Quan hệ lao động trong cách doanh nghiệp ngoài kinh tế nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (Luận án tiến sĩ) - Pdf 48

1

MỞ ĐẦU
1. Bối cảnh nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ quá độ xây dựng những tiền đề cần thiết cho chủ nghĩa xã hội,
nền kinh tế Việt Nam tất yếu tồn tại nhiều thành phần kinh tế như: Kinh tế Nhà
nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong bốn
thành phần kinh tế trên, kinh tế Nhà nước, cùng với kinh tế tập thể được xác định là
chủ đạo của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền
kinh tế và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là yếu tố quan trọng, góp phần tăng
trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và tăng kim ngạch xuất khẩu, giúp nền kinh tế
Việt Nam nối kết với khu vực và thế giới. Các thành phần kinh tế trên dựa trên cơ
sở các quan hệ sở hữu tương ứng. Thành phần kinh tế Nhà nước dựa trên quan hệ sở
hữu công về tư liệu sản xuất, thành phần kinh tế tập thể dựa trên quan hệ sở hữu tập
thể về tư liệu sản xuất, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đều dựa
trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trong quan hệ sản xuất, quan hệ sở
hữu giữa vai trò quyết định các quan hệ khác như quan hệ tổ chức, quan hệ phân
phối. Vì thế đặc điểm quan hệ lao động giữa các chủ thể kinh tế thể hiện trong các
thành phần kinh tế cũng khác nhau. Quan hệ lao động trong các doanh nghiệp ngoài
kinh tế nhà nước do sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nên họ có quyền chi phối về
quan hệ tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm lao động làm ra và quan hệ lao
động có đặc điểm là quan hệ thuê mướn lao động, quan hệ chủ thợ.
Trong thành phần kinh tế tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài, dựa trên chế
độ sở hữu tư nhân, nên quan hệ lao động chủ yếu là quan hệ thuê mướn lao động,
lao động làm thuê, quan hệ chủ - thợ hay quan hệ thuê mướn lao động là quan hệ
chủ yếu. Thậm chí các nhà quản lý cấp cao trong các đơn vị kinh tế thuộc thành
phần này cũng đều là lao động làm thuê, vẫn nhận lương, thưởng như những người
lao động làm thuê khác. Đó là các chức danh như: Chủ tịch hội đồng quản trị, tổng
giám đốc, giám đốc….trong các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc
các công ty tư nhân khác. Nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế kinh tề thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự can thiệp điều tiết của Nhà nước nên Nhà

làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị giảm. Đời sống của người lao
động trở nên khó khăn hơn hay nói cách khác là người lao động càng ngày càng


3

nghèo hơn đã đưa người lao động vào thế đường cùng buộc họ phải thay đổi nơi
làm việc hoặc phải tranh đấu cho quyền lợi của họ.
Vậy làm gì để vấn đề được cải thiện để các bên có thể chấp nhận được, từ đó
làm cho môi trường đầu tư được tiến triển thuận lợi, để chính sách thu hút đầu tư
của Việt Nam hiện nay không bị ảnh hưởng tiêu cực, làm sao cho đời sống mọi mặt
của người công nhân được cải thiện…. đều đáng được khuyến khích và hoan
nghênh. Một quan hệ lao động phù hợp là nhân tố quyết định đến năng suất lao
động, chất lượng và hiệu quả sản xuất, đồng thời nó còn quyết định môi trường lao
động và sự phát triển của quốc gia. Sự nghiệp đổi mới về kinh tế - xã hội của đất
nước đang tạo ra tiền đồ khách quan làm chuyển hóa quan hệ lao động ở các doanh
nghiệp. Sự chuyển hóa này đang xảy ra ở các doanh nghiệp kinh tế tư nhân, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nội dung của quan hệ lao động mới này thế nào?
Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, quan hệ lợi ích kinh tế trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
ngoài kinh tế Nhà nước bao gồm những nội dung gì? Đó những vấn lý luận và thực
tiễn cần nghiên cứu.
Việc xây dựng một mô hình quan hệ lao động hài hòa về lợi ích giữa người lao
động và người sử dụng lao động và có những giải pháp và chính sách để thúc đẩy
quan hệ lao động lành mạnh, hài hòa ở các doanh nghiệp ngoài kinh tế nhà nước vô
cùng quan trọng trong bối cảnh hiện nay và trong thời gian tới khi Việt Nam tham
gia các Hiệp định thương mại tự do và hội nhập quốc tế.
Trên cơ sở những vấn đề nêu trên tác giả chọn đề tài "Quan hệ lao động
trong các doanh nghiệp ngoài kinh tế nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh" làm đề tài nghiên cứu của mình.

nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay như thế nào? Tác giả chú
trọng đến quan hệ lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích phi kinh tế trong doanh nghiệp
ngoài kinh tế nhà nước, những khiếm khuyết của quan hệ lao động trong các doanh
nghiệp nêu trên.
Thứ ba, những giải pháp nào giúp cải thiện quan hệ lao động, cải thiện đời
sống vật chất người lao động trong các doanh nghiệp ngoài kinh tế nhà nước trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án


5

Thứ nhất, về đối tượng nghiên cứu của luận án: Luận án tập trung vào đối
tượng nghiên cứu là quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao
động qua việc thuê mướn lao động trong doanh nghiệp ngoài kinh tế nhà nước. Bên
cạnh đó có xét đến vai trò của Nhà nước và công đoàn.
Thứ hai, về phạm vi nghiên cứu của luận án: Luận án tập trung nghiên cứu
quan hệ lao động trong các doanh nghiệp ngoài kinh tế nhà nước trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh. Luận án giới hạn trong việc tập trung phân tích quan hệ lao động
chủ yếu là quan hệ về lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích phi kinh tế: Tiền lương,
thưởng, lợi nhuận, phúc lợi những xung đột nảy sinh trong quan hệ lao động: đình
công, bãi công.
Về thời gian: Nội dung phân tích đánh giá lấy mốc từ năm 2005-2015 và tầm
nhìn đến năm 2025, trong đó các số liệu được tập hợp chủ yếu là các năm gần đây.
4. Đóng góp mới của luận án
- Vạch rõ bản chất quan hệ bóc lột lao động làm thuê trong các doanh nghiệp
ngoài kinh tếi nhà nước ở Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
- Vạch rõ những quan hệ hài hòa và mâu thuẫn trong quan hệ lao động trong
các doanh nghiệp ngoài kinh tế nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
- Vạch rõ xu hướng vận động của quan hệ lao động trong các doanh nghiệp


7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN QUAN HỆ LAO ĐỘNG
1.1 Các đề tài nghiên cứu của các tác giả về quan hệ lao động (QHLĐ)
1.1.1 Các đề tài nghiên cứu của các tác giả trong nước về QHLĐ
Lê Văn Minh (1994), Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, luận án Phó Tiến sỹ
với đề tài “Đổi mới QHLĐ trong quá trình hình thành nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam”. Đây là luận án chuyên ngành Kinh tế và Tổ chức lao động. Luận án góp
phần làm sáng tỏ quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường như khái niệm, nội
dung, tính chất, các chủ thể cấu thành trong QHLĐ. Những năm trước đó, nền kinh
tế Việt Nam vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp với
một thành phần kinh tế là thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức:
Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, dựa chủ yếu trên chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất và sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất. Sau khi nước ta chuyển sang cơ chế
thị trường quan hệ lao động cũng có những chuyển hóa. Sự chuyển hóa này xảy ra ở
các thành phần kinh tế như kinh tế tư nhân, doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp
FDI và cả doanh nghiệp nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ giữa người
lao động và người sử dụng lao động (NSDLĐ) là quan hệ làm công ăn lương. Vì thế
khi lợi ích không được chia sẽ thì người lao động (NLĐ) sẽ tranh chấp và dẫn đến
đình công. Luận án nghiên cứu quan hệ lao động ở các doanh nghiệp sản xuất nói
chung dưới góc độ kinh tế và pháp luật.
Luận án nêu lên đặc điểm về quan hệ lao động trước năm 1986: Nhà nước
XHCN với hình thức sở hữu là sỡ hữu toàn dân nên các chế độ chính sách về lao
động chỉ tập trung chủ yếu vào khu vực Nhà nước, quan hệ trực tiếp giữa Nhà nước
và NLĐ và chính sách tiền lương bình quân được thể hiện rõ nét. Sau khi kinh tế
mở cửa, mô hình quan hệ lao động cũng đã có sự chuyển hóa trong các doanh
nghiệp, do đó, các chế độ chính sách về quan hệ lao động cũng có sự thay đổi cho
phù hợp. Từ cơ cấu kinh tế một chế độ sở hữu – công hữu về tư liệu sản xuất sang

mới – giá trị thặng dư hoặc nói một cách khác lao động sống là lao động tạo ra giá
trị thặng dư và giá trị thặng dư thuộc về người sử dụng lao động”, “Trong quan hệ
lao động, người lao động chịu sự lệ thuộc vào người sử dụng lao động về mặt pháp
lý trên cơ sở hợp đồng lao động chứ không lệ thuộc về mặt kinh tế”. Luận án đi vào
xem xét về cơ sở lý luận quan hệ về quan hệ lao động như chủ thể lao động, nội


9

dung, loại hình quan hệ lao động, các cơ sở pháp lý để hình thành quan hệ lao động
và giải quyết tranh chấp trong quan hệ lao động như hợp đồng lao động, thỏa ước
lao động tập thể. Về thực trạng quan hệ lao động, luận án nghiên cứu và phân tích
về đặc điểm quan hệ lao động trong các doanh nghiệp FDI, việc thực hiện hợp đồng
lao động và thỏa ước lao động tập thể trong doanh nghiệp FDI và những yếu tố làm
nảy sinh xung đột trong quan hệ lao động và đình công. Luận án nêu lên một số
nguyên nhân làm phát sinh đình công:
Về phía người sử dụng lao động: NSDLĐ lợi dụng sự thiếu hiểu biết về pháp
luật của người lao động, sự yếu kém của công đoàn cơ sở, sự lỏng lẻo trong quản lý
của cơ quan Nhà nước để làm thiệt hại về lợi ích người lao động như định mức quá
cao buộc công nhân phải kéo dài thời gian làm việc, đơn giá tiền lương thấp, trù dập
người lao động khi họ đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Về phía người lao động: Tác phong làm việc, ý thức kỷ luật kém, nhận thức và
hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế, thiếu bình tỉnh, đấu tranh tự phát, hạn chế về
mặt giao tiếp… Tác giả cho rằng “Chính bản thân các chủ thể của quan hệ lao động
trong cuộc đình công cũng là một nhân tố quan trọng thúc đẩy đình công. Và hành
vi của họ dưới nhiều góc độ khác nhau, vì nhiều lý do khác nhau là nguyên nhân
góp phần làm tăng số cuộc đình công”.
Từ đó tác giả đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện nội dung quan hệ lao
động, thỏa ước lao động tập thể và cơ chế giải quyết xung đột lao động và đình
công. Tác giả đề nghị thành lập cơ quan giải quyết xung đột lao động như Hội đồng

lao động.
Mấy vấn đề cơ bản về quan hệ lao động, Vụ định mức và tổ chức lao động,
Nhà xuất bản lao động. Hà Nội năm 1977. Cuốn sách xem quản lý lao động không
hạn chế một vài biện pháp mà phải thật sự tác động tổng hợp của nhiều biện pháp.
Trong doanh nghiệp cần phải tiến hành nhiều biện pháp như hoàn thiện từng bước
công nghệ sản xuất, tổ chức, quản lý sản xuất và cải thiện đời sống vật chất văn hóa
cho người lao động. Một là, quản lý lao động phải giải quyết tốt các quan hệ giữa
người lao động với người lao động. Hai là, quản lý lao động còn phải giải quyết tốt
mối quan hệ giữa người lao động với công cụ lao động, với các đối tượng lao động,
giữa người lao động với môi trường sản xuất nhằm đảm bảo tốt sự phối hợp giữa kỹ
thuật, người lao động và môi trường nhằm tăng năng suất lao động.


11

Để giải quyết tốt các mối quan hệ trên trước hết phải giải quyết nhiều vấn đề
như các tiêu chuẩn, định mức, chế độ, thể lệ, chính sách được quy định có căn cứ
khoa học và lấy con người làm trung tâm. Thường xuyên bảo bảo điều kiện thuận
lợi nhất để sử dụng thời gian hợp lý trong lao động của công nhân sao cho hoạt
động sản xuất có hiệu quả nhất, động viên người lao động và tăng năng suất lao
động.
Tổ chức lao động xã hội dưới chế độ phong kiến dựa vào kỷ luật roi vọt và bị
đè nén cùng cực của người lao động. Tổ chức lao động xã hội chủ nghĩa tư bản dựa
vào kỷ luật đói. Trong khi đó, tổ chức lao động xã hội của xã hội chủ nghĩa dựa vào
sự kỷ luật tự giác và tự nguyện của người lao động. Tuy nhiên, kỷ luật này không
phải tự nhiên mà có được, nó phải được giáo dục, tôi luyện, tổ chức từ giai cấp vô
sản.
Lê Thanh Hà (2012), Quan hệ lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài ở Việt Nam và vai trò của công đoàn cơ sở. Trong cuốn sách này, tác
giả trình bày về thực trạng quan hệ lao động và vai trò đại diện của công đoàn trong

hệ lao động lành mạnh và hạn chế đình công ở Việt Nam.
Lê Mạnh Hà (2008), trong bài viết “Đình công và quan hệ lao động ở Việt
Nam – Thực trạng và giải pháp”, tác giả đã viết: “Hiện nay, đình công là một trong
những vấn đề nổi cộm trong quan hệ lao động ở Việt Nam. Phải giải quyết sớm các
tranh chấp lao động để tránh xảy ra đình công được coi là biện pháp phòng ngừa có
hiệu quả nhằm giảm đi các hậu quả xấu do đình công gây ra. Hiểu đúng, khoa học,
khách quan các loại đình công cũng như thực trạng đình công ở Việt Nam hiện nay
làm cơ sở cho việc đánh giá quan hệ lao động, từ đó đề ra hệ thống giải pháp phù
hợp khác phục có hiệu quả tình hình đình công thực sự là vấn đề đặt ra cho công tác
nghiên cứu”.
Qua đề tài trên, tác giả cho rằng, đình công là biểu hiện của sự bế tắc trong
quan hệ lao động. Mâu thuẫn xảy ra khi hai bên có sự xung đột về quyền và lợi ích.
Khi mâu thuẫn lao động lên đến cao trào thì người lao động sẽ sử dụng vũ khí tối
thượng của mình là đình công, bãi công. Đình công là một hiện tượng tự nhiên
trong nền kinh tế thị trường. Tranh chấp lao động và đình công hiện nay là điểm
nóng trong quan hệ lao động của các doanh nghiệp. Theo tác giả, đình công ở khu
vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cao hơn các khu vực khác là do các nguyên


13

nhân như sau: một là, sự khác biệt về văn hóa, hành vi, tác phong công nghiệp trong
doanh nghiệp. Hai là, phong cách quản lý của người quản lý quốc tịch nước ngoài
như đúng giờ, kỷ luật khác với phong cách tư duy mang đậm nét văn hóa nông
nghiệp ở Việt Nam. Ba là, định mức lao động quá cao mà người Việt thường có tầm
vóc nhỏ bé nên khó có đủ sức khỏe để hoàn thành công việc. Bốn là, do mức lương
của người lao động trong các doanh nghiệp này quá thấp.
Từ đó, tác giả đưa ra các biện pháp thúc đẩy quan hệ lao động lành mạnh hạn
chế đình công ở Việt Nam. Kiện toàn các tổ chức làm công tác trọng tài và hòa giải,
đồng thời nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức này. Giải quyết các vấn đề

trong sản xuất, kinh doanh, tạo ra khoảng 70% GDP của toàn xã hội. Trong những
năm qua, giai cấp nhân Việt Nam đã có những biến đổi nhất định, đáp ứng ngày
càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới.
Thứ nhất, cơ cấu ngành nghề ngày càng đa dạng và có sự chuyển dịch mạnh
mẽ. Ngày nay, công nhân không chỉ làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước mà
còn làm việc ở hầu hết các ngành nghề, các lĩnh vực kinh tế. Mặt khác, số lượng
công nhân trong khu vực kinh tế nhà nước giảm tương đối so với các khu vực khác,
do quá trình đổi mới, cổ phấn hoá, sáp nhập, giải thể doanh nghiệp nhà nước, số
lượng công nhân trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước nhất là khu vực sản xuất,
kinh doanh cá thể và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên nhanh chóng.
Thứ hai, có sự thay đổi lớn về trình độ, chất lượng công nhân và tính chất lao
động. Xu hưóng trí thức hoá công nhân đang trở thành xu hướng chủ đạo, làm cho
trình độ của giai cấp công nhân có nhiều thay đổi. Công nhân đã tham gia ở nhiều
lĩnh vực sản xuất đòi hỏi trình độ tay nghề cao, nhất là ở những lĩnh vực có trình độ
khoa học công nghệ hiện đại, do đó, tính chất lao động cũng thay đổi đáng kể. Hiện
nay, lợi ích kinh tế chủ yếu của giai cấp công nhân nước ta là thu nhập từ tiền công,
tiền lương. Ngoài ra, công nhân còn có thu nhập từ tiền làm thêm giờ, lợi tức đối
với công nhân có cổ phần ở những doanh nghiệp được cổ phần hoá, thu nhập từ an
sinh xã hội.
Tiền lương là giá cả của sức lao động được hình thành thông qua sự thỏa thuận
giữa người lao động và người sử dụng lao động dựa vào quy định của pháp luật lao
động. Một trong các nguyên tắc cơ bản của tiền lương là phải bảo đảm tái sản xuất


15

sức lao động, thể hiện trước hết ở mức lương tối thiểu. Mức lương tối thiểu được
xây dựng trước hết căn cứ vào mức sống tối thiểu của từng quốc gia.
Nguyễn An Ninh (2008), với tác phẩm “Xu hướng công nhân hóa ở nước ta
hiện nay”. Trong tác phẩm này tác giả phân tích những đặc trưng của xu hướng

trường ở Việt Nam, vai trò của công đoàn trong giải quyết xung đột lao động, thực
hiện pháp luật công đoàn tổ chức và lãnh đạo đình công và các yếu tố tác động tới
tổ chức đình công. Tác giả đánh giá thực trạng xung đột lao động, đình công, đặc
điểm của các cuộc ngừng việc tập thể và đình công, thực trạng giải quyết xung đột
lao động và vai trò của công đoàn, thực trạng công đoàn tổ chức, lãnh đạo đình
công và nguyên nhân đình công từ năm 1995 đến nay.
Qua đó đề xuất ba nhóm giải pháp gồm: Nhóm giải pháp chung đối với Nhà
nước là thường xuyên nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật phù hợp
với tình hình mới. Tăng lương tối thiểu theo lộ trình để đáp ứng được nhu cầu sống
thối thiểu của người lao động, duy trì thường xuyên cơ chế đối thoại giữa cơ quan
quản lý nhà nước về lao động chủ doanh nghiệp, tổ chức Công đoàn. Nhóm giải
pháp đối với cơ quan quản lý Nhà nước là tăng cường công tác quản lý nhà nước về
lao động, kiện toàn của hệ thống Hòa giải viên lao động và Hội đồng trọng tài lao
động theo qui định của pháp luật. Nhóm các giải pháp đối với công đoàn các cấp.
Chính sách phát triển kinh tế tư nhân, khi chủ trương phát triển kinh tế nhiều
thành phần được Đảng ta đưa ra từ Đại hội VI (năm 1986), kinh tế tư nhân đã bắt
đầu hình thành và phát triển. Đến Đại hội XI đưa ra quan điểm khuyến khích phát
triển kinh tế tư nhân xác định rõ sự cần thiết hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát
triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Tuy
nhiên, trong quá trình phát triển, kinh tế tư nhân cần có sự hỗ trợ hơn nữa từ phía
nhà nước để kinh tế tư nhân thật sự trở nên năng động và mạnh mẽ. Hiện nay, ngoài
các doanh nghiệp lớn, hầu hết kinh tế tư nhân là doanh nghiệp vừa và nhỏ, công
nghệ lạc hậu, sản xuất thủ công, bán cơ khí nên khả năng cạnh tranh trên thị trường
thấp, thiếu bền vững. Hoạt động còn nhiều khó khăn và chưa tuân thủ hoàn toàn các
quy định của pháp luật. Với những khiếm khuyết trên kinh tế tư nhân có những hạn
chế trong việc cải thiện đời sống của người lao động và thiếu ổn định về việc làm.
Chính sách khuyến khích đầu tư, nhằm khuyến khích thu hút đầ tư nước ngoài,
nhà nước đã có những chính sách ưu đãi đầu tư, ưu đã về thuế, ưu đãi về tiền thuê





18

dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ. Có cơ chế để công đoàn, tổ chức đại diện
cho người lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động giám sát thực hiện
thỏa ước lao động tập thể. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quản lý nhân lực và hệ
thống chỉ tiêu đánh giá năng suất lao động. Thực hiện tốt chính sách bảo hộ lao
động. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam
trọng tâm thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, chăm lo đời sống vật chất, tinh
thần, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội.
Đại hội lần thứ VI của Đảng tháng 12 năm 1986 chủ trương phát triển kinh tế
nhiều thành phần, xây dựng chế độ tự chủ trong sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp theo cơ chế thị trường. Khẩn trương xây dựng và thực hiện một cơ chế tổ
chức, quản lý lao động thích hợp, đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp đối với lao
động, tiền lương, đề cao quyền và nghĩa vụ của người lao động trong doanh nghiệp.
Văn kiện Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh tạo sự chuyển biến cơ bản trong thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, hướng mạnh vào những ngành, lĩnh vực kinh
tế, nhất là những ngành, lĩnh vực chúng ta làm chưa hiệu quản, phát triển công nghệ
cao, và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhấn mạnh cải thiện
môi trường pháp lý và kinh tế, đa dạng các hình thức và cơ chế để thu hút mạnh
nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài vào những ngành nghề, lĩnh vực kinh
doanh quan trọng. Thực hiện tốt các chính sách và pháp luật về lao động, tiền
lương, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, bảo hộ lao
động, chăm sóc, phục hồi sức khỏe đối với công nhân, chính sách ưu đãi nhà đối
với công nhân bậc cao. Sớm thực hiện quỹ trợ cấp thất nghiệp. Xây dựng tổ chức,
phát triển đoàn viên công đoàn, nghiệp đoàn đều khắp ở các cơ sở sản xuất kinh
doanh thuộc các thành phần kinh tế.
Quyết định số 217/HĐBT của hội đồng bộ trưởng trao quyền quyết định tuyển

thức rõ và tuyên truyền các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về
QHLĐ. Thứ hai, các cấp chính quyền và các cơ quan tăng cường kiểm tra giám sát
và xử lý các vi phạm trong quan hệ lao động. Thứ ba, tích cực xây dựng và phát
triển trong doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp có quy mô và số lượng công nhân
lớn. Kiện toàn và nâng cao hiệu quả quản lý nhà ước về lao động. Thứ tư, chú trọng
đến công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao nâng lực của cán bộ quản lý về lao động.


20

Khuyến khích người lao động tăng cường các phúc lợi và cải thiện đời sống cho
công nhân lao động. Thứ năm, tăng cường thiết chế hòa giải và trọng tài lao động.
Đổi mới cách hoạt của công đoàn.
Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, xu
thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều
chủ trương liên quan đến hoàn thiện quan hệ lao động và nâng cao đời sống của
công nhân. Những chủ trương đó là: Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/01/2008 về
“tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam Thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH
đất nước góp phần nâng cao thế và lực cho người lao động nước ta”; Chỉ thị số 22CT/TW ngày 05/06/2008 của Ban Bí thư về “tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo
xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp”; Quyết
định số 31/2009/QĐ-TTg ngày 24/02/2009 về việc phê duyệt “Đề án Tuyên truyền,
phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các loại
hình doanh nghiệp giai đoạn 2009 – 2012”; Quyết định 1780/QĐ-TTg về phê duyệt
“Đề án xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở các khu công nghiệp đến năm 2015,
định hướng đến năm 2020”. Sau 7 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW
ngày 5/6/2008 của Ban Bí thư Trung ương (khóa X), nhận thức của các cấp ủy
Đảng, chính quyền, tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp, người sử dụng lao động về
quan hệ lao động có chuyển biến bước đầu. Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách
về quan hệ lao động tiếp tục được hoàn thiện; quản lý nhà nước về quan hệ lao động
được tăng cường; vai trò các tổ chức Đảng, công đoàn và các tổ chức đoàn thể trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status