Nghiên cứu đánh giá huyết tương giàu tiểu cầu , dịch chiết nguyên bào sợi đến khả năng tăng sinh và di cư của tế bào gốc biểu mô màng ối - Pdf 48

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC
----------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HUYẾT TƯƠNG
GIÀU TIỂU CẦU, DỊCH CHIẾT NGUYÊN BÀO SỢI
ĐẾN KHẢ NĂNG TĂNG SINH VÀ DI CƯ CỦA TẾ
BÀO GỐC BIỂU MÔ MÀNG ỐI

Giáo viên hướng dẫn

: TS. Đỗ Minh Trung

Sinh viên thực hiện

: Nguyễn Văn Cường

Lớp

: YD.13

Hà Nội-2017


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới
TS. Đỗ Minh Trung đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn cũng như động
viên, cổ vũ tinh thần cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt

1.1.3. Ứng dụng của PRP trong điều trị .................................................... 9
1.2. Nguyên bào sợi và vai trò của nguyên bào sợi trong liền vết thương . 11
1.3. Tế bào gốc và tế bào gốc màng ối........................................................ 13
1.3.1. Tế bào gốc ..................................................................................... 13
1.3.2. Tế bào gốc từ màng ối ................................................................... 16
1.3.3. Ứng dụng của TBG màng ối ......................................................... 19
PHẦN II : VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................. 21
2.1. Vật liệu nghiên cứu .............................................................................. 21
2.1.1. Đối tương nghiên cứu: .................................................................. 21
2.1.2.Hóa chất, dụng cụ, vật tư tiêu hao và thiết bị nghiên cứu.............. 21
2.2. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 22
2.2.2. Bảo quản tế bào ............................................................................. 23
2.2.3. Giải đông tế bào ............................................................................ 23
2.2.4. Xác định mật độ tế bào ................................................................. 23
2.2.5. Chuẩn bị huyết tương giàu tiểu cầu .............................................. 24
2.2.6. Nuôi cấy và chuẩn bị dịch chiết nguyên bào sợi .......................... 24


2.2.7. Phản ứng MTT đánh giá khả năng tăng sinh của TBG biểu mô
màng ối .................................................................................................... 24
PHẦN III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................... 27
3.1. Kết quả nuôi cấy tăng sinh TBG biểu mô màng ối .............................. 27
3.2. Kết quả đánh giá tác dụng của PRP trên TBG biểu mô màng ối......... 29
3.2.1. Kết quả đánh giá tác dụng của PRP đến khả năng sinh thông qua
số lượng TBG màng ối ............................................................................ 29
3.2.2. Kết quả đo phản ứng MTT đánh giá tác dụng của PRP đến khả
năng tăng sinh của TBG màng ối ............................................................ 33
3.2.3. Kết quả đánh giá tác dụng của PRP đến khả năng di cư của TBG
biểu mô màng ối trên vết thương in vitro. .............................................. 37
3.3. Kết quả đánh giá tác dụng dịch chiết nguyên bào sợi trên TBG biểu mô

MTT
TBG
TGF-β
TSP-1
VEGF

Bề mặt nhãn cầu
Đối chứng
Dulbecco-Modifed Eagle Medium
Dimethyl sulfoxide
Epithelial Cell Growth Factor
Yếu tố tăng trưởng tế bào biểu mô
Epidermal growth factor
Yếu tố tăng trưởng biểu bì
Fetal bovine serum (Huyết thanh bào thai bò)
Fibroblast Growth Factor-2
Yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi-2
Phosphate buffered saline (Dung dịch đệm photphat)
Platelet-Derived Angiogenesis Factor
Yếu tố tăng sinh mạch nguồn gốc tiểu cầu
Platelet-Derivedendothelial Growth Factor
Yếu tố tăng trưởng nội mô nguồn gốc tiểu cầu
Platelet-derived growth factor
Platelet factor 4 (Yếu tố 4 tiểu cầu)
Platelet Rich Plasma (Huyết tương giàu tiểu cầu)
Giác mạc
Insulin-Like Growth Factor
Yếu tố tăng trưởng giống Insulin
Keratinocyte Growth Factor
Yếu tố tăng trưởng keratinocyte



DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Tỷ lệ tế bào trong máu và huyết tương giàu tiểu cầu ....................... 3
Hình 1.2: Cấu trúc tiếp cầu (Theo Neumuller) ................................................. 5
Hình 1.3: Nguồ n gố c thu nhâ ̣n TBG và tiề m năng biê ̣t hóa của chúng tương
ứng với các giai đoa ̣n phát triể n của cơ thể..................................................... 15
Hình 1.4: Bánh nhau và màng ối ..................................................................... 17
Hình 2.1: Một số thiết bị trong nghiên cứu ..................................................... 22
Hình 3.1: Hình ảnh kết quả nuôi cấy tăng sinh TBG từ màng ối ................... 27
Hình 3.2: Hình ảnh TBG Biểu mô màng ối sau khi nhuộm giemsa - 200X. .. 28
Hình 3.3: Hình ảnh về mật độ TBG biểu mô màng ối tạo tinh thể formazan
sau khi bổ sung MTT ...................................................................................... 33
Hình 3.4 Vết rạch khả năng di cư của TBG biểu mô màng ối ........................ 38
Hình 3.5: Hình ảnh TBG biểu mô màng ối tạo tinh thể Formazan sau khi bổ
sung MTT. ....................................................................................................... 43


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Kết quả số lượng TBG màng ối sau 48 giờ tiếp xúc PRP .......... 30
Biểu đồ 3.2: Số lượng trung bình TBG màng ối tiếp xúc với 8 mẫu PRP ở các
tỷ lệ pha loãng khác nhau. ............................................................................... 31
Biểu đồ 3. 3: Kết quả đo OD của phản ứng MTT của các mẫu TBG màng ối
sau 48 giờ nuôi cấy bổ sung PRP .................................................................... 35
Biểu đồ 3.4: Biểu đồ kết quả đo OD trung bình phản ứng MTT của các mẫu tế
bào sau 48 giờ tiếp xúc PRP............................................................................ 36
Biểu đồ 3.5: Kết quả số lượng TBG màng ối sau 48 giờ nuôi cấy bổ sung với
dịch chiết nguyên bào sợi ................................................................................ 41
Biểu đồ 3.6: Số lượng trung bình TBG màng ối tiếp xúc với dịch chiết nguyên
bào sợi ở các tỷ lệ pha loãng khác nhau.......................................................... 42

nghiên cứu và ứng dụng trong điều trị cho một số bệnh như thoái hoá khớp,
chấn thương mất tế bào, chấn thương tuỷ sống, các tổn thương mô do bệnh
tiểu đường, bỏng và nhiều bệnh khác. Trong đó, tế bào gốc biểu mô có thể
biệt hóa thành tế bào biểu mô, là tế bào tham gia vào quá trình liền vết thương
và có thể di cư đến vùng tổn thương để thực hiện nhiều khâu trong pha tăng
sinh của quá trình liền vết thương, chúng bao quanh cơ thể như da, mặt trong
các cấu trúc rỗng như ruột, đường hô hấp.
Huyết tương giàu tiểu cầu (Platelet Rich Plasma) được ghi nhận là liệu
pháp tiên tiến trong việc phục hồi các chấn thương cấp tính và mạn tính, đã
được sử dụng trong điều trị, sửa chữa, tái tạo mô trong cơ thể thông qua nhiều
cơ chế khác nhau. Đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng của huyết tương giàu
tiểu cầu, phát hiện khi nuôi cấy tê bào dưới sự có mặt huyết tương giàu tiểu

SVTH: Nguyễn Văn Cường

1

Lớp 13.01


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đỗ Minh Trung

cầu thì nồng độ các nhân tố tăng trưởng và cytokine cao hơn nhiều lần so với
quá trình nuôi cấy thông thường. Điều này cho thấy huyết tương giàu tiểu cầu
có khả năng kích thích sự tái tạo mô và lành hóa vết thương.
Nguyên bào sợi (fibroblasts) là một trong những tế bào tham gia vào quá
trình làm lành vết thương, chúng tạo ra các thành phần đệm gian bào làm nền
cho quá trình biểu mô hoá để tế bào biểu mô bám và trượt trên đó giúp tăng


GVHD: TS. Đỗ Minh Trung

PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Huyết tương giàu tiểu cầu
1.1.1. Định nghĩa
Huyết tương giàu tiểu cầu (Platelet rich plasma - PRP) là một chế phẩm
được chiết xuất từ máu toàn phần. Chế phẩm này bao gồm lượng huyết tương
nhỏ nhưng có độ tập trung tiểu cầu cao. Bình thường số lượng tiểu cầu trong
máu khoảng từ 140,000 đến 400,000 tiểu cầu/μl máu (trung bình 200,000),
trong khi đó số lượng tiều cầu trong PRP cao hơn gấp nhiều lần, từ 2- 8 lần,
so với mức trung bình [29,34].

Hình 1.1: Tỷ lệ tế bào trong máu và huyết tương giàu tiểu cầu
(a: tỷ lệ tế bào trong một cục máu đông; b: tỷ lệ tế bào trong PRP) [16].
Máu là một tổ chức được tạo thành từ chất dịch cơ bản và các yếu tố
hữu hình. Chất dịch cơ bản của máu được gọi là huyết tương (plasma), các
thành phần cơ bản lơ lững trong huyết tương, gồm 3 loại chính là hồng cầu
(erythrocytes); bạch cầu (leukocytes) và các tiểu cầu (platelets). Hồng cầu
chiếm khoảng 94% thành phần tế bào trong máu, chúng có nhiệm vụ chính là
vận chuyển và phân phối oxy cho cơ thể. Bạch cầu chiếm khoảng 6% thành
phần tế bào trong máu là một phần quan trọng của hệ miễn dịch có nhiệm vụ
tiêu diệt các tác nhân gây nhiễm trùng và phát động đáp ứng miễn dịch của cơ

SVTH: Nguyễn Văn Cường

3

Lớp 13.01


(megakaryocytoe) [16,20]. Tiểu cầu trú ngụ trong mạch máu và có nồng độ
cao trong lách. Chu kì vòng đời của tiều cầu từ 5-9 ngày trước khi bị đại thực
bào của hệ thống dưới nội mô. Tiểu cầu có chức năng chính là tham gia vào
quá trình đông- cầm máu và khởi đầu quá trình làm lành vết thương. Về cấu
SVTH: Nguyễn Văn Cường

4

Lớp 13.01


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đỗ Minh Trung

tạo, bên trong tiểu cầu là một siêu cấu trúc phức tạp, chủ yếu gồm một hệ
thống vi quản ở ngoại vi, hệ thống ống dày đặc, ti lạp thể, nhiều hạt (alpha ,
delta- δ, lambda- λ) và hệ thống các kênh mở.
Vùng ngoại vi: là phần ở ngoài cùng, bao gồm kháng nguyên,
glycoprotein và nhiều loại enzyme khác. Vùng này kết nối với các tiểu cầu và
các tế bào khác , trong mạch máu. Lượng lớn protein huyết tương và các yếu
tố đông máu được gắn một cách chắc chắn với bề mặt này. Bên trong màng là
các protein ( hầu hết là glucoprotein và lượng nhỏ carbohydrate). Màng này
bao gồm lớp phospholipid, cholesteron và glycolipid. Glucoprotein có một số
lượng thụ thể đặc hiệu cho các yếu tố đông máu như GPIb (thrombin
receptor) và yếu tố Willerband von. Phức bộ GOIIbIIIa được hình thành từ
glycoprotein Iib và IIIa và hoạt động như một thụ cảm thể fibrinogen. Sự bám
dính tập trung tiểu cầu cùng bởi chính các glycoprotein này [30].

Hình 1.2: Cấu trúc tiếp cầu (Theo Neumuller) [21].

một cơ quan hoặc mô, thường là da, làm lành vết thương là một cơ chế phức
tạp bao gồm: đông máu, viêm, tổng hợp phức chất và chất nền, hình thành
mạch mới, tăng sinh nguyên bào sợi, biểu mô hóa, co vết thương và tổ chức
hóa. Sự hình thành các mạch máu mới là điều thiết yếu để duy trì các mô hạt
mới được thành lập. Hình thành mạch là một quá trình phức tạp dựa trên chất
nền ngoại bào trong nền vết thương cũng như di chuyển và kích thích phân
bào của các tế bào nội mô[8]. Diễn biến liền vết thương đều trải qua các giai
đoạn đông máu, viêm, tăng sinh, tái lập mô và liền sẹo:
- Quá trình viêm: Khi máu thoát khỏi thành mạch bị tổn thương, tiểu cầu
tham gia thực hiện chức năng cầm máu. Lúc này tiểu cầu đã được hoạt hóa
cùng với nhiều tế bào (TB) khác nhau và hạt α của tiểu cầu giải phóng các
yếu tố tăng trưởng và các cytokine[22]. Quá trình này hấp dẫn các TB di
chuyển tập trung đến nơi tổn thương, tăng sinh, biệt hóa và tổng hợp các chất
căn bản.
- Giai đoạn tăng sinh: các mô hoại tử dần bị loại bỏ và được thay thế bởi
mô sống tương tự với mô trước khi bị tổn thương. Giai đoạn tăng sinh của
liền vết thương bắt đầu khoảng ngày thứ 2 đến 3 sau khi bị thương và được
SVTH: Nguyễn Văn Cường

6

Lớp 13.01


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đỗ Minh Trung

báo hiệu bởi sợ vận chuyển đến nơi tổn thương của các nguyên bào sợi vào
trong vết thương. Các nguyên bào sợi di cư từ mép vết thương, mạng lưới


Lớp 13.01


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đỗ Minh Trung

TGF-β còn phối hợp với IGF-1 và BMPs tham gia vào quá trình tổng hợp
chất căn bản của sụn khớp [18]. Các chức năng khác của TGF-β là thúc đẩy,
tạo sự phân bào của nguyên bào sợi và tế bào tiền thân của nguyên bào
xương, mà sau này sẽ biệt hóa thành các tế bào xương trưởng thành, và cũng
để kích thích lắng đọng nguyên bào xương vào chất nền collagen trong những
khu vực chữa bệnh và chất nền mô xương vết thương [25]. TGF-β hoạt động
cả trong một thời trang autocrine và paracrine, làm cho nó một yếu tố tăng
trưởng với chữa bệnh lâu dài và khả năng tái tạo xương [10]. Một số lo ngại
về việc sử dụng TGF-β bởi theo Dieudonne và cộng sự [15] ông nghiên cứu
thấy nó tác động lên tế bào hủy xương trong một quá trình thử nghiệm. Họ kết
luận rằng nồng độ thấp có tác dụng kích thích về sự tăng sinh tế bào xương,
trong khi ở nồng độ cao hơn, tăng sinh bị ức chế.
- Vascular endothelial growth factor (VEGF): yếu tố tăng trưởng nội mô
mạch máu,thúc đẩy hình thành mạch máu. Chúng là một loại protein tín hiệu
nhằm thúc đẩy sự phát triển của các mạch máu mới. VEGF là một phần của
cơ chế để phục hồi các nguồn cung cấp máu đến các tế bào và các mô khi bị
mất máu được oxy hóa do lưu thông máu bị tổn thương.
- Epidermal growth factor (EGF): yếu tố tăng trưởng biểu bì, thúc đẩy
tăng trưởng tế bào và sự biệt hóa, hình thành mạch máu, hình thành collagen.
- PDEGF (platelet-derivedendothelial growth factor): yếu tố tăng trưởng
nội mô nguồn gốc tiểu cầu.
- PDAF (platelet-derived angiogenesis factor): yếu tố tăng sinh mạch

bào dưới sự có mặt PRP đã được hoạt hóa tiểu cầu thì nồng độ các nhân tố
tăng trưởng và cytokine cao hơn nhiều lần giúp tế bào tăng sinh mạnh hơn so
với nuôi cấy thông thường. Do vậy khi đưa PRP vào trong công nghệ tế bào
sẽ rất có tiềm năng ứng dụng lớn trong nghiên cứu cũng như điều trị lâm sàng
đối trong y học tái tạo.
1.1.3. Ứng dụng của PRP trong điều trị
Từ những năm 2000, PRP đã được sử dụng rộng rãi trong ngành chấn
thương chỉnh hình về việc hỗ trợ điều trị làm tăng khả năng chữa bệnh trong
ghép xương và gãy xương và PRP đã được khuyến khích việc sử dụng hỗ trợ
điều trị trong các chấn thương thể thao để sửa các mô liên kết. Năm 2006
Mishra, Pavelko và cộng sự ở Trường Đại học Stanford đã công bố công trình
nghiên cứu về việc sử dụng PRP cho các vấn đề về gân [24]. Tiếp đó PRP
được chấp nhận và ứng dụng rộng rãi hơn trên thế giới với nhiều nghiên cứu
cho thấy hiệu quả của việc sử dụng PRP như điều trị cho một số bệnh về chấn
thương dây chằng, thoái hóa khớp gối dây chằng, cơ, viêm dây chằng đùi và
bệnh chấn thương gân cơ khớp quay [35,38].

SVTH: Nguyễn Văn Cường

9

Lớp 13.01


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đỗ Minh Trung

PRP tự thân lần đầu tiên được sử dụng trong phẫu thuật tim trong công
trình của Ferrari và cộng sự năm 1987 [17], PRP tự thân được sử dụng bằng


Lớp 13.01


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đỗ Minh Trung

cánh tay, viêm lồi củ xương chày, viêm gân gót, bệnh lý rách gân bao xoay,
đứt dây chằng chéo khớp gối. Kết quả cho thấy PRP kích thích làm lành vết
thương phần mềm cũng như làm nhanh liền xương trong phẫu thuật… Đặc
biệt từ khoảng 5-7 năm trở lại đây, PRP tự thân đã được nghiên cứu sử dụng
rất nhiều trong điều trị các bệnh lý có tổn thương sụn khớp nói chung và thoái
hóa khớp gối nói riêng cho kết quả khả quan cùng rất ít tác dụng phụ. Khi sử
dụng PRP, sự tập trung các yếu tố tăng trưởng ở một đơn vị thể tích cho thấy
PRP kích thích hoạt động các tế bào tại chỗ làm tăng nhanh quá trình tái tạo
sụn khớp một cách liên tục. Kỹ thuật này có chi phí thấp và không có tác
dụng phụ đối với bệnh nhân [30]. Theo kết quả của Kon và cộng sự ở 115
bệnh nhân viêm khớp gối đã điều trị bằng PRP, kết quả cho thấy thể hiện sự
cải thiện chức năng một cách tích cực, có sự tăng sinh tế bào sụn và có hiệu
quả rõ rệt trên lâm sàng ở thoái hóa khớp gối [22].
1.2. Nguyên bào sợi và vai trò của nguyên bào sợi trong liền vết thương
Mô liên kết là mô tạo ra và giữ cho cơ thể có hình dạng nhất định, đồng
thời mô liên kết giữ nhiều vai trò quan trọng và đa dạng đối với cơ thể như
trao đổi chất, bảo vệ và tổng hợp các chất có hoạt tính sinh học. Khác với các
mô khác (mô cơ, thần kinh, biểu mô) mô liên lết có khoảng gian bào rộng
chứa chất căn bản và các sợi liên kết. Vùng trong chất gian bào đó là nhiều
loại tế bào khác nhau. Nhiều tế bào đã biệt hóa trong cơ thể trưởng thành có
thể tạo thành nhóm mà các phần tử trong nhóm có liên quan mật thiết với
nhau ở những vùng như mô hay những đặc tính của các phần tử có liên quan

kết. Chúng phân tán khắp nơi trong cơ thể, tiết ra chất nền ngoại bào một cách
linh động giàu collagen kiểu I và kiểu III. Khi mô liên kết bị hủy, nguyên bào
sợi gần như di chuyển vào bên trong vết thương, tăng trưởng và tạo ra một
lượng lớn chất nền collagen giúp cho việc tái lập và sửa chữa mô bị tổ
thương. Khả năng phát triển nhanh trong bề mặt của mô bị tổn thương lý giải
phần nào chúng là loại tế bào dễ phát triển trong điều kiện nuôi cấy in vitro,
đây là một nét đặc trưng của dòng tế bào này trong sinh học tế bào.
Các vết thương khó lành, vết thương mạn tính có đặc điểm là giảm số
lượng và chức năng của các nguyên bào sợi. Sử dụng nguyên bào sợi đồng
loại nuôi cấy đã được chứng minh có tác dụng tốt trong điều trị một số loại
vết thương mạn tính vốn không liền bằng các biện pháp điều trị truyền thống
[9]. Tuy nhiên việc sử dụng tấm nguyên bào sợi da đồng loại nuôi cấy có
nhiều hạn chế về điều kiện nuôi cấy, bảo quản, vận chuyển, mặt khác giá
thành của các sản phẩm này là rất cao. Do đó nghiên cứu chế tạo các sản
phẩm sinh học quá trình nuôi cấy nguyên bào sợi có tác dụng điều trị, dễ bảo
quản, vận chuyển và sử dụng, có giá thành hợp lý là một hướng nghiên cứu
phù hợp. Nghiên cứu của Chu Anh Tuấn và cộng sự năm 2012 đã chứng minh
SVTH: Nguyễn Văn Cường

12

Lớp 13.01


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đỗ Minh Trung

tác dụng của dịch chiết nguyên bào sợi nuôi cấy từ da người có chứa các
thành phần ngoại tiết của nguyên bào sợi: collagen, các yếu tố phát triển như


Lớp 13.01


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đỗ Minh Trung

Có nhiều cách phân loại và gọi tên TBG khác nhau tuỳ theo tiêu chí
phân loại, ví dụ như dựa trên nguồn gốc, thời điểm phân lập và tiềm năng biệt
hoá... Có thể chia các TBG theo nhiều cách như sau:
-TBG phôi (enbryonic stem cell): là các TBG từ phôi, được phân lập từ
phôi (bất kỳ phần nào của phôi, không giới hạn chỉ vào các tế bào của khối tế
bào bên trong phôi nang), là các TBG toàn năng hoặc vạn tiềm năng. Để có
được các tế bào này thường phải hủy phôi. Đã có những thông báo sinh thiết
phôi lấy ra một số tế bào của phôi sau đó phôi vẫn phát triển bình thường.
Tuy nhiên còn nhiều nghi ngại về tính an toàn của kỹ thuật này đối với phôi
được sinh thiết, đặc biệt là sinh thiết khối tế bào bên trong của phôi nang để
có được các TBG phôi “kinh điển”.
- TBG thai (fetal stem cell): được phân lập từ các mô của thai sau nạo
phá thai, thường là đa tiềm năng hoặc vạn tiềm năng. Việc nghiên cứu và sử
dụng các tế bào này có ảnh hưởng khá nặng nề về đạo đức nghiên cứu, nên
thường chỉ giới hạn vào mục đích tìm hiểu quá trình phát triển phôi thai.
- TBG nhũ nhi (infant stem cell): được phân lập từ trẻ sơ sinh hoặc các
phần phụ của thai như dây rốn, nhau thai, màng ối, dịch ối… Các tế bào này
thường là đa tiềm năng hoặc vạn tiềm năng. Tùy theo cách thu thập có thể ảnh
hưởng hoặc không ảnh hưởng đến đối tượng cho tế bào. Chọc dịch ối trước
khi sinh hoặc chọc tĩnh mạch dây rốn trước sinh để lấy để lấy TBG của em bé
có trong dịch ối hoặc trong máu dây rốn có những nguy cơ của các kỹ thuật
này là nhiễm trùng, chảy máu, sẩy thai hoặc đẻ non… Tuy nhiên, lấy máu dây

thể là sinh thiết để lấy một miếng da nhỏ.
- TBG ung thư (cancer stem cell): được phân lập từ các khối u. Các
TBG này được coi là nguồn gốc của khối u.

Hình 1.3: Nguồ n gố c thu nhận TBG và tiềm năng biê ̣t hóa của chúng
tương ứng với các giai đoa ̣n phát triể n của cơ thể
(Nguồ n: />
SVTH: Nguyễn Văn Cường

15

Lớp 13.01


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Đỗ Minh Trung

Những nghiên cứu về TBG đã chứng minh, hàng ngày cơ thể chúng ta
thay thế những tế bào già chết là do nguồn TBG biệt hoá thành những tế bào
chức năng bổ sung vào khi bị thiết hụt những tế bào đó. Khi bị thương các
TBG từ các ổ (niche) có thể ở gần vết thương hoặc từ các mô khác nhau… sẽ
di cư đến và biệt hoá thành các tế bào chuyên biệt có chức năng liền vết
thương. Khi nguồn TBG này không đủ đáp ứng với những tổn thương tế bào
do tổn thương diện tích rộng, do cơ thể bị suy yếu… thì hậu quả là gây ra
những vết thương vết loét lâu lành, thậm chí không liền được. Do đó công
nghệ TBG đang mang lại những hy vọng lớn trong việc khắc phục và hỗ trợ
trong điều trị hiện nay đặc biệt trong điều trị liền vết thương.
Mỗi loại TBG kể trên có tiềm năng biệt hoá khác nhau và do vậy triển
vọng ứng dụng khác nhau. Việc phân lập và duy trì mỗi loại TBG này cũng

ối. Màng ối dai, chắc và có tính đàn hồi, có khả năng ngăn cản các loại vi
khuẩn, đồng thời tạo môi trường sống cho thai, bảo vệ thai tránh các tác động
cơ học, áp suất... Hơn nữa, màng ối còn có khả năng trao đổi khí và lọc cơ
học [4]. Màng ối là màng mỏng trong suốt, có tính đàn hồi tốt, bao gồm lớp
màng đáy và trên màng đáy là hàng tế bào biểu mô. Màng ối được phát triển
từ các TBG phôi, và các tế bào ối đã được chứng minh để thể hiện tiềm năng
với nhiều sự khác biệt.
Màng ối thu nhận được chỉ sau khi được bóc tách khỏi nhau thai, nhau
thai được coi là rác thải y tế, là nguồn cung cấp tê bào gốc lý tưởng, các TBG
biểu mô được phân lập từ màng ối, có tính sinh miễn dịch thấp, không có khả
năng ung thư hóa và có khả năng biệt hóa thành nhiều loại tế bào khác nhau
[5]. Giống với nhiều loại TBG hay một số loại TBG trưởng thành khác, sự
biểu hiện của kháng nguyên lớp I chuỗi nặng myosin rất thấp trên TBG biểu
mô màng ối điều này có ỹ nghĩa trong điều trị. Các tế bào epiblast tạo ra màng
ối cũng như tất cả ba lá mầm của phôi. Trên bề mặt của màng đáy thuộc màng
ối người ta cũng thấy sự có mặt của các mối liên kết hemidesmosome α6β4,
các mối liên kết này có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cho quá trình phát
triển và kết dính các tế bào biểu mô trên màng đáy [2].

SVTH: Nguyễn Văn Cường

17

Lớp 13.01



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status