Quan hệ lao động trong cách doanh nghiệp ngoài kinh tế nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 48

Header Page 1 of 120.

1

MỞ ĐẦU
1. Bối cảnh nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ quá độ xây dựng những tiền đề cần thiết cho chủ nghĩa xã hội,
nền kinh tế Việt Nam tất yếu tồn tại nhiều thành phần kinh tế như: Kinh tế Nhà
nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong bốn
thành phần kinh tế trên, kinh tế Nhà nước, cùng với kinh tế tập thể được xác định là
chủ đạo của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền
kinh tế và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là yếu tố quan trọng, góp phần tăng
trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và tăng kim ngạch xuất khẩu, giúp nền kinh tế
Việt Nam nối kết với khu vực và thế giới. Các thành phần kinh tế trên dựa trên cơ
sở các quan hệ sở hữu tương ứng. Thành phần kinh tế Nhà nước dựa trên quan hệ sở
hữu công về tư liệu sản xuất, thành phần kinh tế tập thể dựa trên quan hệ sở hữu tập
thể về tư liệu sản xuất, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đều dựa
trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trong quan hệ sản xuất, quan hệ sở
hữu giữa vai trò quyết định các quan hệ khác như quan hệ tổ chức, quan hệ phân
phối. Vì thế đặc điểm quan hệ lao động giữa các chủ thể kinh tế thể hiện trong các
thành phần kinh tế cũng khác nhau. Quan hệ lao động trong các doanh nghiệp ngoài
kinh tế nhà nước do sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nên họ có quyền chi phối về
quan hệ tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm lao động làm ra và quan hệ lao
động có đặc điểm là quan hệ thuê mướn lao động, quan hệ chủ thợ.
Trong thành phần kinh tế tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài, dựa trên chế
độ sở hữu tư nhân, nên quan hệ lao động chủ yếu là quan hệ thuê mướn lao động,
lao động làm thuê, quan hệ chủ - thợ hay quan hệ thuê mướn lao động là quan hệ
chủ yếu. Thậm chí các nhà quản lý cấp cao trong các đơn vị kinh tế thuộc thành
phần này cũng đều là lao động làm thuê, vẫn nhận lương, thưởng như những người
lao động làm thuê khác. Đó là các chức danh như: Chủ tịch hội đồng quản trị, tổng
giám đốc, giám đốc….trong các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Các cuộc xung đột lao động dẫn đến
đình công ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp và không đúng trình tự, thủ tục
theo quy định của pháp luật. Xuất phát từ các cuộc đình công đã xảy ra cho thấy có
hơn 90% cuộc cuộc đình công liên quan đến lợi ích của người lao động như tiền
lương, tiền thưởng, tiền tăng ca, các khoản phụ cấp khác như tiền phụ cấp chuyên
cần, trách nhiệm, nhà ở, tiền ăn. Bên cạnh đó, chỉ số giá tiêu dùng liên tục tăng đã
làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị giảm. Đời sống của người lao
động trở nên khó khăn hơn hay nói cách khác là người lao động càng ngày càng

luan van thac si-tai lieu - luan an -kinh te -Footer Page 2 of 120.


Header Page 3 of 120.

3

nghèo hơn đã đưa người lao động vào thế đường cùng buộc họ phải thay đổi nơi
làm việc hoặc phải tranh đấu cho quyền lợi của họ.
Vậy làm gì để vấn đề được cải thiện để các bên có thể chấp nhận được, từ đó
làm cho môi trường đầu tư được tiến triển thuận lợi, để chính sách thu hút đầu tư
của Việt Nam hiện nay không bị ảnh hưởng tiêu cực, làm sao cho đời sống mọi mặt
của người công nhân được cải thiện…. đều đáng được khuyến khích và hoan
nghênh. Một quan hệ lao động phù hợp là nhân tố quyết định đến năng suất lao
động, chất lượng và hiệu quả sản xuất, đồng thời nó còn quyết định môi trường lao
động và sự phát triển của quốc gia. Sự nghiệp đổi mới về kinh tế - xã hội của đất
nước đang tạo ra tiền đồ khách quan làm chuyển hóa quan hệ lao động ở các doanh
nghiệp. Sự chuyển hóa này đang xảy ra ở các doanh nghiệp kinh tế tư nhân, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nội dung của quan hệ lao động mới này thế nào?
Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, quan hệ lợi ích kinh tế trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế

kinh tế nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: Tiền lương, tiền thưởng của
người lao động cũng như các chế độ phúc lợi của họ. Xây dựng bảng khảo sát người
lao động và chủ doanh nghiệp nhằm làm rõ tình hình quan hệ lao động trong doanh
nghiệp ngoài kinh tế nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Thứ ba, qua việc phân tích các mặt tích cực và hạn chế về quan hệ lao động
hiện nay, luận án đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ lao động lành mạnh
và hài hòa trong các doanh nghiệp ngoài kinh tế Nhà nước trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh, vừa đảm bảo lợi ích của người chủ sử dụng lao động, vừa đảm bảo
cải thiện đời sống vật chất người lao động.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án sẽ tập trung nghiên cứu và trả lời những câu hỏi sau:
Thứ nhất, bản chất quan hệ lao động trong các doanh nghiệp ngoài kinh tế nhà
nước là gì? Nội dung của quan hệ lao động trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước.
Thứ hai, Thực trạng về quan hệ lao động trong các doanh nghiệp ngoài kinh tế
nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay như thế nào? Tác giả chú
trọng đến quan hệ lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích phi kinh tế trong doanh nghiệp
ngoài kinh tế nhà nước, những khiếm khuyết của quan hệ lao động trong các doanh
nghiệp nêu trên.
Thứ ba, những giải pháp nào giúp cải thiện quan hệ lao động, cải thiện đời
sống vật chất người lao động trong các doanh nghiệp ngoài kinh tế nhà nước trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

luan van thac si-tai lieu - luan an -kinh te -Footer Page 4 of 120.


Header Page 5 of 120.

5


luan van thac si-tai lieu - luan an -kinh te -Footer Page 5 of 120.


Header Page 6 of 120.

6

nghiên cứu các chính sách nhằm cải thiện quan hệ lao động trong các doanh nghiệp
ngoài kinh tế nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
5. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
luận án gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến quan hệ lao
động.
Chương 2: Cơ sở lý luận về quan hệ lao động trong các doanh nghiệp ngoài
kinh tế nhà nước.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Thực trạng về quan hệ lao động trong các doanh nghiệp ngoài kinh
tế nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 5: Các giải pháp nhằm tăng cường quan hệ lao động trong các doanh
nghiệp ngoài kinh tế nhà nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

luan van thac si-tai lieu - luan an -kinh te -Footer Page 6 of 120.


Header Page 7 of 120.

7

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN



Header Page 8 of 120.

8

trường định hướng XHCN. Nhiều thành phần kinh tế nên nhiều kiểu quan hệ lao
động khác nhau cùng xuất hiện. Do sự thay đổi về mô hình quan hệ lao động nên
khi có mâu thuẫn trong quan hệ lao động, thực tế nhiều tranh chấp không thể giải
quyết được bằng thương lượng giữa hai bên nên dẫn đến xung đột trong lao động và
đình công.
Nguyễn Ngọc Quân (1997), trường Đại học Kinh tế Quốc dân, luận án Phó
Tiến sỹ chuyên ngành Kinh tế và Tổ chức lao động với đề tài “Hoàn thiện quan hệ
lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”. Trong
những năm đầu thu hút đầu tư nước ngoài nên việc phát sinh nhiều vấn đề phức tạp
trong quan hệ lao động cần phải được giải quyết. Do nhiều nhà đầu tư nước ngoài
khác nhau đầu tư vào Việt Nam nên họ mang nhiều bản sắc văn hóa khác nhau.
Trong khi đó người lao động Việt Nam lại quen với tác phong lao động nông
nghiệp nên giữa người lao động và người sử dụng lao động thường phát sinh những
mâu thuẫn xung quanh vấn đề ứng xử. NSDLĐ thường đối xử thô bạo đối với công
nhân lao động và vì thế xảy ra tranh chấp lao động và đình công. Năm 1990 có 21
vụ đình công do các chuyên gia nước ngoài cư xử không phù hợp với văn hóa Việt
Nam. Năm 1991 có 10 cuộc đình công xảy ra để phản đối NSDLĐ hách dịch, dọa
nạt, cư xử thô bạo đối với NLĐ. Năm 1992 có 14 vụ tranh chấp lao động và đình
công do người lao động làm tăng ca mà không được trả lương thêm giờ. Năm 1993
có 35 vụ đình công do NSDLĐ đánh đập, ngược đãi NLĐ. Về mức độ và quy mô
các cuộc đình công cho thấy số lượng người tham gia đình công ngày càng tăng, có
nơi xảy ra trong bộ phận như tổ, phân xưởng, nhưng cũng có nơi diễn ra toàn doanh
nghiệp.
Luận án cho rằng: “quan hệ lao động là quan hệ trong quá trình tạo ra giá trị

góp phần làm tăng số cuộc đình công”.
Từ đó tác giả đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện nội dung quan hệ lao
động, thỏa ước lao động tập thể và cơ chế giải quyết xung đột lao động và đình
công. Tác giả đề nghị thành lập cơ quan giải quyết xung đột lao động như Hội đồng
trọng tài, tòa án lao động, hội đồng hòa giải lao động. Xây dựng công đoàn vững
mạnh để tham gia vào giải quyết xung đột lao động.
Nguyễn Thị Bích Loan (2003), Trường Đại học Thương mại Hà Nội chủ
nhiệm đề tài “Một số ý kiến góp phần giải quyết mối quan hệ lao động trong các
doanh nghiệp Liên doanh nước ngoài ở Việt Nam”. Đề tài nghiên cứu quan hệ lao
động ở các mặt tuyển dụng lao động, đãi ngộ lao động trong các doanh nghiệp Liên
doanh. Đề tài sử dụng các câu hỏi phỏng vấn đề nghiên cứu mối quan hệ lao động
trong các doanh nghiệp Liên doanh nước ngoài để làm sáng tỏ những vấn đề liên

luan van thac si-tai lieu - luan an -kinh te -Footer Page 9 of 120.


Header Page 10 of 120.

10

quan đến quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động trong
công tác tuyển dụng và các chính sách đãi ngộ cũng như đánh giá những mặt tích
cực và hạn chế của nó.
Tác giả đề xuất các giải pháp về tuyển dụng và đãi ngộ lao động nhằm giải
quyết mối quan hệ lao động trong các doanh nghiệp Liên doanh nước ngoài như chú
ý đến tính thích nghi trong môi trường làm việc đa văn hóa, cải tiến cách chi trả
lương phù hợp và quan tâm hơn đến tinh thần người lao động, có chính sách đãi ngộ
phù hợp để giữ chân người lao động.
Vũ Việt Hằng (2004), Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh với đề
tài “Một số vấn đề về quan hệ lao động tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và

lợi nhất để sử dụng thời gian hợp lý trong lao động của công nhân sao cho hoạt
động sản xuất có hiệu quả nhất, động viên người lao động và tăng năng suất lao
động.
Tổ chức lao động xã hội dưới chế độ phong kiến dựa vào kỷ luật roi vọt và bị
đè nén cùng cực của người lao động. Tổ chức lao động xã hội chủ nghĩa tư bản dựa
vào kỷ luật đói. Trong khi đó, tổ chức lao động xã hội của xã hội chủ nghĩa dựa vào
sự kỷ luật tự giác và tự nguyện của người lao động. Tuy nhiên, kỷ luật này không
phải tự nhiên mà có được, nó phải được giáo dục, tôi luyện, tổ chức từ giai cấp vô
sản.
Lê Thanh Hà (2012), Quan hệ lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài ở Việt Nam và vai trò của công đoàn cơ sở. Trong cuốn sách này, tác
giả trình bày về thực trạng quan hệ lao động và vai trò đại diện của công đoàn trong
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các giải pháp xây dựng quan hệ lao
động. Tác giả phân tích về thực trạng của công nhân như trình độ học vấn, trình độ
chuyên môn, nghề nghiệp, tiền thương và thu nhập của công nhân, về nhà ở trong
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Từ đó đề ra các nhóm giải pháp để xây
dựng quan hệ lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Nguyễn Mạnh Cường (2013), Mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam. Trong
cuốn sách này, tác giả đã phân tích mô hình quan hệ lao động ở Việt Nam. Trong
mô hình này, chủ thể của QHLĐ gồm người lao động và đại diện công đoàn với
người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động. Hai chủ thể
này đối thoại/thương lượng với nhau về điều kiện lao động và việc sử dụng lao
động trong doanh nghiệp để QHLĐ trong doanh nghiệp phát triển lành mạnh và hài
hòa về lợi ích, góp phần hạn chế xung đột. Nội dung thảo luận, thương lượng bao
gồm nhiều vấn đề như việc làm, bảo đảm việc làm, tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng,
vấn đề an toàn vệ sinh lao động, thời giờ làm việc….theo quy định của pháp luật lao

luan van thac si-tai lieu - luan an -kinh te -Footer Page 11 of 120.



trong nền kinh tế thị trường. Tranh chấp lao động và đình công hiện nay là điểm
nóng trong quan hệ lao động của các doanh nghiệp. Theo tác giả, đình công ở khu
vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cao hơn các khu vực khác là do các nguyên

luan van thac si-tai lieu - luan an -kinh te -Footer Page 12 of 120.


Header Page 13 of 120.

13

nhân như sau: một là, sự khác biệt về văn hóa, hành vi, tác phong công nghiệp trong
doanh nghiệp. Hai là, phong cách quản lý của người quản lý quốc tịch nước ngoài
như đúng giờ, kỷ luật khác với phong cách tư duy mang đậm nét văn hóa nông
nghiệp ở Việt Nam. Ba là, định mức lao động quá cao mà người Việt thường có tầm
vóc nhỏ bé nên khó có đủ sức khỏe để hoàn thành công việc. Bốn là, do mức lương
của người lao động trong các doanh nghiệp này quá thấp.
Từ đó, tác giả đưa ra các biện pháp thúc đẩy quan hệ lao động lành mạnh hạn
chế đình công ở Việt Nam. Kiện toàn các tổ chức làm công tác trọng tài và hòa giải,
đồng thời nâng cao năng lực hoạt động của các tổ chức này. Giải quyết các vấn đề
đình công một cách triệt và nhằm xử lý triệt để các vấn đề mâu thuẫn về kinh tế.
Nâng cao vai trò của công đoàn cơ sở về trình độ, kỹ năng thương lượng cũng như
các quy định của pháp luật và nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan quản lý
Nhà nước.
Lê Thị Mai (2017), xung đột và giải pháp giảm thiểu xung đột trong quan hệ
lao động tại doanh nghiệp ở Việt Nam. Tác giả cho rằng, tạo lập và duy trì quan hệ
lao động hài hòa trong doanh nghiệp rất quan trọng trong hoạt động sản xuất của
doanh nghiệp. Trên thực tế, trong doanh nghiệp luôn tồn tại xung đột trong quan hệ
lao động. Vì vậy, giải quyết tốt mối quan hệ lao động là một trong những yếu tốt
quyết định sự thành công tại doanh nghiệp.

công nhân trong khu vực kinh tế nhà nước giảm tương đối so với các khu vực khác,
do quá trình đổi mới, cổ phấn hoá, sáp nhập, giải thể doanh nghiệp nhà nước, số
lượng công nhân trong khu vực kinh tế ngoài nhà nước nhất là khu vực sản xuất,
kinh doanh cá thể và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên nhanh chóng.
Thứ hai, có sự thay đổi lớn về trình độ, chất lượng công nhân và tính chất lao
động. Xu hưóng trí thức hoá công nhân đang trở thành xu hướng chủ đạo, làm cho
trình độ của giai cấp công nhân có nhiều thay đổi. Công nhân đã tham gia ở nhiều
lĩnh vực sản xuất đòi hỏi trình độ tay nghề cao, nhất là ở những lĩnh vực có trình độ
khoa học công nghệ hiện đại, do đó, tính chất lao động cũng thay đổi đáng kể. Hiện
nay, lợi ích kinh tế chủ yếu của giai cấp công nhân nước ta là thu nhập từ tiền công,
tiền lương. Ngoài ra, công nhân còn có thu nhập từ tiền làm thêm giờ, lợi tức đối
với công nhân có cổ phần ở những doanh nghiệp được cổ phần hoá, thu nhập từ an
sinh xã hội.
Tiền lương là giá cả của sức lao động được hình thành thông qua sự thỏa thuận
giữa người lao động và người sử dụng lao động dựa vào quy định của pháp luật lao
động. Một trong các nguyên tắc cơ bản của tiền lương là phải bảo đảm tái sản xuất

luan van thac si-tai lieu - luan an -kinh te -Footer Page 14 of 120.


Header Page 15 of 120.

15

sức lao động, thể hiện trước hết ở mức lương tối thiểu. Mức lương tối thiểu được
xây dựng trước hết căn cứ vào mức sống tối thiểu của từng quốc gia.
Nguyễn An Ninh (2008), với tác phẩm “Xu hướng công nhân hóa ở nước ta
hiện nay”. Trong tác phẩm này tác giả phân tích những đặc trưng của xu hướng
công nhân hoá, trước tiên là sự tăng lên mạnh mẽ về số lượng giai cấp công nhân và
làm cho nó chiếm tỷ lệ lớn so với lực lượng lao động xã hội. Sự gia tăng này thu hút


trong việc tổ chức, lãnh đạo đình công. Bản chất của đình công trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam, vai trò của công đoàn trong giải quyết xung đột lao động, thực
hiện pháp luật công đoàn tổ chức và lãnh đạo đình công và các yếu tố tác động tới
tổ chức đình công. Tác giả đánh giá thực trạng xung đột lao động, đình công, đặc
điểm của các cuộc ngừng việc tập thể và đình công, thực trạng giải quyết xung đột
lao động và vai trò của công đoàn, thực trạng công đoàn tổ chức, lãnh đạo đình
công và nguyên nhân đình công từ năm 1995 đến nay.
Qua đó đề xuất ba nhóm giải pháp gồm: Nhóm giải pháp chung đối với Nhà
nước là thường xuyên nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật phù hợp
với tình hình mới. Tăng lương tối thiểu theo lộ trình để đáp ứng được nhu cầu sống
thối thiểu của người lao động, duy trì thường xuyên cơ chế đối thoại giữa cơ quan
quản lý nhà nước về lao động chủ doanh nghiệp, tổ chức Công đoàn. Nhóm giải
pháp đối với cơ quan quản lý Nhà nước là tăng cường công tác quản lý nhà nước về
lao động, kiện toàn của hệ thống Hòa giải viên lao động và Hội đồng trọng tài lao
động theo qui định của pháp luật. Nhóm các giải pháp đối với công đoàn các cấp.
Chính sách phát triển kinh tế tư nhân, khi chủ trương phát triển kinh tế nhiều
thành phần được Đảng ta đưa ra từ Đại hội VI (năm 1986), kinh tế tư nhân đã bắt
đầu hình thành và phát triển. Đến Đại hội XI đưa ra quan điểm khuyến khích phát
triển kinh tế tư nhân xác định rõ sự cần thiết hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát
triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Tuy
nhiên, trong quá trình phát triển, kinh tế tư nhân cần có sự hỗ trợ hơn nữa từ phía
nhà nước để kinh tế tư nhân thật sự trở nên năng động và mạnh mẽ. Hiện nay, ngoài
các doanh nghiệp lớn, hầu hết kinh tế tư nhân là doanh nghiệp vừa và nhỏ, công
nghệ lạc hậu, sản xuất thủ công, bán cơ khí nên khả năng cạnh tranh trên thị trường
thấp, thiếu bền vững. Hoạt động còn nhiều khó khăn và chưa tuân thủ hoàn toàn các
quy định của pháp luật. Với những khiếm khuyết trên kinh tế tư nhân có những hạn
chế trong việc cải thiện đời sống của người lao động và thiếu ổn định về việc làm.
Chính sách khuyến khích đầu tư, nhằm khuyến khích thu hút đầ tư nước ngoài,
nhà nước đã có những chính sách ưu đãi đầu tư, ưu đã về thuế, ưu đãi về tiền thuê

theo nguyên tắc thị trường, phù hợp với tăng năng suất lao động. Thực hiện điều
chỉnh mức lương cơ sở, mức lương tối thiểu theo lộ trình phù hợp, bảo đảm mức
sống tối thiểu của người lao động đang làm việc cũng như người đã nghỉ việc
hưởng chế độ hưu trí. Nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn, thực sự
đại diện quyền lợi cho người lao động, giải quyết kịp thời các xung đột trong lao
động. Thực hiện cơ chế đối thoại và thoả thuận về tiền lương giữa các bên, xây

luan van thac si-tai lieu - luan an -kinh te -Footer Page 17 of 120.


Header Page 18 of 120.

18

dựng quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ. Có cơ chế để công đoàn, tổ chức đại diện
cho người lao động và tổ chức đại diện người sử dụng lao động giám sát thực hiện
thỏa ước lao động tập thể. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quản lý nhân lực và hệ
thống chỉ tiêu đánh giá năng suất lao động. Thực hiện tốt chính sách bảo hộ lao
động. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam
trọng tâm thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, chăm lo đời sống vật chất, tinh
thần, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội.
Đại hội lần thứ VI của Đảng tháng 12 năm 1986 chủ trương phát triển kinh tế
nhiều thành phần, xây dựng chế độ tự chủ trong sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp theo cơ chế thị trường. Khẩn trương xây dựng và thực hiện một cơ chế tổ
chức, quản lý lao động thích hợp, đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp đối với lao
động, tiền lương, đề cao quyền và nghĩa vụ của người lao động trong doanh nghiệp.
Văn kiện Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh tạo sự chuyển biến cơ bản trong thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, hướng mạnh vào những ngành, lĩnh vực kinh
tế, nhất là những ngành, lĩnh vực chúng ta làm chưa hiệu quản, phát triển công nghệ
cao, và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao.

Doanh nghiệp tư nhân, Luật Doanh nghiệp nhà nưởc, Luật khuyến khích đầu tư,
Luật Phá sản doanh nghiệp. Tạo điều kiện thành lập hàng loạt loại hình doanh
nghiệp khác nhau, tạo môi trường hình thành và phát triển quan hệ lao động nền
kinh tế thị trường. Ban hành nhiều văn bản như Pháp lệnh Bảo hộ lao động, chế độ
bảo hiểm xã hội, Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động, Bộ luật Lao động
năm 1994. Những nội dung và nguyên tắc quy định trong các văn bản này là những
tiền đề pháp lý cho sự phát triển của quan hệ lao động. Bảo vệ quyền làm việc, lợi
ích và các quyền khác của người lao động, đồng thời bảo vệ quyến và lợi ích hợp
pháp của người sử dụng lao động tạo điều kiện cho quan hệ lao động được hài hòa,
ổn định, tiến bộ.
Kết luận số 96-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Bí thư yêu cầu
các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, các doanh nghiệp, tổ chức đại diện người lao
động, đại diện người sử dụng lao động, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể
nhân dân trong thời gian tới cần thực hiện tốt các nhiệm vụ. Thứ nhất, cần nhận
thức rõ và tuyên truyền các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về
QHLĐ. Thứ hai, các cấp chính quyền và các cơ quan tăng cường kiểm tra giám sát
và xử lý các vi phạm trong quan hệ lao động. Thứ ba, tích cực xây dựng và phát
triển trong doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp có quy mô và số lượng công nhân
lớn. Kiện toàn và nâng cao hiệu quả quản lý nhà ước về lao động. Thứ tư, chú trọng
đến công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao nâng lực của cán bộ quản lý về lao động.

luan van thac si-tai lieu - luan an -kinh te -Footer Page 19 of 120.


Header Page 20 of 120.

20

Khuyến khích người lao động tăng cường các phúc lợi và cải thiện đời sống cho
công nhân lao động. Thứ năm, tăng cường thiết chế hòa giải và trọng tài lao động.

Header Page 21 of 120.

21

được nâng dần, nâng thời gian hưởng trợ cấp thai sản đối với lao động nữa… Nhiều
doanh nghiệp đã có những biện pháp quan tâm, chăm lo đến đời sống người lao
động có hoàn cảnh khó khăn. Các tổ chức Đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp tư
nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có chuyển biến, phát huy được vai
trò trong việc lãnh đạo công tác chính trị, tư tưởng…
Trong tiến trình gia nhập các Hiệp định thương mại, Đảng và Nhà nước cần có
những thay đổi về QHLĐ cho phù hợp thông lệ quốc tế là các điều khoản của ILO.
Trước hết cần đổi mới trong quan niệm, sau đó đổi mới về luật pháp về QHLĐ.
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của tổ chức công đoàn rất qun trọng trong việc
đại diện cho người lao động, nói lên tiếng nói của người lao động trong các hoạt
động thương lượng với chủ sử dụng lao động.
Bộ luật lao động (2012), theo Điều 7 của Bộ luật lao động năm 2012 quy định
quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao người động với người sử dụng lao
động được xác lập qua thương lượng, đối thoại, thoả thuận theo các nguyên tắc tự
nguyện, thể hiện sự bình đẳng, hợp tác, trên tinh thần tôn trọng quyền và lợi ích hợp
pháp các bên. Tổ chức công đoàn và đại diện người sử dụng lao động cùng với nhà
nước hỗ trợ xây dựng quan hệ lao động lành mạnh, hài hoà, ổn định và tiến bộ. Tổ
chức công đoàn giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật về lao động; bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và người sử dụng lao động.
1.1.2. Các đề tài nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về QHLĐ
Trong các tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin đều khẳng định
quan hệ lao động trong các doanh nghiệp kinh tế tư bản chủ nghĩa đều mang bản
chất bóc lột giá trị thặng dư của người lao động làm thuê tạo ra, dù bên ngoài nó có
thể hiện dưới những hình thức nào, che dấu như thế nào như hình thức tiền lương,
hình thức lợi nhuận. Vẻ bên ngoài của tiền lương tư bản chủ nghĩa là một quan hệ
bình đẳng, người lao động sau khi làm việc cho nhà tư bản sẽ được nhận tiền lương,

hệ thống quan hệ lao động được duy trì tốt do các chủ thể phải liên hệ với nhau qua
một hệ tư tưởng chung, do đó, các bên dễ dàng đồng thuận. Chính tư tưởng chung
này làm cơ sở cho một hệ thống thương lượng tập thể nhằm giải quyết các mâu
thuẫn về quyền và lợi ích giữa các bên. Nó bao gồm trình độ công nghệ, kinh tế, thị
trường, chính trị và ngân sách của doanh nghiệp. Kết quả đầu ra của mô hình được
J.T.Dunlop gọi là một tập hợp các quy tắc về quyền và trách nhiệm của các chủ thể
bao gồm các quy tắc về nội dung, cách thức thực hiện quan hệ lao động. Hệ thống
quan hệ lao động gồm Nhà nước, doanh nghiệp, người lao động tương tác, thương

luan van thac si-tai lieu - luan an -kinh te -Footer Page 22 of 120.


Header Page 23 of 120.

23

lượng với nhau để thiết lập những quy định và quy tắc chung nhằm làm căn cứ để
giải quyết mối quan hệ lao động.
Các quy tắc về nội dung và thủ tục được xây dựng bởi Nhà nước, người sử
dụng lao động và người lao động qua môi trường lao động trong đó bao gồm công
nghệ, chính trị, kinh tế và thiết lập một hệ tư tưởng chung để làm việc (Nguyễn
Tiệp, 2008. Giáo trình quan hệ lao động. Trường Đại học Lao động – Thương binh
và Xã hội.).
Mô hình lựa chọn chiến lược của Kochan và các cộng sự, Nhóm các nhà
nghiên cứu người Mỹ gồm Kochan, McKensie và Cappeli đã viết một cuốn sách về
quan hệ lao động, đó là “Sự lựa chọn chiến lược và lý thuyết về quan hệ chủ thợ”
(Strategie choice and industrial relations theory). Trong đó, tác giả đưa ra ba chiến
lược về quan hệ lao động như sau: Chiến lược duy trì tình trạng không có công
đoàn, chiến lược để công đoàn hoạt động nhưng hạn chế quyền lực, chiến lược coi
công đoàn là một yếu tố tích cực cho hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi chiến lược

quan hệ lao động. Trường Đại học Lao động – Thương binh và Xã hội.).
Mô hình tác động tương hỗ của Andre Petit, Andre Petit đưa ra mô hình hệ
thống về quan hệ lao động. Trong đó, người lao động và công đoàn trong doanh
nghiệp là những người yếu thế hơn. Vì vậy, phải làm cho các bên có quyền lực gần
như nhau và từ đó sẽ xuất hiện các quy tắc thương lượng, thỏa thuận. Ông đưa ra
mô hình hệ thống về quan hệ lao động của riêng mình. Ông chú trọng tương hỗ qua
lại giữa các bên. Quan hệ lao động, theo Andre Petit, chịu tác động bởi các yếu tố
môi trường bên trong và môi trường bên ngoài doanh nghiệp. Sau đó, chính những
kết quả tích cực hay tiêu cực này lại tác động trở lại môi trường. Trên cơ sở lợi ích
chung, các bên xây dựng các quy tắc nhằm thỏa thuận, thương lượng và làm cho các
bên có quyền lực cân bằng nhau trên cơ sở các bên cùng tìm ra một cách giải quyết.
Môi trường bên ngoài bao gồm pháp lý, chính trị, công nghệ, kinh tế, xã hội
cùng với môi trường bên trong bao gồm trình độ lao động, trình độ công nghệ, tính
chất công việc, thế lực của công đoàn, ban lãnh đạo doanh nghiệp, khả năng tạo ra
lợi nhuận doanh nghiệp có tác động đến các hoạt động doanh nghiệp. Các yếu tố
này có ảnh đến tranh chấp, đình công, bế xưởng, giải quyết mâu thuẫn và thương
lượng tập thể của doanh nghiệp. Qua đó, thực hiện tốt các yếu tố này, các bên được
thỏa mãn, không bị không khí căng thẳng, làm tăng hiệu quả làm việc và công bằng
(Nguyễn Tiệp, 2008. Giáo trình quan hệ lao động. Trường Đại học Lao động –
Thương binh và Xã hội.) Ian Clark, Governance, the State, Regulation and
Industrial Relations, Ian Clark mô tả về các khái niệm và lịch sử trong việc chuyển

luan van thac si-tai lieu - luan an -kinh te -Footer Page 24 of 120.


Header Page 25 of 120.

25

đổi kinh tế và vai trò của nhà nước trong hệ thống quan hệ lao động năm 1979 ở




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status