Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN VŨ HƯỜNG

BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH
KHI GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Phùng Trung Tập

HÀ NỘI – NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ: “Bảo vệ quyền lợi của người
thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu” là công trình nghiên cứu của
mình. Các dẫn chứng có nguồn gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả
trình bày trong luận văn là trung thực chưa từng được ai công bố trước đây.
Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về nghiên cứu của mình.
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn

Học viên

Nguyễn Vũ Hường

QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH KHI GIAO DỊCH
DÂN SỰ VÔ HIỆU....................................................................................... 5
1.1. Khái niệm người thứ ba ngay tình........................................................ 5
1.2. Khái niệm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch
dân sự vô hiệu............................................................................................... 8
1.2.1. Khái niệm giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vô hiệu.................... 8
1.2.2. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô
hiệu.............................................................................................................. 12
1.2.3. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền
lợi của người thứ ba ngay tình.................................................................... 14
1.3. Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình......... 21
1.4. Khái lược quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi của
người thứ ba ngay tình............................................................................... 23
1.5. Pháp luật của một số quốc gia quy định về việc bảo vệ quyền lợi của
người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu ............................... 31
Chương 2 .................................................................................................... 37
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
CỦA NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH KHI GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU
..................................................................................................................... 37
2.1. Các điều kiện để quyền lợi của người thứ ba ngay tình được bảo vệ....... 37
2.1.1. Ý chí của người thứ ba ...................................................................... 37
2.1.2. Đối tượng của giao dịch dân sự ........................................................ 38


2.1.3. Sự xung đột về lợi ích giữa chủ sở hữu của tài sản với người thứ ba
ngay tình...................................................................................................... 45
2.2. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi giao dịch dân sự vô hiệu liên
quan đến quyền lợi của người thứ ba ngay tình ....................................... 47
2.2.1 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi giao dịch dân sự vô hiệu ..... 47
2.2.2 Quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu............. 52

là vấn đề phức tạp, gây ra nhiều vướng mắc, bất cập. Thực tế cho thấy, đôi
khi cũng có những chủ thể đã xác lập, thực hiện một giao dịch dân sự nhưng
lại không đạt được lợi ích mà mình mong muốn mặc dù khi tham gia giao
dịch họ thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật
với tinh thần thiện chí, ngay thẳng, trung thực nhưng họ không biết hoặc
không thể biết giao dịch mà mình xác lập là không có căn cứ pháp luật.
Thông thường, dưới góc độ pháp luật các chủ thể này được xác định là người
thứ ba ngay tình. Vấn đề bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao
dịch dân sự vô hiệu cũng là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Vậy pháp luật bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ như thế nào? Chính vì vậy, việc nghiên
cứu, phân tích các vấn đề pháp lý liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người
thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu, từ đó tìm ra những vướng mắc,
bất cập, đồng thời kiến nghị những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp
luật về vấn đề này là điều hết sức cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên, tôi
đã lựa chọn đề tài: “Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao
dịch dân sự vô hiệu” làm Luận văn Thạc sĩ của mình.


2

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi
giao dịch dân sự vô hiệu tính đến thời điểm hiện nay có một số bài viết, công
trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này ở các cấp độ khác nhau, cụ thể như
bài viết: “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình theo
Điều 258 Bộ luật Dân sự - hiểu thế nào cho đúng” của tác giả Lưu Thị Thu
Hiền đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân, Toà án nhân dân tối cao, số 12/2012; bài
viết:“Trao đổi về bài “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay
tình theo Điều 258 Bộ luật Dân sự - hiểu thế nào cho đúng” của tác giả Huỳnh
Xuân Tình đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân, Toà án nhân dân tối cao, số

3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
- Khái niệm người thứ ba ngay tình và việc bảo vệ quyền lợi của người
thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
- Quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi của người thứ
ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
- Thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến người thứ ba ngay tình
và hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người
thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt việc nghiên cứu đề tài, trong quá trình nghiên cứu tác
giả sử dụng nhiều phương pháp như phương pháp phân tích và tổng hợp để
làm rõ các khái niệm liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay
tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác có tính ứng
dụng cụ thể như phương pháp so sánh luật, khảo sát thực tiễn để thấy được
những điểm phù hợp, hạn chế trong các quy định pháp luật, từ đó đưa ra một
số kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của
người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
5. Mục tiêu, nhiệm vụ của việc nghiên cứu luận văn
5.1. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ những quy định của pháp luật
về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
Thông qua việc tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật, đề xuất
một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền
lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu...


4


5

Chương 1
KHÁI NIỆM NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH VÀ VIỆC BẢO VỆ
QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI THỨ BA NGAY TÌNH KHI GIAO DỊCH
DÂN SỰ VÔ HIỆU
1.1. Khái niệm người thứ ba ngay tình
Khi một giao dịch dân sự bị tuyên bố là vô hiệu thì giao dịch đó không
có giá trị pháp lý tại thời điểm ký kết, không xác lập quyền và nghĩa vụ của
các bên, quay lại tình trạng ban đầu hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận.
Trong trường hợp người thứ ba tham gia giao dịch ngay tình thì giải quyết
như thế nào. Để giải quyết vấn đề này trước hết cần phải hiểu rõ thế nào là
người thứ ba ngay tình khi tham gia giao dịch. Khi giao dịch dân sự vô hiệu,
vấn đề bảo vệ người thứ ba ngay tình được đặt ra khi thoả mãn các điều kiện
pháp luật quy định. Để hiểu rõ về người thứ ba ngay tình nhằm bảo vệ quyền
lợi của người thứ ba ngay tình hiệu quả, cần xác định chủ thể là “người thứ
ba”. Có quan điểm cho rằng: “Trong quan hệ dân sự, ngoài các chủ thể hoặc
người đại diện, người được uỷ quyền tham gia giao dịch, một số trường hợp
có người khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Đó là người thứ ba trong
quan hệ dân sự.”1 Để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao
dịch dân sự vô hiệu cần thoả mãn điều kiện “giao dịch dân sự vô hiệu”.
BLDS năm 2005 sử dụng thuật ngữ “người” thứ ba ngay tình, vậy cần
xác định nội hàm của thuật ngữ “người” trong trường hợp này là những chủ
thể nào. Chủ thể tham gia giao dịch dân sự được BLDS năm 2005 đề cập đến
là “người”, cụ thể ở điểm a khoản 1 Điều 22 “người tham gia giao dịch dân
sự”. Điều luật dùng thuật ngữ “người” tham gia giao dịch dân sự nhưng cần
hiểu rằng “người” ở đây chỉ các chủ thể có thể tham gia giao dịch dân sự, mà
chủ thể có thể tham gia giao dịch dân sự là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ
hợp tác. Bản thân người thứ ba ngay tình cũng là người tham gia giao dịch
dân sự, như vậy thuật ngữ “người” trong người thứ ba ngay tình phải được

sản họ giao dịch là đối tượng của một giao dịch vô hiệu trước đó.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì người thứ ba ngay tình
khi tham gia giao dịch vô hiệu được hiểu là “người được chuyển giao tài sản
thông qua giao dịch dân sự mà họ không biết, không buộc phải biết là tài sản
đó do người chuyển giao cho họ thu được từ một giao dịch vô hiệu.”
Vậy người thứ ba tham gia giao dịch dân sự ngay tình là khi tham gia
giao dịch trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tuân theo các quy định của pháp
luật mà không biết đối tượng giao dịch là tài sản bất minh, do chủ sở hữu


7

được xác lập trước đó bởi một giao dịch vô hiệu. Đây có thể nói là yếu tố
quan trọng nhất để xác định người tham gia giao dịch hoàn toàn ngay tình.
Sự không biết và không buộc phải biết ở đây còn được thể hiện, đối với
một người bình thường thì không thể biết được tài sản đưa vào giao dịch xuất
phát từ một giao dịch vô hiệu. Thông thường trong thực tiễn giải quyết tranh
chấp người ta căn cứ vào yếu tố khách quan của các bên tham gia giao dịch để
xác định tính chất này. Đối với tài sản không cần có giấy tờ sở hữu mà người
chiếm hữu tài sản khẳng định đó là tài sản của họ, thì người mua không bắt
buộc phải biết. Đối với loại tài sản mà theo pháp luật phải có giấy chứng nhận
quyền sở hữu, thì người chiếm giữ tài sản có giấy tờ sở hữu hoặc có giấy uỷ
quyền tham gia giao dịch và người mua trong điều kiện thông thường đối với
một người bình thường thì buộc phải biết. Trong trường hợp giấy tờ này nhìn
với mắt thường và trong điều kiện bình thường thì không thể phát hiện ra đó
là giấy tờ giả hoặc được cơ quan có thẩm quyền cấp trái quy định của pháp
luật thì không phải do lỗi của bên mua.
Từ đó, có thể thấy rằng để xác định người thứ ba ngay tình thông
thường được căn cứ vào những điểm sau đây:
- Trước khi người thứ ba tham gia giao dịch đối tượng của giao dịch

1.2. Khái niệm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi
giao dịch dân sự vô hiệu
1.2.1. Khái niệm giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vô hiệu
* Khái niệm giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu cho cá
nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập và thực hiện các quyền và
nghĩa vụ dân sự nhằm thoả mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng và
trong sản xuất, kinh doanh. Giao dịch dân sự càng có ý nghĩa quan trọng
trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay, giao dịch dân sự được xem là công cụ thông
dụng và có hiệu quả nhất đảm bảo cho các quan hệ dân sự được thực hiện
trong hành lang pháp lý nhằm thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển. Chế định
giao dịch dân sự lần đầu tiên được quy định trong BLDS năm 1995, sau đó được
sửa đổi, bổ sung trong BLDS năm 2005.
Giao dịch dân sự là một trong những căn cứ quan trọng và phổ biến
nhất làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự. Theo Từ điển Tiếng Việt, giao
dịch là “có quan hệ gặp gỡ, tiếp xúc với nhau.”2 Điều 121 BLDS năm 2005
quy định về giao dịch dân sự như sau: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc
2

Viện Ngôn ngữ (2010), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Thanh Niên, Hà Nội, tr.348


9

hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự.” Đối với giao dịch dân sự là hợp đồng còn được quy định tại
mục 7 Phần thứ 3 BLDS năm 2005, hành vi pháp lý đơn phương được quy
định một phần trong hợp đồng dân sự như hứa thưởng, thi có giải… và trong phần
quy định về thừa kế.

10

những yêu cầu tối thiểu buộc các chủ thể phải tuân theo gọi là điều kiện có
hiệu lực của giao dịch dân sự nhằm tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các chủ thể. Điều 122 BLDS năm 2005 quy định về điều kiện
có hiệu lực của giao dịch dân sự, cụ thể như sau:
“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự
b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của
pháp luật, không trái đạo đức xã hội
c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch
trong trường hợp pháp luật có quy định.”
Từ quy định trên có thể hiểu điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
là những điều kiện do pháp luật quy định mà một giao dịch dân sự muốn phát
sinh hiệu lực pháp lý phải thoả mãn các điều kiện đó. Tuy nhiên trên thực tế,
để xác định một giao dịch có phát sinh hiệu lực pháp lý hay không còn phải
căn cứ vào các quy định của pháp luật có liên quan và các ngành luật điều chỉnh
giao dịch đó. Qua những phân tích trên có thể kết luận: Giao dịch dân sự là sự
thể hiện ý chí một cách tự nguyện của các chủ thể thông qua hợp đồng hoặc
hành vi pháp lý đơn phương nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và
nghĩa vụ dân sự.4
* Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu
Dưới góc độ nghiên cứu, trong khoa học pháp lý thuật ngữ “giao dịch
dân sự vô hiệu” được sử dụng rất rộng rãi, tuy nhiên chưa có một tài liệu
chính thống nào nêu ra khái niệm khoa học cụ thể này.
Vô hiệu theo nghĩa thông thường là “không có hiệu lực, không mang
lại kết quả” 5. Do đó, có thể hiểu giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự
không có hiệu lực pháp lý, mặc dù giao dịch giữa các bên đã được xác lập,
các bên đang thực hiện hoặc đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhưng mọi

một trong những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Tính vô hiệu của nó
là không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giao dịch.
Trường hợp các bên đã thực hiện hoặc thực hiện được một phần của giao dịch thì
vẫn không được công nhận về mặt pháp lý và mọi cam kết không có giá trị bắt
buộc đối với bên kể từ thời điểm các bên giao kết giao dịch dân sự. Như vậy, việc
pháp luật quy định về giao dịch dân sự vô hiệu là rất cần thiết nhằm đảm bảo sự
ổn định trong giao lưu dân sự đồng thời giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự.
Qua đó, có thể thấy một số đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu:
Thứ nhất, giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch luôn vi phạm một trong
những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Các điều kiện này đó là:
- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;


12

- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của
pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;
- Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch
trong trường hợp pháp luật có quy định.
Như vậy, một giao dịch khi không thỏa mãn một trong các điều kiện trên có
thể sẽ vô hiệu. Tuy nhiên, điều kiện về hình thức không mang tính bắt buộc, nó
chỉ mang tính bắt buộc khi Nhà nước có yêu cầu một loại giao dịch nào đó nhất
thiết phải tuân thủ theo một hình thức nhất định mà pháp luật quy định.
Thứ hai, khi giao dịch dân sự vô hiệu các bên sẽ phải gánh chịu những
hậu quả pháp lý nhất định.
Thứ ba, việc quy định giao dịch dân sự vô hiệu thể hiện ý chí của Nhà
nước trong việc kiểm soát các giao dịch dân sự nhất định nếu thấy cần thiết vì
lợi ích của Nhà nước và lợi ích công cộng.

vật chất hoặc tinh thần do kết quả lao động của bản thân tạo nên hoặc do phúc
lợi chung do nhà nước, xã hội hoặc tập thể cơ quan, tổ chức nơi mình sinh
sống làm việc mang lại”. Như vậy, khách thể của việc bảo vệ rất rộng, có thể
là những lợi ích chính trị, xã hội, vật chất, tinh thần. Nhưng việc bảo vệ quyền
lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu không phải là bảo
vệ tất cả những lợi ích đó của người thứ ba ngay tình, mà chủ yếu tập trung
phân tích quyền và lợi ích chính đáng của người thứ ba ngay tình trong mối
quan hệ với chủ sở hữu ban đầu và người xác lập giao dịch với họ khi có một
giao dịch dân sự vô hiệu.
Như vậy, bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân
sự vô hiệu có nghĩa là bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ trong mối
quan hệ với chủ sở hữu ban đầu và người xác lập giao dịch với họ khi có một
giao dịch dân sự vô hiệu trước đó làm ảnh hưởng đến quyền lợi của họ.
Rõ ràng, khi giao dịch dân sự vô hiệu thì quyền lợi của người thứ ba
ngay tình cần được bảo vệ. BLDS năm 2005 có đưa ra những cách thức bảo
vệ khác nhau như: kiện đòi lại tài sản, kiện đòi bồi thường thiệt hại, kiện yêu
cầu chấm dứt hành vi vi phạm… Vậy mức độ bảo vệ người thứ ba ngay tình
khi giao dịch dân sự vô hiệu sẽ như thế nào? Nhất là trong tình huống chủ sở
hữu ban đầu kiện đòi lại tài sản, yêu cầu tuyên bố giao dịch của người thứ ba
6

Viện Ngôn ngữ (2010), tr.34.


14

vô hiệu thì họ có được quyền sở hữu tài sản đó hay phải trả lại tài sản cho chủ
sở hữu ban đầu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Xét dưới góc độ bảo vệ quyền lợi, chúng ta thấy việc trả lại tài sản và
yêu cầu bồi thường hay là được giữ lại tài sản thì quyền lợi của người thứ ba


căn cứ vào các quy định của pháp luật điều chỉnh đối với loại giao dịch này và
đồng thời các quy định khác của pháp luật liên quan đến tài sản đang có tranh chấp.
Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu khi có người thứ ba ngay
tình cần được bảo vệ được quy định cụ thể tại Điều 138 BLDS năm 2005:
Trên thực tế, nếu tuyệt đối hoá hoàn toàn quyền được kiện đòi lại tài
sản của chủ sở hữu thì có thể sẽ tạo ra tâm lý e dè, lo sợ của các chủ thể khi
quyết định thực hiện một giao dịch dân sự để xác lập quyền sở hữu đối với
một tài sản cụ thể. Và vô hình chung quy định này sẽ tạo ra một rào cản cho
sự thúc đẩy các giao lưu dân sự, thương mại phát triển và kìm hãm sự phát
triển kinh tế xã hội nói chung, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường
đang chuyển mình hội nhập của nước ta hiện nay.
Do vậy, khi xây dựng các quy định về kiện đòi lại tài sản, các nhà làm
luật đã không chỉ chú ý đến việc bảo vệ quyền lợi cho chủ sở hữu mà còn chú ý
đến việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của người chiếm hữu ngay tình nhằm đảm
bảo tính ổn định, an toàn của giao lưu dân sự đã được các chủ thể xác lập.
* Đối với tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu rời khỏi
chủ sở hữu theo ý chí của chủ sở hữu; người thứ ba chiếm hữu ngay tình
thông qua hợp đồng có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản
Điều 257 BLDS năm 2005 khi quy định về quyền đòi lại động sản không
phải đăng ký quyền sở hữu đã dự liệu một trường hợp ngoại lệ mà chủ sở hữu
không có quyền kiện đòi lại tài sản đó là: trường hợp tài sản là động sản không
phải đăng ký quyền sở hữu rời khỏi chủ sở hữu theo ý chí, người thứ ba ngay
tình khi có được tài sản thông qua hợp đồng có đền bù với người không có
quyền định đoạt tài sản, thì người thứ ba ngay tình không trả lại tài sản.
Tài sản rời khỏi chủ sở hữu theo ý chí của chủ sở hữu; người thứ ba
chiếm hữu ngay tình thông qua hợp đồng có đền bù với người không có
quyền định đoạt tài sản là trường hợp chủ sở hữu chuyển giao tài sản cho
người chiếm hữu hợp pháp thông qua một hợp đồng như cho thuê, cho mượn,
cầm cố, thế chấp, đặt cọc… sau đó người chiếm hữu hợp pháp định đoạt tài

biện pháp đảm bảo mà pháp luật cho phép nhằm hạn chế hành vi vi phạm của
người được chuyển giao tài sản, tự mình bảo vệ quyền sở hữu của mình.
Mặt khác, việc pháp luật cho phép người thứ ba ngay tình trong trường
hợp này được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đã nhận chuyển giao là
thoả đáng bởi việc chiếm hữu của người thứ ba là ngay tình và thông qua hợp
đồng có đền bù. Hơn nữa, chính chủ sở hữu cũng có lỗi trong việc không áp
dụng các biện pháp bảo đảm cần thiết để bảo vệ tài sản của mình khi chuyển


17

giao tài sản cho người khác nên họ phải chịu rủi ro. Người thứ ba ngay tình
được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đồng nghĩa với việc chủ sở hữu
không được quyền kiện đòi lại tài sản nữa. Việc bảo vệ quyền lợi cho người
thứ ba ngay tình trong trường hợp này có ý nghĩa quan trọng, bởi nó không
chỉ là sự bảo vệ cho quyền lợi chính đáng của các chủ thể, giúp cho các chủ
thể yên tâm khi tham gia vào các giao dịch dân sự mà quy định này còn góp
phần bảo đảm tính ổn định, thúc đẩy sự phát triển của các giao lưu dân sự.
* Đối với tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất
động sản mà người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được trong một số
trường hợp ngoại lệ
Về nguyên tắc pháp luật cho phép chủ sở hữu được đòi lại tài sản là
động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản từ người thứ ba ngay
tình. Tuy nhiên có hai trường hợp ngoại lệ chủ sở hữu không được kiện đòi lại
tài sản nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình theo quy định tại
Điều 258 BLDS năm 2005, đó là:
Ngoại lệ thứ nhất: Người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản
thông qua bán đấu giá.
Bán đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản công khai theo phương thức
trả giá lên, có từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc, trình tự,

Ngoại lệ thứ hai: Người thứ ba chiếm hữu ngay tình giao dịch với
người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ
sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do
bản án, quyết định bị huỷ, sửa.
Huỷ bản án, quyết định dân sự là việc Toà án không công nhận giá trị
pháp lý của bản án, quyết định dân sự. Việc huỷ bản án, quyết định dân sự
được tiến hành khi Toà án xét xử lại vụ án dân sự theo quy định của pháp luật
tố tụng dân sự. Sửa bản án, quyết định dân sự là việc Toà án thay đổi nội
dung của bản án, quyết định dân sự nhằm bảo đảm tính hợp pháp và tính có
căn cứ của bản án, quyết định.
Điều kiện áp dụng ngoại lệ thứ hai là:
- Người thiết lập giao dịch với người là chủ sở hữu tài sản theo bản án,
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải là người chiếm hữu
ngay tình. Người này không biết và không thể biết người thiết lập giao dịch
với mình không phải là chủ sở hữu tài sản;


19

- Giao dịch được thiết lập giữa người thứ ba chiếm hữu ngay tình với
người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở
hữu tài sản;
- Do bản án, quyết định bị huỷ, sửa nên người thiết lập giao dịch với
người thứ ba ngay tình không còn là chủ sở hữu tài sản nữa. Thông thường,
bản án, quyết định của Toà án bị huỷ, sửa do vi phạm của cơ quan tiến hành
tố tụng, trừ những trường hợp huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
và đình chỉ giải quyết vụ án. Đây cũng là một trong những lý do quan trọng
dẫn đến người thứ ba ngay tình được bảo vệ khi bản án, quyết định của Toà
án bị huỷ, sửa.
Như vậy, theo quy định tại Điều 258 BLDS năm 2005 thì điều kiện để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status