LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận án đều trung
thực và có xuất sứ rõ ràng.
Tác giả luận án
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Những nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp
1.2. Những nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp
1.3. Khái quát kết quả của những công trình khoa học đã công bố có liên
quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải
quyết
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG
NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRONG BỐI
CẢNH HIỆN NAY
2.1. Trường trung học phổ thông dân tộc nội trú và giáo dục hướng nghiệp
cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú
2.2. Những vấn đề lý luận về quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú
2.3. Bối cảnh hiện nay, những vấn đề đặt ra và các yếu tố tác động đến
quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học
phổ thông dân tộc nội trú
Chương 3 CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG
NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
23
29
33
33
48
64
78
78
84
89
96
110
116
116
120
148
167
170
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
171
181
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
3.1.
Giá trị sản xuất công nghiệp (tính theo giá thực tế) phân theo địa
phương của 08 tỉnh năm 2012
Tỉ lệ phân luồng sau trung học phổ thông của học sinh trung học
phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc
Tỷ lệ phân luồng cơ bản theo cơ cấu kinh tế trong bối cảnh hiện nay
Tính cần thiết của các biện pháp quản lý
Tính khả thi của các biện pháp quản lý
Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
So sánh kết quả đánh giá năng lực trước thử nghiệm
So sánh kết quả đánh giá năng lực sau thử nghiệm lần 1
So sánh kết quả đánh giá năng lực sau thử nghiệm lần 2
So sánh kết quả đánh giá năng lực sau thử nghiệm 2 lần
So sánh sự phát triển năng lực giáo dục hướng nghiệp của giáo
viên sau quá trình thử nghiệm
3.3.
4.1.
4.2.
4.3.
4.4.
4.5.
4.6.
4.7.
4.8.
Số
2.1
Trang
79
105
106
149
150
151
154
159
160
161
162
Trang
47
130
136
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận cấu thành và giữ vai trò rất quan trọng
của quá trình giáo dục toàn diện, có mối quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ các mặt giáo dục
đức, trí, thể, mỹ, tạo nên một chỉnh thể thống nhất và toàn vẹn của nhân cách học
sinh. Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông có ý nghĩa
quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục, theo nguyên lý giáo dục của Đảng
trong bối cảnh hiện nay. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp
Giáo dục hướng nghiệp được xem là một mặt giáo dục, không phải là môn học với
giáo trình cụ thể; Nhà trường thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp lồng ghép
trong các hoạt động giáo dục đức, trí, thể, mỹ, hoạt động trải nghiệm. Giáo dục đại
học phát triển nhưng chưa được quy hoạch phù hợp với cơ cấu nền kinh tế và nhu
cầu nhân lực trong thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng 4.0).
Trong Văn kiện Đại hội lần thứ XII, Đảng ta cũng đã nhận định: “…giáo dục
và đào tạo chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, thành động lực phát triển.
Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục
đại học, giáo dục nghề nghiệp… Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản
xuất kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc
giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc” [38, tr. 113 - 114]. Không ít sinh
viên đại học ra trường không có việc làm, phải tiếp tục học thêm nghề khác với
trình độ trung cấp để đáp ứng nhu cầu lao động nghề hoặc lao động phổ thông; tình
trạng thiếu nhân lực lao động lành nghề, thừa nhân lực lao động thủ công chiếm tỉ lệ
rất cao; từ năm 2015 trở lại đây tỉ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông dân tộc
nội trú không đăng ký thi đại học mà tìm hướng học nghề hoặc xuất khẩu lao động
tăng dần, là thực tiễn minh chứng về “lỗ hổng” trong xác định vai trò giáo dục
hướng nghiệp trong trường phổ thông dân tộc nội trú.
Hiện nay, quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường phổ thông dân tộc nội
trú nói chung và trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc nói riêng
còn nhiều bất cập: Chưa có một hướng dẫn cụ thể nào về kiểm tra, đánh giá chất
lượng giáo dục hướng nghiệp; không có tổ chuyên môn chuyên trách về giáo dục
hướng nghiệp; sự dàn trải lồng ghép giáo dục hướng nghiệp trong các hoạt động
giáo dục khác, sự thiếu quan tâm về đánh giá chất lượng giáo dục hướng nghiệp,
dành chỗ cho các tổ chức cá nhân tuyên truyền nghề nghiệp cho học sinh ngay trong
các nhà trường, chính là những vấn đề bất cập dẫn đến không quản lý được kết quả
giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông dân tộc nội trú.
7
người dân tộc thiểu số trong vùng cũng như cả nước.
8
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận về giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng
Tây Bắc.
- Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các
trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay.
- Khảo nghiệm các biện pháp và thử nghiệm một biện pháp quản lý đã đề xuất.
3. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
* Khách thể nghiên cứu
Quản lý giáo dục ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ
thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay.
* Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu: Căn cứ vào Chương trình giáo dục phổ thông của
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành trong giai đoạn 2011 - 2016: Giáo dục hướng
nghiệp là một môn học nhưng không có kiểm tra đánh giá. Chương trình giáo dục
phổ thông mới ban hành năm 2017: Giáo dục hướng nghiệp được xem là một nhiệm
vụ của bậc giáo dục trung học phổ thông, nên luận án tập trung nghiên cứu trong
phạm vi quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của nhà trường trung học phổ
thông dân tộc nội trú.
Về chủ thể quản lý: Phạm vi chủ thể quản lý là các cá nhân, tổ chức trong
nhà trường trung học phổ thông theo Điều lệ trường Trung học cơ sở, trường trung
học phổ thông và trường trung học phổ thông có nhiều cấp học quy định: Gồm Ban
vùng Tây Bắc phù hợp với nhu cầu nguồn nhân lực của địa phương, thì sẽ quản lý
được chất lượng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, đáp ứng nhu cầu tạo nguồn
đào tạo nhân lực người dân tộc thiểu số trong bối cảnh hiện nay.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, đào tạo, quản lý giáo dục; quan điểm xây
dựng và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.
10
Phương pháp tiếp cận của đề tài: Để nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản
lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh một cách toàn diện, Luận án sử dụng
phương pháp “Kết hợp tiếp cận chức năng và tiếp cận hoạt động”. Mặt khác, giáo
dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông bao gồm nhiều thành tố; các thành tố
của quá trình giáo dục có mối liên hệ chặt chẽ và tương tác qua lại với nhau cho nên
để đánh giá một quá trình giáo dục cần phải xem xét các thành tố của quá trình giáo
dục. Chất lượng giáo dục hướng nghiệp phản ánh rõ nét hiệu quả quản lý giáo dục
hướng nghiệp của chủ thể, trong đó quản lý giáo dục hướng nghiệp được tiếp cận là
một quá trình thực hiện các chức năng quản lý lên đối tượng quản lý với phương
tiện, công cụ là các thành tố còn lại của quá trình quản lý. Vậy muốn nghiên cứu về
thực tiễn quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh thì phải tiếp cận theo hướng
xem xét chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý như thế nào trong quá
trình tác động vào các hoạt động giáo dục. Lấy kết quả hoạt động giáo dục hướng
nghiệp làm thước đo hiệu quả quản lý và phát hiện các vấn đề nảy sinh trong quá
trình thực hiện các chức năng quản lý. Bên cạnh đó, tác giả luận án còn vận dụng
linh hoạt các quan điểm: hệ thống - cấu trúc, lịch sử - lôgíc, thực tiễn, phát triển, mô
hình hoá, khái quát hoá,... trong xem xét, giải quyết vấn đề nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu
trí trong xã hội, đảm bảo mỗi mẫu phiếu có đủ số lượng cho thông tin đủ tin cậy.
Phương pháp tọa đàm, trao đổi, phỏng vấn sâu: Tổ chức tọa đàm với cán bộ
quản lý giáo dục, các chuyên gia, giáo viên,... ở các trường trung học phổ thông trên
địa bàn về giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở
các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú. Trao đổi với lãnh đạo, chính quyền
địa phương, với các phụ huynh học sinh và học sinh ở các trường trung học phổ
thông dân tộc nội trú, sinh viên một số trường đại học, cao đẳng trên địa bàn về vấn
đề giáo dục hướng nghiệp trong những năm qua để tìm hiểu về những vấn đề có liên
quan đến quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ
thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu các báo cáo tổng
kết năm học, vấn đề quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung
học phổ thông dân tộc nội trú; qua đó, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục hướng
nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc
một cách khách quan, chính xác và đầy đủ.
Phương pháp quan sát sư phạm: Tiến hành quan sát quá trình quản lý giáo
dục hướng nghiệp; tập trung vào các chức năng quản lý: phương pháp lãnh đạo, chỉ
12
đạo, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục hướng nghiệp, kiểm tra, đánh
giá kết quả giáo dục hướng nghiệp cho học sinh của các trường, nhằm đánh giá thực
trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông
dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay.
Tham gia dự một số hoạt động tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở
một số trường trung học phổ thông dân tộc nội trú, làm cơ sở đánh giá thực trạng
quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân
tộc nội trú vùng Tây Bắc.
Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm: Từ việc phân tích làm rõ
những ưu điểm, hạn chế của thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp, tác giả luận
Đặc biệt, luận án đã đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp
cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú vùng Tây Bắc trong
bối cảnh hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
* Ý nghĩa lý luận: Luận án đưa ra cơ sở lý luận để đề xuất các biện pháp
quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông dân
tộc nội trú vùng Tây Bắc trong bối cảnh hiện nay, góp phần bổ sung, phát triển làm
phong phú thêm lý luận quản lý, quản lý giáo dục, quản lý giáo dục hướng nghiệp
cho học sinh ở các trường trung học phổ thông.
* Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ,
chính quyền và nhân dân địa phương, nhất là các trường trung học phổ thông dân
tộc nội trú trong vùng. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo
phục vụ cho lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các
trường trung học phổ thông dân tộc nội trú
7. Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận án được trình bày trong 4 chương, 14 tiết.
14
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Giáo dục hướng nghiệp ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát
triển, ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực và cơ hội việc
làm cho thế hệ trẻ của mỗi quốc gia. Đây là vấn đề đã, đang được nhiều nhà khoa
học ở cả trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu. Nhiều đề tài nghiên cứu, cuốn
sách, luận án, bài báo khoa học được công bố, góp phần cung cấp những luận cứ
khoa học cho việc hoạch định các chính sách về giáo dục hướng nghiệp và quản lý
giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong hệ thống giáo dục quốc dân.
1.1. Những nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp
Nghiên cứu này đã đưa ra một số thuật ngữ khoa học và bộ khung nghiên cứu có
tính lý thuyết về lĩnh vực nghề nghiệp và tư vấn nghề nghiệp [124].
Trên Tạp chí Tâm lý học quốc tế số 2 năm 2009, tác giả Andrea Ferro (2009),
“ International Journal of Psychologycal Research” [107] công bố bài viết “Sự
chuẩn bị của xã hội trong công tác tư vấn nghề nghiệp tại Argentina”. Đây là bài
viết đề cập tới rất nhiều vấn đề, đó là: Hoạt động hướng nghiệp, giáo dục hướng
nghiệp, vai trò của chính sách Nhà nước đối với hướng nghiệp và giáo dục hướng
nghiệp phân luồng nghề nghiệp. Tác giả Ferro cho biết tỉ lệ thất nghiệp của
Argentina là 17,8% tại thời điểm năm 2002. Sau khi phân tích thực trạng thất
nghiệp này, tác giả chỉ ra nguyên nhân một phần là do giáo dục: “Numbers related
to education”, bất chấp sự nỗ lực của mỗi cá nhân. Tác giả cho rằng: “Không có sự
khác biệt giữa hai lựa chọn nghề nghiệp là lựa chọn vì động cơ cá nhân và lựa chọn
phục vụ nhu cầu xã hội; mà thực chất hai lựa chọn đó phải thống nhất và hòa hợp
với nhau” [107, tr. 73-78]. Để mỗi cá nhân có thể đưa ra lựa chọn nghề nghiệp phù
hợp thì điều kiện tiên quyết là: Mỗi cá nhân phải có các năng lực tâm lý
(psychology competences); Nhà nước phải có các chuyên gia tư vấn nghề nghiệp
một cách chuyên nghiệp (professional psychologists).
Trong bài viết “Tâm lý học hướng nghiệp và tư vấn nghề nghiệp sẽ là
những phát kiến của tương lai” trên Tạp chí Ứng xử nghề nghiệp (Vocational
Behavior), tác giả Robert W.Lent (2001) [120] đã chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại,
hạn chế của hoạt động tư vấn nghề nghiệp và giáo dục hướng nghiệp, cụ thể: Sự thiếu
hiệu quả (weakness); Lỗ hổng lớn (gaps); Sự thiếu bình đẳng (unfair); đồng thời đã
kiến nghị, cần có một tầm nhìn mới cho tương lai (future vision) mà trong đó vai
trò của Tâm lý học hướng nghiệp là đặc biệt quan trọng. Cùng với hoạt động tư
vấn nghề nghiệp cho thanh niên và giới trẻ phải thực hiện, hoàn thành 12 mục
16
tiêu, trong đó có những mục tiêu cụ thể về lĩnh vực tư vấn nghề nghiệp và giáo
dục hướng nghiệp, đó là: 1) Tiếp tục mở rộng các nghiên cứu lý thuyết cơ bản về
17
hài lòng (thỏa mãn) với những tiến bộ mà tôi làm được để đáp ứng mục tiêu tiến bộ
của cá nhân tôi; 5) Tôi hài lòng (thỏa mãn) những tiến bộ mà tôi làm được để đáp
ứng mục tiêu nâng cao sự thuần thục về kỹ năng.
Một số tác giả khác đề cập đến vấn đề thiếu hụt chương trình tư vấn nghề
nghiệp cho đội ngũ nha sĩ tại Hà Lan là nhóm tác giả bao gồm: Ronald C. Gorter,
Michiel A.J.Eijk man, Johan Hoogstraten (2001), “A career counseling program for
dentists: effects on burnout” [122]. Các tác giả này cho rằng: “Nhiều lĩnh vực nghề
nghiệp không có sự tư vấn và định hướng một cách chuyên nghiệp, trong đó có lĩnh
vực đào tạo nha sĩ” [122, tr. 23]. Sự thiếu hụt đó ít nhiều đã ảnh hưởng tiêu cực đến
kết quả đào tạo nha sĩ cũng như hiệu quả làm việc của các nha sĩ sau này. Các tác
giả đã tổ chức nghiên cứu điều tra thực trạng trên 171 nha sĩ và thực nghiệm tư vấn
nghề nghiệp trên 66 nha sĩ trong đó có 35 nha sĩ được thực nghiệm còn 31 nha sĩ
làm nhiệm vụ đối chứng. Sau đó, kết quả thay đổi về nhận thức và kỹ năng ở 66 nha
sĩ nêu trên được phân tích, so sánh, bình luận một cách khách quan, công bằng và
cho thấy: Chương trình tư vấn nghề nghiệp dành cho các nha sĩ do các tác giả xây
dựng là rất khoa học và hiệu quả. Kết luận của bài báo do nhóm tác giả đưa ra là:
“Cần xây dựng các chương trình tư vấn nghề nghiệp cụ thể cho từng lĩnh vực đào
tạo và từng lĩnh vực nghề nghiệp thì mới có hiệu quả trong thực tiễn” [122, tr. 30].
Trong bài viết “Tư vấn nghề nghiệp và tâm lý học nghề nghiệp ở Bồ Đào
Nha - một chính sách quan trọng của Nhà nước” trên số 52 của Tạp chí Ứng xử
nghề nghiệp, năm 1998 [110], các tác giả Eduardo J.R.Santos và Joaquim
Armando Ferreira cho rằng: Quan điểm nhấn mạnh và xuyên suốt của chúng tôi là
việc tư vấn nghề nghiệp cần được xây dựng như là một nhiệm vụ quan trọng của
việc phát triển của mỗi cá nhân và toàn bộ xã hội dựa trên các giá trị cốt lõi của
truyền thống và các mục tiêu nghề nghiệp cụ thể. Họ cũng nhấn mạnh: “Chúng ta
cần cung cấp các dịch vụ tư vấn nghề nghiệp không chỉ ở các thời điểm cụ thể mà
còn xuyên suốt cả cuộc đời của mỗi cá nhân và nó không chỉ tập trung vào các chi
tiết nghề nghiệp mà còn vào tất cả các vấn đề phát triển ở mỗi cá nhân. Cuối cùng,
không coi trọng giáo dục hướng nghiệp, chưa xem giáo dục hướng nghiệp với tư cách
là một hoạt động giáo dục chính thức của nhà trường. Việc giảng dạy bộ môn giáo
dục hướng nghiệp còn nhiều tồn tại, hạn chế: 1) Hầu hết giáo viên tổ chức hoạt động
giáo dục hướng nghiệp đều chưa qua một lớp đào tạo sư phạm nào về hướng nghiệp;
2) Các giáo viên dạy hướng nghiệp chỉ hiểu biết sâu về một nghề và sơ sài về các
nghề khác do đó là hiệu quả giáo dục hướng nghiệp rất thấp và không thể trả lời được
các câu hỏi của học sinh; 3) Sách và tài liệu về giáo dục hướng nghiệp vừa cũ, vừa
19
lạc hậu, khó sử dụng; 4) Phương pháp thuyết trình là phương pháp chủ đạo và gần
như là duy nhất được áp dụng trong giáo dục hướng nghiệp mà thực chất giáo dục
hướng nghiệp đòi hỏi tính thực tiễn rất cao.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng giáo dục hướng nghiệp, tác giả Phạm Tất Dong
chỉ ra một số định hướng cho việc đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục
hướng nghiệp: Phát huy, tính năng động sáng tạo của học sinh; coi trọng tính giáo dục
của công tác hướng nghiệp; tự tu dưỡng, tự học hỏi là điều kiện quan trọng để tạo ra
sự phù hợp nghề; quán triệt quan điểm hoạt động trong dạy học.
Theo các tác giả Nguyễn Sinh Huy và Nguyễn Văn Lê (2004) trong “Giáo
dục hướng nghiệp cho học sinh với việc phát triển nguồn nhân lực” [47] thì, “giáo
dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay phải gắn với
quá trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực theo yêu cầu của quá trình dịch chuyển
cơ cấu lao động” [47, tr. 5-6]. Các tác giả này cho rằng: “Việc dịch chuyển cơ cấu
kinh tế sẽ thúc đẩy sự thay đổi cơ cấu lao động để thích ứng với cơ chế thị trường,
nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế” [47, tr. 13].
Sau khi phân tích tình hình kinh tế - xã hội, nhất là quá trình đổi mới cơ chế
lao động, các tác giả cho rằng, giáo dục hướng nghiệp ở các nhà trường phổ thông
hiện nay dù với bất cứ hình thức nào cũng phải hướng vào hình thành cho người
học năng lực làm chủ công nghệ cao. Trên cơ sở đó, các tác giả đã chỉ ra một số
điều kiện đảm bảo cho giáo dục hướng nghiệp thành công. Đó là: 1) Có sự nhất
phổ thông khu vực Nam Trung Bộ”, (2012), Phạm Văn Khanh cho rằng: Giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh có vai trò nền tảng định hướng phát triển nghề nghiệp
tương lai, chuẩn bị tâm thế và năng lực cụ thể cho việc nắm bắt thế giới nghề nghiệp
trên cơ sở hiểu biết về các yêu cầu xã hội cũng như hiểu biết về năng lực, sở thích của
bản thân trong quá trình học tập và lựa chọn nghề nghiệp tương lai cho mình. Trong
phạm vi luận án này, tác giả đã chỉ ra 4 con đường giáo dục hướng nghiệp chủ yếu là:
Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học các môn văn hóa; Hướng nghiệp qua hoạt động
dạy học các môn công nghệ; Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học giáo dục hướng
nghiệp; Hướng nghiệp qua các hoạt động ngoại khóa, các phương tiện thông tin đại
chúng và các tổ chức xã hội. Đồng thời, xác định các hình thức giáo dục: 1) Giới
thiệu cho học sinh những nghề đang cần nhân lực, nhất là những nghề nằm trong kế
hoạch phát triển của đất nước cũng như ở địa phương; đồng thời, giới thiệu cho học
sinh những yêu cầu tâm lý và sinh lý của những nghề đó; 2) Tạo điều kiện cho học
sinh tìm hiểu hệ thống những trường đào tạo nghề bậc trung học và đại học, trước hết
là những trường công nhân kỹ thuật; 3) Tổ chức cho học sinh tham quan sản xuất ở
nhà máy, xí nghiệp, công trường, nông trường… nhằm giúp cho học sinh có những
biểu tượng (quan niệm) rõ ràng hơn về những nghề đang cần tìm hiểu; 4) Cho học
21
sinh tiếp xúc với những đại biểu ưu tú của các ngành sản xuất, qua đó, cho học sinh
tìm hiểu thêm về người lao động trong ngành nghề; 5) Tổ chức những buổi tọa đàm
về nghề nghiệp tương lai, những diễn đàn về việc chọn nghề, những buổi dạ hội có
tính chất chuyên đề tìm hiểu nghề [56]. Tác giả đã chỉ ra 6 nguyên tắc về giáo dục
hướng nghiệp: 1) Đảm bảo đặc trưng giáo dục trong hoạt động hướng nghiệp; 2)
Đảm bảo phương hướng kỹ thuật tổng hợp của hoạt động hướng nghiệp; 3) Đảm bảo
tính hệ thống và đồng bộ trong hoạt động hướng nghiệp; 4) Đảm bảo sự phân hóa và
cá biệt hóa trong hoạt động hướng nghiệp; 5) Đảm bảo tính thực tiễn trong hoạt động
hướng nghiệp là nhằm phát triển hứng thú, năng lực, sở trường nghề nghiệp của học
sinh; 6) Đảm bảo hoạt động hướng nghiệp theo khu vực lãnh thổ.
nhận định: “Sau khi tạo được hướng phân luồng học sinh sau tốt nghiệp rồi thì Nhà
nước mới có quyền định tỷ lệ % phân luồng và phát ra chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm
các hệ đào tạo theo ngân sách Nhà nước cấp” [4, tr. 35 - 38]. Đây là cách tiếp cận
vấn đề giáo dục hướng nghiệp mang màu sắc định hướng quản lý nhà nước. Theo
lập luận của tác giả thì “thời hoàng kim” của giáo dục hướng nghiệp là giai đoạn từ
1982 - 1989 với những chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ trên tinh thần gắn giáo dục
hướng nghiệp với dạy nghề phổ thông, gắn hướng nghiệp với sự phát triển của các
ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp.
Tác giả Phạm Ngọc Linh (2013) trong luận án tiến sĩ “Tư vấn hướng nghiệp
cho học sinh trung học phổ thông” [63] lại đề cập và nghiên cứu về giáo dục hướng
nghiệp theo một góc độ khác. Theo tác giả, có một số khái niệm tương đồng với
nhau về nội dung, đó là: Tư vấn hướng nghiệp, giáo dục hướng nghiệp [63]. Điểm
khác biệt trong công trình nghiên cứu của Phạm Ngọc Linh là sự nghiên cứu và
trình bày một cách công phu về các biểu hiện tâm lý, các vấn đề tâm lý được thể
hiện trong hoạt động tư vấn hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp. Đó là: Nhận
thức về nghề; Hiểu biết nhu cầu xã hội về nghề; Hiểu biết về tâm lý bản thân phù
hợp với nghề; Xu hướng nghề của học sinh; Động cơ chọn nghề; Hứng thú; Năng
lực; Tính cách.
Như vậy, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận chung
về hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp, khái quát mục tiêu, nội dung, con
đường hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông và một số loại hình trường khác
như trung tâm giáo dục thường xuyên, trường dạy nghề cho đối tượng học sinh ở
bậc trung học phổ thông. Khẳng định vị trí và vai trò của hướng nghiệp và giáo dục
hướng nghiệp trong nhà trường. Kết quả nghiên cứu của các tác giả nêu trên là cơ
sở lý luận, thực tiễn cho ngành giáo dục Việt Nam xây dựng chương trình giáo dục
hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông hiện nay.
23
1.2. Những nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp
sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú; Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội
24
ngũ giáo viên hướng nghiệp - dạy nghề, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, đánh
giá trong các trường phổ thông dân tộc nội trú; Đa dạng hóa các loại hình đào tạo,
nhằm tạo sự hấp dẫn, thu hút học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú ngay từ
khi còn đang học trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Trong luận án tiến sĩ “Tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh bổ túc trung học phổ thông tại các trung tâm giáo dục thường xuyên theo định
hướng phát triển nhân lực”, (2009), tác giả Huỳnh Thị Tam Thanh [86] phân tích,
xem xét giáo dục hướng nghiệp trong mối quan hệ với định hướng phát triển nguồn
nhân lực. Cách tiếp cận này cho phép triển khai, tổ chức hoạt động giáo dục hướng
nghiệp một cách hiệu quả đi vào bản chất và gắn liền giữa hoạt động giáo dục
hướng nghiệp với sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước
cũng như các khu vực. Tác giả khẳng định: “Để phát triển nhân lực, cần phải có
những tác động tích cực vào quá trình giáo dục và đào tạo, tuyển chọn và sử dụng
lao động. Trong nhà trường phổ thông, giáo dục có tính chất tiền đề, có ảnh hưởng
trực tiếp đến đầu vào của các hoạt động đào tạo nghề, nền tảng tạo để phát triển
nhân lực cho xã hội. Bên ngoài nhà trường, giáo dục được xem như là một hoạt
động xuyên suốt từ trong suốt cả cuộc đời đi học và tham gia sản xuất của mỗi con
người, giúp học củng cố kiến thức, kỹ năng và vì thế, góp phần nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực” [86, tr. 56].
Tác giả đi sâu nghiên cứu hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho một đối tượng
rất đặc thù là học sinh bổ túc trung học phổ thông. Sau khi phân tích, tìm hiểu về nhận
thức, năng lực đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng này, tác giả đã chỉ ra trách nhiệm
của các trung tâm giáo dục thường xuyên trong công tác tổ chức hoạt động giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh bổ túc trung học phổ thông: “Trung tâm giáo dục thường
xuyên có nhiều điều kiện để tổ chức giảng dạy kỹ thuật và tổ chức các hoạt động giáo
dục hướng nghiệp gắn với đào tạo nghề, tạo điều kiện để các học sinh bổ túc trung học
thường xuyên; 6) Tăng cường nguồn tài chính, các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết
bị cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp; 7) Tăng cường xã hội hóa hoạt động giáo
dục hướng nghiệp cho học sinh bổ túc trung học phổ thông [86].
Trong luận án tiến sĩ “Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học
phổ thông theo tinh thần xã hội hóa” (2009), tác giả Bùi Việt Phú đem đến một góc
nhìn khác về giáo dục hướng nghiệp và một cách làm mới cho giáo dục hướng nghiệp,
đó là tinh thần xã hội hóa. Tác giả cho rằng: “Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ
thông là một hoạt động mang tính xã hội cao, vì vậy cần phải xã hội hóa hoạt động này.
Để thực hiện giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần xã hội hóa, ngành Giáo dục và Đào
tạo cần phải làm sao để tăng cường tính xã hội của giáo dục hướng nghiệp, nhằm huy
động được cộng đồng cùng với trường phổ thông tham gia giáo dục hướng nghiệp cho