn
- Đánh giá toàn diện thực trạng đảm bảo an toàn của hệ thống NHTM Việt Nam
trên cơ sở so sánh với các khuyến nghị của ủy ban Basel.
- Xây dựng lộ trình phù hợp cho Việt Nam trong áp dụng Basel II và Basel III.
- Xây dựng giải pháp đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam trên cơ
sở áp dụng toàn diện 3 trụ cột của Basel II và các khuyến nghị mới của Basel III.
4. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu được áp dụng trong vòng 6 năm từ năm 2005 đến 9 tháng
đầu năm 2011. Công trình sẽ đánh giá hoạt động quản lý rủi ro và tính minh bạch trong
thông tin của các NHTM Việt Nam. Bên cạnh đó, công trình tập trung đánh giá hoạt
động giám sát của NHNN trên cơ sở đối chiếu với các khuyến nghị của ủy ban Basel.
Đồng thời, công trình cũng sẽ đánh giá kế hoạch thực hiện, đề án thực hiện, phạm vi
và phương pháp áp dụng hiệp ước tiêu chuẩn vốn Basel của Mỹ, Hàn Quốc và Trung
Quốc để làm cơ sở bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Do Basel III chưa chính thức
áp dụng tại các quốc gia nên đề tài sẽ không đề cập đến các kinh nghiệm áp dụng
Basel III. Bên cạnh đó, đối với rủi ro thị trường, đề tài tập trung vào các nghiên cứu về
RRLS bởi đây là một trong những nội dung được nhấn mạnh trong quản trị rủi ro theo
khuyến nghị của ủy ban Basel.
5. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp triết học biện chứng và duy vật lịch sử thường được sử
dụng trong nghiên cứu khoa học nói chung, đề tài đặc biệt chú ý sử dụng các phương
pháp khảo sát, thống kê, so sánh, phân tích - tổng hợp, diễn dịch, quy nạp để xử lý số
liệu. Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng các sơ đồ, bảng biểu, đồ thị và mô hình kinh tế
lượng để làm tăng thêm tính trực quan và sự thuyết phục của luận án. Trên cơ sở các
- Chương 3: Thực trạng đảm bảo an toàn đối với hệ thống NHTM Việt Nam
- Chương 4: Giải pháp đảm bảo an toàn hệ thống NHTM Việt Nam theo hiệp
ước tiêu chuẩn vốn quốc tế Basel
1
Chương 1
LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
TRÊN CƠ SỞ ÁP DỤNG HIỆP ƯỚC TIÊU CHUẨN VỐN QUỐC TẾ BASEL
1.1. CƠ SỞ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Những vấn đề cơ bản về an toàn hệ thống ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Quan điểm về an toàn hệ thống ngân hàng thương mại
Cho đến nay, trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân
hàng. Trong đó, các nghiên cứu của Lindgren (1996) và Van Sluijs (2006) đã đưa ra quan niệm khá
toàn diện về ngân hàng an toàn. Trong khi đó, Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
đã đưa ra quan điểm không những rộng rãi hơn về sự an toàn của hệ thống NHTM mà còn cả hệ thống
tài chính bao gồm những yếu tố quốc tế. Tại Việt Nam, quan niệm về an toàn ngân hàng và hệ thống
ngân hàng an toàn cũng đã được đề cập bởi nhiều nghiên cứu. Tuy nhiên, tính hệ thống và chuyên sâu
của các nghiên cứu chưa cao. Các nghiên cứu thường đề cập đến khái niệm bền vững NHTM nhưng
dường như chỉ tập trung vào vấn đề tài chính, vấn đề thanh khoản của NHTM và đối với từng ngân
hàng hơn là một hệ thống ngân hàng. Trên thực tế, chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về sự bền
vững của các NHTM với sự tương tác qua lại giữa chúng với nhau cũng như giữa chúng với môi
trường kinh tế. Theo quan điểm của tác giả, an toàn ngân hàng cần được xem xét trên giác độ vi mô và
vĩ mô. Cụ thể như sau:
1.1.1.1.1. Quan điểm an toàn với một NHTM - xét trên góc độ vi mô
An toàn ngân hàng đứng trên giác độ vi mô có thể hiểu là việc hạn chế những rủi ro mang tính
đặc thù của từng ngân hàng từ đó hướng tới đảm bảo sự an toàn cho từng ngân hàng riêng lẻ. Theo
Lindgren (1996), ngân hàng an toàn hay ngân hàng bền vững là một khái niệm thường được dùng để
chỉ khả năng tài chính của ngân hàng ở một chừng mực mà có thể tồn tại, chịu đựng, chống đỡ trước
các tác động bất lợi của môi trường bên ngoài (các cú sốc) [6]. Như vậy, một ngân hàng hoạt động an
1.1.1.2. Sự cần thiết của đảm bảo an toàn ngân hàng
Trên phương diện giám sát, các tổ chức tài chính hàng đầu thế giới như IMF, WB và BIS đã
khuyến cáo các quốc gia cần tuân thủ phương pháp luận cũng như khuôn khổ phân tích cẩn trọng, an toàn
đối với thị trường tài chính và ngân hàng. Nếu xét trên góc độ quản trị công ty hiện đại, yêu cầu đối với
quản lý rủi ro và đảm bảo an toàn ngân hàng luôn được đặc biệt quan tâm. Thực tế đã cho thấy các loại
rủi ro đối với NHTM dường như không thay đổi theo thời gian nhưng tính chất của chúng đã liên tục
biến đổi do nhiều yếu tố. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng từ tính chất hoạt động của ngân hàng và những
thay đổi liên tục của môi trường… đã đặt ra yêu cầu về đảm bảo an toàn đối với mọi ngân hàng và hệ
thống ngân hàng [20]. Các lý do dưới đây đặt ra yêu cầu về quản lý rủi ro hay đảm bảo an toàn đối với
ngân hàng một cách thường xuyên:
(i) Môi trường kinh doanh luôn thay đổi: nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa với cạnh tranh
gay gắt đòi hỏi ngân hàng phải quản lý, kiểm soát cũng như hạn chế rủi ro ở một mức nhất định;
(ii) Người gửi tiền và các chủ nợ: Khi ngân hàng đổ vỡ, tính lây lan đến cả hệ thống NHTM và
ra ngoài hệ thống rất cao. Từ đó, những hiệu ứng tiêu cực tới xã hội cũng rất sâu rộng... Thực tế cho
thấy, khi khủng hoảng ngân hàng, Chính phủ các nước thường phải đổ rất nhiều tiền ra ngăn chặn.
Thường các cuộc khủng hoảng ngân hàng kéo theo các cuộc khủng hoảng nợ công. Cuộc khủng hoảng
tài chính tiền tệ 2007-2008 khởi nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn ở Mỹ là một bài học
cho cả thế giới về vấn đề an toàn với hoạt động của ngân hàng.
Bảng 1.1: Chi ngân sách để tái cấp vốn cho NHTM sau khủng hoảng
Quốc gia
Thời gian cấp vốn
Chi phí ngân sách bỏ ra (% GDP)
Chi Lê
1981-83
41,1
Hung gari
1991-95
12,2
Inđônêsia
1997-1999
năng thanh toán của ngân hàng;
(v) Chính phủ, NHTW và Bảo hiểm tiền gửi: khi ngân hàng rủi ro, mất vốn, đổ vỡ, điều đầu tiên
là xã hội mất ổn định và lạm phát bùng nổ. Chính phủ và NHTW có thể phải bỏ tiền ra (kể cả in tiền)
để cứu vớt các ngân hàng đổ vỡ (ít nhất là để trả tiền cho người gửi tiền) và bù đắp phần vốn đã thất
thoát. Khi hệ thống tài chính rủi ro, yếu kém thì hệ thống ngân hàng cũng trở nên "kém tín nhiệm" và
3
ảnh hưởng đến khả năng huy động các nguồn lực của hệ thống ngân hàng cho tăng trưởng kinh tế.
Từ các yêu cầu trên cho thấy, vấn đề đảm bảo an toàn của hệ thống NHTM xuất phát từ nhiều
góc độ lợi ích cơ bản khác nhau, tựu trung gồm: lợi ích của ngân hàng; đảm bảo vận hành tốt chính
sách tiền tệ, tính thực thi và hiệu quả của các chính sách Nhà nước; và đảm bảo phúc lợi của xã hội.
1.1.2. Nội dung đánh giá an toàn hệ thống ngân hàng
Nhìn chung, nói đến mức độ an toàn của NHTM, người ta thường đề cập đến yếu tố tài chính là
vốn của NHTM. Tuy nhiên các quan điểm mới về đánh giá ngân hàng đều cho rằng “không thể lấy vốn
để thay cho quản lý tốt”, hay vấn đề quản trị cần được tương xứng với vấn đề vốn hay nói cách khác cần
nhiều các yếu tố khác mới tạo nên sự vững mạnh của NHTM [18]. Các chỉ số bền vững tài chính hay
đảm bảo an toàn trên phương diện vĩ mô cho phép cơ quan quản lý đánh giá hệ thống tài chính ngân hàng
một cách toàn diện hơn, tổng thể hơn mà nhiều khi sử dụng các chỉ số bền vững tài chính ở góc độ vi mô
không thể nhận thấy được [17]. Hiện tại, chưa có một hệ thống thống nhất toàn cầu điều tiết và đánh giá
hoạt động ngân hàng trên toàn thế giới. Chức năng giám sát này đang bị thực hiện phân tán và không đầy
đủ bởi ba loại hình tổ chức gồm: (i) các tổ chức hoạt động thường xuyên như IMF và WB; (ii) các tổ
chức có tính chất hiệp hội như BIS, Hội đồng Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế (IASB) và (iii) các tổ chức
thuộc các quốc gia như NHTW, cơ quan giám sát tài chính quốc gia, các tổ chức đánh giá tín nhiệm...
IMF và WB dường như không có vai trò lớn trong việc đánh giá hoạt động ngân hàng toàn cầu ngoài vai
trò thực hiện một số nghiên cứu, dự báo hay đưa ra những cảnh báo sớm. BIS là hiệp hội NHTW của các
nước phát triển với các cấu phần quan trọng như: Uỷ ban Basel về đánh giá hoạt động ngân hàng, Uỷ ban
về hệ thống thanh toán toàn cầu, Uỷ ban về hệ thống tài chính toàn cầu, đóng vai trò như một tổ chức
chuyên nghiên cứu và xây dựng các chuẩn mực cho hoạt động tài chính toàn cầu. IASB tập trung vào
việc xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế toán. Về mặt pháp lý, không có luật lệ chung đánh giá hoạt
thống đánh giá CAMELS do Cục quản lý liên hiệp tín dụng Mỹ (National Credit Union Administration
- NCUA) xây dựng [14]. Đây là hệ thống phân tích nhằm đánh giá mức độ an toàn, khả năng sinh lời
và thanh khoản của ngân hàng. Phân tích theo chỉ tiêu CAMELS dựa trên 6 yếu tố cơ bản được sử dụng
để đánh giá hoạt động của một ngân hàng, đó là: Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy), Chất lượng
tài sản có (Assset Quality), Quản lý (Management), Lợi nhuận (Earnings), Thanh khoản (Liquidity) và
Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (Sensitivity to Market Risk).
* Mức độ an toàn vốn
Mức độ an toàn vốn ở đây được hiểu là ngân hàng có đủ vốn tự có để làm nền tảng cho sự tăng
trưởng, giúp ngân hàng chống lại rủi ro, duy trì niềm tin của công chúng và của các cổ đông vào khả
năng quản lý và phát triển của ngân hàng. Khi tất cả các phương pháp ngăn chặn rủi ro không còn hiệu
quả thì vốn tự có của ngân hàng được coi như biện pháp cuối cùng. Vốn tự có sẽ bù đắp cho các tổn
thất bắt nguồn từ các khoản cho vay thiếu hiệu quả, từ sự quản lý yếu kém, giúp ngân hàng có thể giữ
vững hoạt động cho tới khi các vấn đề khó khăn được giải quyết [18]. Với ý nghĩa quan trọng như vậy,
giám sát mức độ đủ vốn được coi như một trong yếu tố quan trọng nhất trong đánh giá mức độ an toàn
ngân hàng. Các cơ quan quản lý ngân hàng của các quốc gia thường đưa ra hệ thống tiêu chuẩn áp dụng
để xác định mức độ đủ vốn của ngân hàng. Những tỷ lệ được áp dụng để xác định mức độ đủ vốn của
ngân hàng gồm: (i) Vốn tự có/Tổng tiền gửi; (ii) Vốn tự có/Tổng tài sản; (iii) Vốn tự có/Tổng tài sản
rủi ro. Theo đó, các cơ quan quản lý ngân hàng sẽ yêu cầu các mức tối thiểu mà NHTM phải đạt được
để chứng minh mức độ an toàn vốn. Để đảm bảo tính hợp lý trong đánh giá, việc xác định mức độ đủ
vốn thường được đặt trong môi trường mà NHTM hoạt động cũng như trong mối quan hệ với các điều
kiện nội lực của chính NHTM đó như: (i) chất lượng quản lý; (ii) tính thanh khoản của tài sản; (iii) thu
nhập của ngân hàng qua các năm; (iv) chất lượng của vấn đề sở hữu; (v) chi phí nắm giữ tài sản; (vi)
chất lượng hoạt động; (vii) sự biến động trong nguồn tiền gửi và (viii) những điều kiện thị trường. Hơn
thế, việc đánh giá an toàn vốn trong ngân hàng còn nhấn mạnh việc xem xét tính hợp lý của kế hoạch
dài hạn cho việc quản lý và phát triển vốn tự có. Các chủ thể đánh giá sẽ xem xét sự phù hợp trong cả
bốn bước của quy trình: (1) Bước 1: Thiết lập kế hoạch tài chính tổng thể cho ngân hàng; (2) Bước 2:
Căn cứ vào mục tiêu hoạt động, các dịch vụ dự định cung ứng, mức rủi ro có thể chấp nhận và các quy
định của cơ quan quản lý, ngân hàng xác định quy mô vốn hợp lý; (3) Bước 3: Xác định lượng vốn có
thể được tạo ra từ việc không chia lợi nhuận; (4) Bước 4: Đánh giá và lựa chọn nguồn vốn phù hợp
nhất với những nhu cầu và mục tiêu của ngân hàng [18]. Hiện tại, để đánh giá an toàn vốn, nhiều quốc
đó tính toán chuẩn xác hơn khối lượng vốn tối thiểu mà họ cần nắm giữ, tối ưu hóa lượng vốn đầu tư
trên cơ sở vừa đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng vừa tránh lãng phí vốn, giảm thiểu chi phí
vốn phải trả cho nhà đầu tư. Ngoài ra, các chủ thể đánh giá có thể sử dụng các chỉ tiêu phản ánh RRTD
như tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, hệ số dự phòng RRTD để đánh giá chất lượng tín dụng. Đối với đo
lường RRTD của một khoản vay, các NHTM có thể sử dụng thông qua các mô hình cho điểm tín dụng
cũng như mô hình IRB theo Basel II. Nếu các mô hình cho điểm tín dụng đánh giá rủi ro của khách
hàng trên cơ sở cho điểm khách hàng, từ đó xem khách hàng ở mức độ rủi ro nào thì theo Basel II, IRB
sẽ xác định được xác suất rủi ro vỡ nợ từ đó xác định được tổn thất dự kiến.
Như vậy, khi chất lượng tài sản ngân hàng, đặc biệt là các khoản cho vay, đạt yêu cầu, NHTM sẽ
minh chứng hiệu quả cho các chủ thể đánh giá về mức độ an toàn của mình.
* Đánh giá năng lực quản lý của NHTM
Đối với năng lực quản lý, các chủ thể đánh giá thường xem xét các yếu tố như kinh nghiệm,
trình độ chuyên môn, kỹ năng quản trị, tầm nhìn chiến lược của đội ngũ quản lý ngân hàng. Hơn thế,
những thành công trong quá khứ đối với quản trị ngân hàng trước điều kiện khó khăn của thị trường
cũng được xem như một nội dung quan trọng để đánh giá năng lực quản lý. Đội ngũ quản lý được hiểu
từ Hội đồng quản trị, Ban tổng giám đốc, các giám đốc chi nhánh đến đội ngũ lãnh đạo cấp trung gian
như trưởng, phó phòng nghiệp vụ. Bên cạnh đó, việc phát triển đội ngũ lãnh đạo kế nhiệm cũng được
xem như một tiêu chí đánh giá năng lực quản lý của NHTM. Rõ ràng, nếu năng lực quản lý không bảo
đảm, NHTM không thể được coi là hoạt động an toàn.
* Đánh giá khả năng sinh lợi của NHTM
Khả năng sinh lợi phản ánh sức mạnh tài chính NHTM. Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đo
lường khả năng sinh lời gồm ROE, ROA hoặc các chỉ tiêu như EPS, P/E … đối với các NHTM niêm
yết trên thị trường chứng khoán. Trong vấn đề này, tính minh bạch và độ tin cậy của các báo cáo tài
chính được xem là yếu tố tiên quyết. Bởi, các phân tích sinh lời được dựa trên kết quả của báo cáo tài
chính. Bên cạnh đó, theo nhiều quan điểm hiện đại, việc đánh giá mức độ sinh lời còn liên quan đến kế
hoạch phân phối lợi nhuận của ngân hàng. Theo đó, kế hoạch chia thưởng cho đội ngũ lãnh đạo, nhân
viên cũng như chính sách cổ tức phản ánh mức độ bền vững của khả năng sinh lợi của NHTM. Bởi nếu
những chính sách trên không phù hợp, lợi nhuận giữ lại quá thấp sẽ dẫn đến việc tăng trưởng vốn tự có
từ nguồn nội bộ bị suy giảm. Hệ lụy là khả năng tăng trưởng tài sản sinh lợi ngân hàng sẽ bị hạn chế
(phần lớn các quốc gia đều có những giới hạn về tăng trưởng tài sản sinh lời của ngân hàng theo mức
với NHTM như sau [18]:
RRTK ở mức thấp
- NHTM sẵn có nguồn tài
trợ và có lợi thế cạnh tranh
về chi phí khi xảy ra thiếu
hụt thanh khoản.
- Nguồn tài trợ được đa dạng
hóa, không bị lệ thuộc hoặc
ít bị lệ thuộc vào các nguồn
tài trợ lớn được cung cấp bởi
một số ít nhà cung cấp vốn.
- Khả năng tăng thanh khoản
thông qua việc có thể dễ
dàng bán các tài sản.
- NHTM không bị rơi vào
trạng thái thiếu hụt thanh
khoản nghiêm trọng khi có
những thay đổi ngược chiều
trên thị trường.
- NHTM có thể được nhận
trợ giúp tốt từ NHTM mẹ.
- Ảnh hưởng đến thu nhập
và vốn trước những RRTK
RRTK ở mức trung bình
- Có đủ nguồn tài trợ với chi
phí hợp lí.
- Nguồn tài trợ được đa dạng
hóa, một số nhà cung cấp
vốn có thể có ảnh hưởng nhất
và vốn trước những RRTK
trong quá khứ là đáng kể.
- Trợ giúp từ NHTM mẹ là
rất ít hoặc không có.
- Khả năng thua lỗ tiềm
tàng đối với thu nhập và
vốn do chi phí tài sản nợ
cao hay bán tài sản không
theo kế hoạch có thể lớn.
7
trong quá khứ là không đáng vốn trước những RRTK
kể.
trong quá khứ là có thể kiểm
soát được.
Nhìn chung, đánh giá khả năng thanh khoản của NHTM có thể coi như một trong những tiêu chí
quan trọng nhất xác định mức độ an toàn của NHTM. Xét cho cùng, nếu RRTK không thể được xử lý,
NHTM có thể buộc phải sáp nhập vào NHTM khác hoặc phá sản.
* Đánh giá mức độ rủi ro thị trường của NHTM [21]
Rủi ro thị trường được định nghĩa là rủi ro suy giảm giá trị của một danh mục tài sản do các
nhân tố rủi ro trên thị trường. Đối với lĩnh vực ngân hàng, theo quan điểm của ủy ban Basel, rủi ro thị
trường bao gồm rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro giá cổ phiếu và rủi ro giá các tài sản liên quan đến
hoạt động kinh doanh của ngân hàng (ví dụ rủi ro giá các hàng hóa trong quá trình kinh doanh hợp
đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn… của NHTM). Rõ ràng, khi giá cả (đối với
lĩnh vực tài chính thì đó là tỷ giá hối đoái và lãi suất) biến động, hoạt động của ngân hàng có thể bị ảnh
hưởng nghiêm trọng. Do đó, các chủ thể đánh giá hoạt động ngân hàng luôn nhấn mạnh việc đo lường
rủi ro thị trường cũng như năng lực quản trị rủi ro thị trường của NHTM. Đối với đo lường, các chủ thể
đánh giá thường sử dụng mô hình VAR, mô hình thời lượng, mô hình định giá lại. Bên cạnh đó, các chủ
vốn mà không cần đến các NHTM. Do vậy, bản thân các thị trường vốn đang ngày càng trở thành tâm
điểm của các cuộc giám sát và kiểm tra về rủi ro hệ thống. Những rối loạn mang tính hệ thống có thể
bùng phát ở bên ngoài hệ thống ngân hàng và lan sang tỏa thông qua các mối liên kết trên thị trường
vốn hơn là thuần túy qua các mối quan hệ ngân hàng.
1.1.2.2.2. Đối tượng đánh giá an toàn vĩ mô
Trước hết, để xác định xem tổ chức nào cần được đánh giá an toàn vĩ mô, chúng ta cần phân loại
các tổ chức tài chính trên cơ sở đo lường mức độ tràn rủi ro mục tiêu. Đó là mức độ lây lan rủi ro từ ngân
hàng này sang ngân hàng khác. Sự lây lan rủi ro của một tổ chức là cao nếu như nó gây nên những khó
khăn tài chính cho tổ chức khác hoặc đơn giản là có mối tương quan với vấn đề tài chính của các tổ chức
khác. Bất cứ tổ chức tài chính nào có nguy cơ chịu rủi ro hệ thống cần phải được đánh giá chặt chẽ [11].
Trong số các phương pháp khác nhau thì CoVaR là một phương pháp phổ biến được dùng để đo sự lan
tràn rủi ro giữa các ngân hàng. Phương pháp này cho biết sự khó khăn về tài chính của tổ chức này ảnh
hưởng tới tổ chức khác như thế nào. Không như phương pháp VaR chỉ đo mức độ rủi ro của từng ngân
hàng, phương pháp CoVaR đo mối liên kết giữa nhiều ngân hàng với nhau. Trên cơ sở mức độ lan tràn
rủi ro giữa các ngân hàng, các ngân hàng được chia thành 2 nhóm như sau [11]:
Nhóm 1: những ngân hàng trong nhóm này có mức độ lan tràn rủi ro cao sang các tổ chức khác.
Thông thường, đây là những tổ chức có qui mô rất lớn, có mối liên hệ rộng lớn với các tổ chức khác mà
9
Chính phủ không bao giờ để cho chúng sụp đổ. Có thể gọi chúng là những “tổ chức mang tính hệ
thống”. Nghĩa là chúng có tầm quan trọng đối với cả hệ thống ngân hàng. Sẽ là nghiêm trọng cho toàn
hệ thống nếu như bất cứ tổ chức nào trong nhóm này gặp vấn đề khó khăn tài chính. Những tổ chức
này đòi hỏi không những đánh giá an toàn vi mô mà cả đánh giá an toàn vĩ mô thật chặt chẽ.
Nhóm 2: bao gồm những ngân hàng thường có qui mô nhỏ nhưng có mức độ đòn bẩy tài chính
cao (chủ yếu là các ngân hàng nhỏ, chi nhánh ngân hàng nước ngoài), có tầm quan trọng đối với cả hệ
thống không cao. Tuy nhiên, nếu chúng cùng có động thái giống nhau trên thị trường như một nhóm
thống nhất thì sự ảnh hưởng của chúng đối với hệ thống là đáng kể. Do vậy, bên cạnh đánh giá an toàn
vi mô thì chúng cũng phải được đánh giá vĩ mô ở một mức độ nào đó.
Mức độ lây lan rủi ro từ ngân hàng này sang ngân hàng khác sẽ giúp chúng ta xác định được tổ
(iv)“Phương pháp phân tích quá gắn kết không thể đổ vỡ” (too interconnected to fail - TICTF).
TICTF là cách đo lường khả năng và mức độ tác động tiêu cực thuần trong trung hạn tới nền kinh tế tổng
thể hơn là sự đổ vỡ của NHTM trong việc điều hành hoạt động kinh doanh của mình. Tác động này là
thước đo vượt quá phạm vi sản phẩm và hoạt động của NHTM và bao gồm số nhân về mặt kinh tế tất cả
các hoạt động kinh doanh khác phụ thuộc riêng vào NHTM đó. Tác động đó cũng bao gồm mối tương
quan trong hoạt động kinh doanh của NHTM đó với các rủi ro hệ thống khác [38].