LƢƠNG NGỌC QUANG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
ĐỀ TÀI: CHẾ TÀI XỬ LÝ VI PHẠM ĐỐI VỚI HÀNH
VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ: LƢƠNG NGỌC QUANG
2014 - 2016
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
ĐỀ TÀI: CHẾ TÀI XỬ LÝ VI PHẠM ĐỐI VỚI HÀNH VI
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ: LƢƠNG NGỌC QUANG
Thầy Cô, gia đình và bạn bè. Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi đến quý
Thầy Cô ở Khoa Luật – Viện Đại học Mở Hà Nội đã cùng với tri thức và tâm huyết
của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập
tại nâng cao trình độ.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn T.S Lê Đình Vinh đã tận tâm hướng dẫn để
tôi có thể hoàn thành được luận văn này. Một lần nữa, tôi xin gửi đến T.S Lê Đình
Vinh lời cảm ơn sâu sắc nhất. Do kiến thức của tôi còn hạn chế do vậy luận văn này
không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
quý báu của quý Thầy Cô để hoàn thiện hơn luận văn này và trong lĩnh vực mà tôi
đang nghiên cứu.
Người thực hiện
Lương Ngọc Quang
ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................................1
CHƢƠNG 1: .......................................................................................................................5
KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ CÁC CHẾ TÀI
ĐỐI VỚI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH .............................5
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH .................................................................................................................5
1.1.1. Khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh..................................5
1.1.2. Đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh ........................................7
1.2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI XỬ LÝ CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH .............................................................................................................. 10
1.3. CÁC CHẾ TÀI ĐỐI VỚI HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH............................................................................................................................ 13
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm các chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành
3.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI
HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC CHẾ TÀI ĐỐI VỚI HÀNH VI CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH ............................................................................................. 67
3.1.1. Tạo lập một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp.......................... 67
3.1.2. Đáp ứng được các yêu cầu về phát triển kinh tế, xã hội ......................... 68
3.1.3. Phù hợp với các cam kết mới mà Việt Nam trong các Hiệp định song
phương và đa phương .............................................................................................. 69
3.2. ĐỊNH HƢỚNG HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH
PHÁP LUẬT VỀ CÁC CHẾ TÀI ĐỐI VỚI HÀNH VI CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH ............................................................................................. 70
3.3.CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI
HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC CHẾ TÀI ĐỐI VỚI HÀNH VI CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH ............................................................................................. 71
3.3.1. Thực hiện việc hoàn thiện thể chế pháp lý, xây dựng hệ thống biện
pháp xử lý đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh một cách có hệ
thống và đồng bộ ....................................................................................................... 71
3.3.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động các Cơ quan quản lý cạnh tranh ........... 78
iv
3.3.3. Nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về pháp luật cạnh
tranh và những chế tài xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh thông qua
việc tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật................................................... 82
3.3.4. Tăng cường hợp tác quốc tế ......................................................................... 83
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 87
v
1
về xử lý các hình thức cạnh tranh không lành mạnh, đồng thời nâng cao nhận thức
của các thương nhân về hành vi cạnh tranh không lành mạnh để ngăn ngừa. Chính
vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Chế tài xử lý vi phạm đối với hành vi cạnh tranh
không lành mạnh theo pháp luật Việt Nam” làm Luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu pháp luật về cạnh tranh nói chung và các chế tài xử ký hành
vi cạnh tranh không lành mạnh nói riêng đã nhận được sự quan tâm của rất nhiều
học giả trong thời gian gần đây. Tiêu biểu phải kể đến các công tình nghiên cứu
như: Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam (Sách chuyên khảo) - NXB Tư pháp - TS.
Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, ThS. Nguyễn Ngọc Sơn; Nâng cao năng lực cạnh
tranh và bảo hộ sản xuất trong nước - NXB Lao động - PTS. Lê Đăng Doanh, ThS.
Nguyễn Thị Kim Dung, PTS. Trần Hữu Hân; Pháp luật về chống cạnh tranh không
lành mạnh ở Việt Nam - NXB Chính trị Quốc gia - TS. Lê Anh Tuấn; Bình luận
khoa học Luật Cạnh tranh - NXB Chính trị Quốc gia - TS. Lê Hoàng Oanh; Luận
văn thạc sỹ Luật học "Xây dựng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở
Việt Nam hiện nay", năm 2004 của Nguyễn Thị Thu Hiền… Các bài đăng trên tạp
chí như: "Thực thi pháp luật cạnh tranh trong viễn thông: Hiểu thế nào cho đúng?"
của TS. Phan Thảo Nguyên, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 12(224)/2006; "Về
thoả thuận hạn chế cạnh tranh" của tác giả Trần Thị Nguyệt, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật số 1(237)/2008; "Hoàn thiện các quy định pháp luật về cạnh tranh của các
tổ chức có hoạt động ngân hàng trong bối cảnh hội nhập quốc tế nhìn từ góc độ
những bất cập và yêu cầu đặt ra", của tác giả Viên Thế Giang, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật số 4(240)/2008; "Bàn về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi có
hành vi gây thiệt hại cho môi trường cạnh tranh" của TS. Dương Anh Sơn và ThS.
Nguyễn Ngọc Sơn, Tạp chí Khoa học pháp lý số 1(50)/2009… Tuy nhiên, các công
trình và các bài viết nêu trên chỉ tiếp cận ở góc độ khái quát về khoa học pháp lý đối
với quan hệ cạnh tranh nói chung và chống cạnh tranh không lành mạnh nói riêng,
hoàn cảnh thực tế của nước ta và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian sắp
tới
- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn của
khoa học pháp lý đối với các quan hệ cạnh tranh, đi sâu phân tích các hành vi cạnh
3
tranh không lành mạnh và các chế tài xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
theo pháp luật hiện hành, cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễncùng các giải
pháp để hoàn thiện pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử. Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và đánh
giá, kết hợp so sánh, đối chiếu với pháp luật cạnh tranh của một số nước trên thế
giới để đưa ra kiến nghị và giải pháp mang tính thực tiễn và khả thi để áp dụng tại
Việt Nam
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn khi
thi hành pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở nước ta, đánh giá về hiệu
quả của các chế tài xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh trong quá trình áp dụng, so
sánh với pháp luật một số nước trên thế giới, từ đó góp phần hoàn thiện pháp luật về
chế tài xử lý vi phạm, các giải pháp hạn chế, tiến tới kiểm soát hoàn toàn các hành
vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng,
công bằng giữa các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
Luận văn gồm 3 chương:
Chương I. Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh và các chế tài xử lý
mạnh. Trước hết, một loại quan điểm cho rằng hành vi cạnh tranh không lành mạnh
bao gồm tất cả hành vi xâm hại tới hoạt động cạnh tranh trên thị trường, xâm hại tới
quyền tự do cạnh tranh công bằng của các doanh nghiệp. Theo quan điểm này, các
hành vi hạn chế cạnh tranh (nhất là các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường) cũng thuộc vào phạm trù “hành vi cạnh tranh
không lành mạnh”.
5
Một loại quan điểm về “cạnh tranh không lành mạnh” được thể hiện trong
Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 10bis – được bổ sung
vào Công ước từ năm 1900) thì bất cứ hành vi nào không trung thực trong hoạt
động thương mại và công nghiệp đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Luật Cạnh tranh của Việt Nam hiện hành định nghĩa hành vi cạnh tranh
không lành mạnh là “hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh
doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại
hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” (Điều 3 Khoản 4). Điều 39 Luật Cạnh
tranh quy định cụ thể một số loại hành vi được coi là hành vi cạnh tranh không lành
mạnh như chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh
doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động của doanh nghiệp khác,
quảng cáo và khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, phân biệt đối xử của
hiệp hội, bán hàng đa cấp bất chính và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
khác do Chính phủ quy định thỏa mãn các tiêu chí quy định tại Khoản 4 Điều 3
Luật Cạnh tranh.
Có thể thấy, trong 3 cách tiếp cận về khái niệm “cạnh tranh không lành
mạnh” kể trên, theo cách tiếp cận thứ nhất, số lượng những hành vi bị coi là hành vi
cạnh tranh không lành mạnh sẽ rất lớn. Tuy nhiên, cách tiếp cận này có thể sẽ đưa
đến sự lẫn lộn trong cơ chế xử lý giữa hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh
biệt đối xử của hiệp hội” và “bán hàng đa cấp bất chính” khi xếp vào nhóm các
hành vi “cạnh tranh không lành mạnh” vẫn còn gây ra những tranh cãi.
1.1.2. Đặc điểm hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm “hành vi cạnh tranh
không lành mạnh”, nhưng về tổng thể hành vi cạnh tranh không lành mạnh có một
số đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các chủ
thể kinh doanh trên thương trường.
Điều 2 Luật Cạnh tranh 2004 quy định về đối tượng áp dụng của Luật này là
các tổ chức, cá nhân kinh doanh (gọi chung là doanh nghiệp) thuộc mọi thành phần
kinh tế khác nhau, bao gồm doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ
công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà
nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam cũng như các hiệp hội
ngành nghề hoạt động ở Việt Nam.
7
Căn cứ quy định trên thì đối tượng thực hiện các hành vi cạnh tranh và cạnh
tranh không lành mạnh có thể thuộc mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Xét trên góc
độ thị trường, hành vi kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng là hành vi cạnh
tranh trong mối tương quan với doanh nghiệp khác. Mặt khác, hoạt động kinh
doanh là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi và được thực hiện trên thị trường. Như
vậy, hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải là những hành vi được các doanh
nghiệp thực hiện trên thị trường, trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức
kinh doanh và được thực hiện nhằm mục đích sinh lợi.
Tuy nhiên, quy định về chủ thể của hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo
Luật Cạnh tranh chưa có sự thống nhất. Như đã trích dẫn ở trên, quy định về đối
tượng áp dụng của Luật cạnh tranh bao gồm các doanh nghiệp và các hiệp hội
ngành nghề hoạt động ở Việt Nam. Nhưng khi định nghĩa về hành vi cạnh tranh
Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt giữa hành vi cạnh tranh không lành
mạnh với các thoả thuận hạn chế cạnh tranh. Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là sự
thống nhất hành động của nhóm doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ đối thủ
cạnh tranh, hạn chế khả năng hành động độc lập của đối thủ cạnh tranh, làm thay
đổi tình trạng và quy luật cạnh tranh trên thị trường. Theo pháp luật cạnh tranh của
Cộng hoà Pháp, "các dạng thoả thuận minh bạch hoặc thoả thuận ngầm có nội dung
gây hậu quả ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch quy luật cạnh tranh trên thị trường
đều bị nghiêm cấm" [2]. Luật Cạnh tranh của Liên minh Châu Âu cũng có quy định:
“Mọi thoả thuận giữa các doanh nghiệp, mọi quyết định liên kết giữa các doanh
nghiệp và mọi loại thoả thuận khác có khả năng điều chỉnh quan hệ thương mại
giữa các quốc gia thành viên và có đối tượng hoặc hệ quả ngăn cản, hạn chế hoặc
làm sai lệch quy luật cạnh tranh trên thị trường chung của liên minh, thì đều bị
nghiêm cấm [1].”
Pháp luật cạnh tranh của CHLB Đức cấm "các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh có thể gây ảnh hưởng đáng kể về cạnh tranh làm tổn hại đến đối thủ cạnh
tranh, người tiêu dùng và các chủ thể tham gia thị trường khác" [8]. Pháp luật cạnh
tranh của Thái Lan cũng có quy định tương tự: "thương nhân không được tiến hành
các hoạt động cạnh tranh không tự do và không bình đẳng, không được tiến hành
9
các hoạt động gây thiệt hại, cản trở hoặc hạn chế đối với những hoạt động của
những thương nhân khác…" [7].
Như vậy, khi một hành vi cạnh tranh được thực hiện nhưng không theo
nguyên tắc nói trên, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp khác hoặc
của người tiêu dùng, thì hành vi cạnh tranh đó được coi là không lành mạnh. Thiệt
hại mà hành vi gây ra có thể là đã có thực và xác định được nhưng cũng có thể là
thiệt hại có nguy cơ xảy ra (tiềm năng) nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời.
1.2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI XỬ LÝ CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
nghiệp cũng là một nội dung quan trọng của quy phạm pháp luật cạnh tranh.
- Xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm bảo vệ quyền lợi của
người tiêu dùng (khách hàng).
Sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp luôn gắn liền với nhu cầu của
khách hàng. Chính nhu cầu của khách hàng buộc các doanh nghiệp phải luôn xác
định: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào nhằm đáp ứng lại
những yêu cầu đó. Khách hàng thường có xu hướng lựa chọn các sản phẩm hàng
hoá và dịch vụ phù hợp với nhu cầu, sở thích và túi tiền của mình. Điều này chính là
định hướng cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh và cung ứng
dịch vụ của mình. Nói cách khác, khách hàng là đối tượng được các doanh nghiệp
hướng tới để phục vụ và khai thác.
Chính vì lẽ đó để tồn tại bền vững và phát triển, doanh nghiệp luôn tìm mọi
cách lôi kéo khách hàng về phía mình, tranh giành thị trường với các đối thủ khác
chính là hoạt động thu hút khách hàng về với mình. Tuy nhiên khả năng đáp ứng
nhu cầu của khách hàng lại bị khống chế bởi khả năng đáp ứng và kiểm soát từ phía
doanh nghiệp. Trong một số trường hợp, lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người tiêu
dùng, các doanh nghiệp đã cung cấp hàng hoá và dịch vụ kém chất lượng; gian dối,
che lấp những khiếm khuyết của sản phẩm và dịch vụ hoặc cố tình đưa ra những chỉ
dẫn gây nhầm lẫn… Người tiêu dùng lúc này thường lại không có đủ cơ sở để khiếu
kiện vì giao dịch hoàn toàn thiết lập một cách tự nguyện. Vì thế, nguyên tắc "trung
thực", "thiện chí" trong giao kết hợp đồng dường như rất khó kiểm soát. Lúc đó,
đạo đức trong cạnh tranh cùng với những quy phạm mang tính cấm đoán của nó sẽ
đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sự trung thực của thị trường và lợi ích của
người tiêu dùng.
11
Như vậy, các chế tài xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh góp phần can
thiệp để bảo vệ người tiêu dùng trước những hành vi không trung thực và không
MẠNH
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm các chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành
mạnh
Như đã phân tích ở trên, cạnh tranh chính là là một trong những quy luật
kinh tế cơ bản, khách quan của nền kinh tế thị trường. Nhưng trong thực tế kinh
doanh, không ít doanh nghiệp lựa chọn việc sử dụng các thủ đoạn cạnh tranh bị coi
là "chơi xấu", gây phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp
khác và tác động xấu đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Với những trường
hợp đó, nếu các doanh nghiệp bị thiệt hại chứng minh được tổn thất của mình là do
hành vi cạnh tranh không lành mạnh của đối thủ gây ra thì có thể yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền áp dụng các chế tài xử lý đối với bên vi phạm. Khi đó cho dù là áp
dụng chế tài xử lý nào để phản ứng trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
thì các hình thức xử lý đó cũng đều thể hiện sự đánh giá tiêu cực của Nhà nước và
xã hội về hành vi và chủ thể thực hiện hành vi đó, buộc chủ thể vi phạm phải gánh
chịu những hậu quả bất lợi do đã thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Từ
đó có thể rút ra khái niệm cơ bản nhất về các chế tài xử lý vi phạm đối với hành vi
cạnh tranh không lành mạnh như sau: “Chế tài xử lý vi phạm đối với với hành vi
cạnh tranh không lành mạnh là những hình thức trách nhiệm pháp lý được Nhà
nước áp dụng đối với các chủ thể kinh doanh, buộc các chủ thể đó phải gánh chịu
những hậu quả bất lợi do đã có hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại
cho các chủ thể kinh doanh và các chủ thể khác.”
Dựa vào tính chất của các nhóm quan hệ xã hội được pháp luật cạnh tranh
điều chỉnh, chế tài xử lý đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh được chia
thành nhiều loại bao gồm: xử lý hành chính, xử lý dân sự và xử lý hình sự. Việc áp
dụng chế tài xử lý nào phụ thuộc vào những đặc điểm của lợi ích mà pháp luật cần
bảo vệ, tính chất của hành vi phạm pháp, thiệt hại do các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh gây ra. Ngoài đặc điểm chung giống chế tài xử lý các hành vi vi phạm
khác, như: chỉ áp dụng khi có vi phạm pháp luật xảy ra; là hình thức cưỡng chế của
13
14
Luật Cạnh tranh, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự,
Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thương mại…
1.3.2. Căn cứ áp dụng các chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Cũng như các vi phạm pháp luật khác, để áp dụng các chế tài xử lý đối với
hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì các căn cứ để xác định bao gồm: hành vi vi
phạm (hành vi cạnh tranh không lành mạnh), thiệt hại do hành vi gây ra, mối quan
hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại, lỗi thực hiện hành vi.
- Hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là sự chiếm đoạt ưu thế
cạnh tranh, huỷ hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác một cách bất hợp
pháp hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh tranh giả tạo.
Biểu hiện của các hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp
khác một cách bất hợp pháp bao gồm: Chiếm đoạt các bí mật thương mại mà doanh
nghiệp khác đã phải đầu tư nhiều công sức mới có được và nó đã trở thành tài sản
của doanh nghiệp đó; hành vi nhái lại nhãn mác, bao bì, kiểu dáng, khẩu hiệu kinh
doanh, thương hiệu, tạo sự nhầm lẫn trong khách hàng và gây thiệt hại trực tiếp cho
đối thủ cạnh tranh…
Việc huỷ hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác được biểu hiện thành
các hành vi như: Gièm pha đối thủ cạnh tranh, gây rối hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp khác,… khiến đối thủ kinh doanh bị mất uy tín, mất thời gian và tiền
của để phục hồi danh tính, khắc phục hậu quả.
Hành vi tạo ưu thế cạnh tranh giả tạo thông qua việc quảng cáo gian dối, nhái
thương hiệu, kiểu dáng sản phẩm của doanh nghiệp khác,… gây thiệt hại trực tiếp
cho đối thủ cạnh tranh và cho cả người tiêu dùng.
Những hành vi cạnh tranh không lành mạnh đó được các doanh nghiệp thực
hiện với mục đích để tiếp cận với thị trường khách hàng và thu lợi nhuận một cách
kiềm toả của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của bên vi phạm. Mức bồi
thường trong trường hợp đó sẽ do cơ quan có thẩm quyền xem xét và quyết định.
Tất nhiện việc đánh giá được thiệt hại là vấn đề rất phức tạp. Bên bị thiệt hại
phải đưa ra đầy đủ chứng cứ để chứng minh về những tác động tiêu cực của hành vi
cạnh tranh không lành mạnh mà đối thủ đã thực hiện và gây ra bất lợi cho mình
trong việc thu lợi nhuận, giảm sút năng lực cạnh tranh, thu hút khách hàng…Chứng
16
cứ được quy định trong Luật Cạnh tranh Việt Nam phải là "những gì có thật". Điều
đó đòi hỏi chứng cứ phải có tính khách quan, không giả mạo; phải có tính hợp pháp,
được thu thập theo trình tự mà pháp luật quy định; phải có liên quan đến hành vi
cạnh tranh không lành mạnh của đối thủ cạnh tranh.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các
thiệt hại mà nó gây ra
Trong các ngành khoa học nói chung và khoa học pháp lý nói riêng, quan hệ
nhân quả là mối quan hệ tất yếu, tự nhiên của một số sự vật, hiện tượng, trong đó
những sự vật, hiện tượng này là nguyên nhân và những sự vật, hiện tượng kia là kết
quả.
Quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại là mối quan hệ trực tiếp,
nội tại, không phải là sự suy diễn chủ quan.Trong mối quan hệ đó hành vi cạnh
tranh không lành mạnh là hành vi diễn ra trước, thiệt hại trực tiếp do hành vi đó gây
ra xảy ra sau. Bên thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ phải thực hiện
trách nhiệm pháp lý và các hình thức xử lý tương ứng khi gây ra thiệt hại nhất định
cho đối thủ cạnh tranh, mà nguyên nhân trực tiếp là hành vi cạnh tranh không lành
mạnh của mình.
Không phải tất cả mọi hành vi cạnh tranh gây ra thiệt hại cho đối thủ đều
phải chịu các biện pháp xử phạt. Mặt khác, cũng có những thiệt hại xảy ra lại xuất
phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Do đó, khi xác định thiệt hại do hành vi cạnh